Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu, 2011

Biểu trưng / logo chính thức của thủ đô Hà Nội do ai thiết kế? Điều đáng chú ý: người đó còn thiết kế biểu trưng chính thức cho phố cổ Hội An.

 

T

ừ điển bách khoa mở Wikipedia định nghĩa: “Biểu trưng hay logo là một yếu tố đồ hoạ (kí hiệu, chữ biểu thị, biểu tượng, hình tượng…) kết hợp với cách thức thể hiện nó tạo thành: một nhãn hiệu hay thương hiệu, hình ảnh đại diện cho một công ty hay các tổ chức phi thương mại, hình ảnh biểu thị một sự kiện, một cuộc thi, một phong trào hay một cá nhân nào đó”.

Cũng cần thêm rằng biểu trưng / logo còn có từ đồng nghĩa là biểu tượng. Chẳng hạn 5 vòng tròn cùng kích thước, đan lồng vào nhau, mà 3 vòng hàng trên màu xanh, đen, đỏ, 2 vòng hàng dưới màu vàng và lục, ấy là logo / biểu trưng / biểu tượng của phong trào Olympic / Thế vận hội do vị Nam tước người Pháp là Pierre Frèdy de Coubertin (1863 – 1937) đề xướng năm 1913.

Biểu tượng Olympic / Thế vận hội

Khắp thế giới, mỗi quốc gia đều có biểu trưng chính thức: quốc huy bên cạnh quốc ca và quốc kỳ. Với ngôi sao vàng 5 cánh trên nền đỏ, chùm bông lúa vàng, bánh xe công nghiệp màu vàng, quốc huy Việt Nam được Quốc hội khoá 1 phê chuẩn từ năm 1955 là do họa sĩ Bùi Trang Chước thiết kế và hoạ sĩ Trần Văn Cẩn chỉnh sửa.

Các đô thị cũng có biểu trưng. Thông thường, đó là huy hiệu lâu đời, như Paris(Pháp), Roma (Ý), Berlin (Đức), Bern (Thuỵ Sĩ), Stockholm (Thuỵ Điển), Amsterdam (Hà Lan), Copenhagen (Đan Mạch), Hensinki (Phần Lan), Oslo (Na Uy), Beograd (Serbia), Tirana (Albania), Bucharest (Romania), Dublin (Ireland), Warszawa (Ba Lan), Kiev (Ukraina), Buenos Aires (Argentina). Một số trường hợp lại dùng khuôn dấu như Wien (Áo), Brussel (Bỉ), Madrid (Tây Ban Nha), Sofia (Bulgaria), La Paz (Bolovia), Lagos (Nigeria), Algiers (Algérie), Brazilia (Brazil), Lima (Peru), San Juan (Puerto Rico), Washington D.C. (Hoa Kỳ). Thế nhưng, có những đô thị chọn lựa biểu trưng chính thức theo phong cách hiện đại, như Tokyo (Nhật Bản) từ tháng 6-1989 đến nay dùng biểu trưng là sự phối hợp 3 hình cung tạo dáng chiếc lá cây ginkgo / bạch quả màu lục.

Biểu trưng thành phố Tokyo, thủ đô Nhật Bản

Hà Nội với logo gác Khuê Văn

Năm 1997, UBND TP Hà Nội mở cuộc thi thiết kế biểu trưng cho vùng núi Nùng – sông Nhị theo hệ thống tiêu chuẩn:

* Thể hiện được loạt đặc điểm của đô thị Hà Nội nghìn tuổi: trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của cả nước; đang vươn tới một thủ đô văn minh, hiện đại.

* Có tính thẩm mỹ, trang trọng, hiện đại, mang bản sắc Việt Nam.

* Thuận tiện đối với việc vẽ, in, đắp nổi trên các chất liệu giấy, gỗ, kim loại, gốm sứ.

Hội đồng thẩm định được thành lập – gồm một số hoạ sĩ tài danh, nhà sử học, nhà nghiên cứu văn hoá – nhằm tuyển chọn tác phẩm.

Phanxipăng trước gác Khuê Văn. Ảnh: Minh Ngọc

Đến tháng 10-1997, sau 5 tháng phát động, cuộc thi nhận 207 mẫu của 143 tác giả. Hội đồng chọn được 8 mẫu, song nhận thấy chẳng mẫu nào đạt đầy đủ yêu cầu mà hệ thống tiêu chuẩn đã nêu, do đó đề nghị UBND TP Hà Nội cho tiếp tục cuộc thi.

Cuộc thi đợt nhì bắt đầu từ tháng 11-1997, đến tháng 2-1998 thì nhận 85 mẫu của 49 tác giả. Hội đồng chọn được 3 mẫu, nhưng kết quả cũng đáng buồn tương tự đợt trước.

Sau khi tổ chức cuộc trưng bày các mẫu dự thi để nhân dân đóng góp ý kiến, UBND TP Hà Nội phát động đợt 3 cuộc thi từ tháng 5 đến tháng 8-1998. Đợt này có 136 mẫu của 45 tác giả. Hội đồng chọn được 3 mẫu. Qua nhiều kỳ họp, Hội đồng quyết định bỏ phiếu vào tháng 4-1999. Kết quả cao nhất là 10/11 phiếu chọn lựa mẫu thể hiện gác Khuê Văn trong vòng tròn bằng đường nét cách điệu, giản dị, khoẻ, đẹp.

Tác giả của biểu trưng Hà Nội đoạt giải nhất là ai? Trong tập 1 Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2000, trang 126) và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2009, trang 718), Nguyễn Vinh Phúc ghi nhận: “Tác giả Phạm Minh Tuấn, ngoài sáu mươi tuổi, người gốc Hà Nội, ở phố Bát Đàn, từng học ở trường Mỹ Thuật Hà Nội và sau đó sang Pháp học vẽ rồi dạy vẽ”.

Kỳ thực, người đó chẳng phải Phạm Minh Tuấn, mà là Phạm Ngọc Tuấn.

Biểu trưng Hà Nội do Phạm Ngọc Tuấn thiết kế

Vài nét về giáo sư hoạ sĩ Phạm Ngọc Tuấn

Phạm Ngọc Tuấn chào đời tại Hà Nội năm Kỷ Tị 1929. Học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội chỉ một niên khoá 1945 – 1946, đến năm 1949 thì sang Pháp học trường Cao đẳng Nghệ thuật trang trí ở Paris. Tại thủ đô nước Pháp, Phạm Ngọc Tuấn làm hoạ sĩ truyền thông cho hãng Publiais giai đoạn 1956 – 1960, cho hãng Dupuy giai đoạn 1960 – 1963, rồi làm giám đốc nghệ thuật hãng Havas giai đoạn 1963 – 1969, cố vấn nghệ thuật cho tập san Marie Claire giai đoạn 1970 – 1971. Năm 1981, cùng Maryse Eloy sáng lập trường Mỹ thuật Maryse Eloy ở Paris, Phạm Ngọc Tuấn làm hiệu trưởng cơ sở giáo dục này. Phạm Ngọc Tuấn đã nhiều lần triển lãm tranh cá nhân tại Pháp, Thuỵ Sĩ, Bỉ, Ý.

Phạm Ngọc Tuấn cho biết:

– Là con dân Hà Nội nên tôi rất muốn đóng góp xây dựng thủ đô. Được biết có cuộc thi thiết kế biểu trưng Hà Nội, tôi suy nghĩ nhiều để sáng tác. Tôi đã vẽ hàng trăm phác thảo trong vòng 1 năm. Tôi nghĩ phải vẽ thế nào mà giữ được vẻ đẹp công trình văn hoá dân tộc, nhưng logo phải mang tính hiện đại.

Phạm Ngọc Tuấn quyết định chọn gác Khuê Văn làm đối tượng miêu tả. Đó là lầu vuông 8 mái được Tổng trấn NguyễnVăn Thành (1758 – 1817) chỉ đạo xây dựng năm Ất Sửu 1805, niên hiệu Gia Long thứ tư, trong khuôn viên Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Giáo sư hoạ sĩ Phạm Ngọc Tuấn phát biểu:

– Theo tôi, Khuê Văn Các thể hiện trí tuệ, văn hoá Hà Nội và Việt Nam.

Hội An với logo chùa Cầu

Biểu trưng Hà Nội là gác Khuê Văn thì biểu trưng Hội An là chùa Cầu. Năm 2004, Phạm Ngọc Tuấn suy nghĩ thế khi được UBND thị xã Hội An (từ năm 2008 là thành phố) mời thiết kế logo cho đô thị cổ bên bờ sông Hoài.

Rock đùa nghịch bên chùa Cầu. Ảnh: Phanxipăng

Chùa Cầu – tên chữ là Lai Viễn Kiều do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đặt vào năm Kỷ Hợi 1719 – được các thương nhân Nhật Bản xây dựng từ thế kỷ XVII, đoạn trải qua lắm lần trùng tu tôn tạo. Công trình này luôn giữ vị trí trọng yếu trong kho tàng tục ngữ, ca dao lưu truyền ở vùng đất này, chẳng hạn Thượng chùa Cầu, hạ Ông Bổn và:

Ai xa phố Hội, chùa Cầu,

Để thương để nhớ để sầu cho ai?

Để sầu cho khách vãng lai,

Để thương để nhớ cho ai chịu sầu.

Phác thảo 18 mẫu logo Hội An, Phạm Ngọc Tuấn đều tập trung thể hiện chùa Cầu bằng những kiểu khác nhau. Sau khi trưng bày để nhân dân – nhất là các nhà khoa học và văn nghệ sĩ – góp ý, một mẫu với khung hình tròn (khi cần có thể biến nên oval) đã được chọn lựa làm biểu trưng chính thức.

Biểu trưng Hội An do Phạm Ngọc Tuấn thiết kế

Tương tự biểu trưng Hà Nội, hoạ sĩ Phạm Ngọc Tuấn thiết kế biểu trưng Hội An dẫu sử dụng đối tượng miêu tả là công trình xưa cũ song quy cách thiết kế logo lại biểu lộ vẻ đẹp hiện đại. ♥

Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 899 (30-8-2010)

Read Full Post »

Sinh nhật thứ 1000

Năm 2000, từ thủ đô, Phanxipăng thực hiện 3 kỳ phóng sự Sinh nhật thứ 990 đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ 129 – 131. Nay, cũng từ thủ đô, Phanxipăng tiếp tục phản ánh về đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội diễn tiến từ ngày 1 đến ngày 10-10-2010.

Phanxipăng trước tượng đài vua Lý Thái Tổ của nhà điêu khắc Vi Thị Hoa dịp đại lễ. Ảnh: Quế Chi

G

 hé thăm “băm sáu phố phường” (1) vào cuối tháng 9-2010, tất cả những ai từng gắn bó ít nhiều với Hà Nội thảy đều nhận ngay ra rằng toàn thủ đô đồng loạt chuyển mình đổi khác. Cả thành phố hào hứng chuẩn bị đại lễ 1000 năm Thăng Long, tính từ lúc Lý Công Uẩn / Lý Thái Tổ ban Chiếu dời đô rồi chuyển kinh đô từ thành Hoa Lư về thành Đại La (2). Có thể xem đó là sinh nhật tròn nghìn.

Trên mọi tuyến đường và trước cổng mọi cơ quan, bandrole cùng affiche mang nội dung Hân hoan chào mừng đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội được thể hiện bằng nhiều hình thức khá sinh động. Vỉa hè chợt thêm bao bồn hoa tươi hoặc hoa nhựa, hoa vải, hoa giấy. Chỗ nọ dựng sân khấu, chỗ kia trang trí phòng triển lãm. Và vô số doanh nghiệp, từ siêu thị tới quán nhậu, nhanh chóng tung lắm chiêu tiếp thị với sắc màu cùng giọng điệu nghìn năm một thuở. Quà lưu niệm dịp sinh nhật thứ 1000 của kinh kỳ bán cho mọi người quá đa dạng, từ chiếc bandeau thắt ngang trán và áo pull / phông in dòng chữ I ♥ Hanoi / Tôi yêu Hà Nội hoặc Hà Nội trong tim tôi đến tranh, phù điêu, tượng tròn to nhỏ được chế tạo bằng rất nhiều chất liệu. Hàng loạt ấn phẩm tập trung thể hiện chủ đề hướng về Thăng Long tròn thiên niên kỷ đã chiếm số lượng khổng lồ. Dễ dàng xác nhận điều ấy khi ghé vào quày báo, nhà sách, hoặc ngắm nghía các tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến trong Thư viện Quốc gia. Nếu chỉ thống kê thư tịch, ắt đủ in cả cuốn sách dày.

Một góc Hà Nội nhìn từ đỉnh Kỳ Đài. Ảnh: Phanxipăng

Ban Thi đua khen thưởng TP. Hà Nội công bố danh sách 10 công dân thủ đô ưu tú: Vũ Khiêu, Phan Huy Lê, Hoàng Vĩnh Giang, Trần Mai Anh, Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Lê Anh Tuấn, Lê Văn Bằng, Vũ Ngọc Minh, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Đắc Hải. Trường hợp ngoại lệ xảy ra khi GS. Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields và trở thành công dân thủ đô ưu tú thứ 11.

Đáng chú ý là hàng loạt công trình được cắt băng khánh thành với tấm biển “kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội” như đại lộ Thăng Long, cầu Vĩnh Tuy, trạm bơm Yên Sở, trụ sở Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC), khách sạn 5 sao Grand Plaza Hanoi, Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội, Trung tâm Phát thanh quốc gia (Đài Tiếng nói Việt Nam), chợ Hàng Da, chợ Cửa Nam, rạp Công Nhân, rạp Đại Nam, làng văn hoá – du lịch các dân tộc Việt Nam, công viên Hoà Bình, khu du lịch sinh thái An Khánh, tượng đài Thánh Gióng, bảo tàng Hà Nội, thư viện Hà Nội, cung Trí thức, trường phổ thông năng khiếu thể dục thể thao, Trung tâm đào tạo vận động viên cấp cao, v.v.

Bộ tem bưu chính 1000 năm Thăng Long – Hà Nội: xây dựng và phát triển do hoạ sĩ Tô Minh Trang thiết kế được trang trọng phát hành. Cuộc thi thơ viết về Hà Nội do báo Văn Nghệ cùng Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội tổ chức, giải nhất thuộc Nguyễn Phan Quế Mai (3) với chùm thơ Hà Nội, Những ngôi sao hình quang gánh, Ta phố. Bài thơ Hà Nội bắt đầu lẫn kết thúc bằng đôi dòng:

Tôi không được sinh ra và lớn lên trong Hà Nội

Hà Nội tự sinh và tự lớn trong tôi

Hà Nội tháng 10-2010 tràn ngập Chiếu dời đô được thể hiện bằng nhiều kiểu cách. Ảnh: Phanxipăng

Hạnh phúc & tự hào thắp nến

Thứ sáu 1-10-2010 nhằm 24 tháng 8 Canh Dần. Sớm tinh mơ, một trận mưa phủ trùm Hà Nội khiến thiên hạ xôn xao:

– Trung tâm Khí tượng thuỷ văn quốc gia với “dị nhân” Nguyễn Vũ Tuấn Anh, bên nào dự báo thời tiết đúng nhỉ?

May thay, đó là mưa rửa đền, chỉ chốc lát rồi tạnh. 6 giờ, đông đảo người dân thủ đô cùng khách khứa đến từ tất cả tỉnh thành trong cả nước và khách ngoại quốc tề tựu đông chật quanh hồ Hoàn Kiếm. Có một số người bị dị tật vì nhiễm chất độc màu da cam cũng được thân nhân đưa tới.

Tại vườn hoa Lý Thái Tổ, giữa tràng nhạc lễ bằng trống, cồng, chiêng, ông Nguyễn Phú Trọng – Chủ tịch Quốc hội – trân trọng châm ngọn lửa thiêng lên hoả đài lúc 8 giờ. Ngọn nến sinh nhật thứ 1000 toả sáng.

Kế tiếp, ông Phạm Quang Nghị – Bí thư Thành uỷ Hà Nội – đọc diễn văn khai mạc: 

– Cuộc dời đô lịch sử từ vùng đất Hoa Lư núi non trùng điệp về trung tâm châu thổ sông Hồng là bước trưởng thành vượt bậc của dân tộc Việt Nam, khẳng định ý chí xây nền độc lập, thống nhất quốc gia, mở ra kỷ nguyên phát triển mới của nước Đại Việt. Lịch sử 1000 năm Thăng Long – Hà Nội không ngừng được bồi đắp bằng những kỳ tích oai hùng. Trải qua biết bao biến cố thăng trầm, nước Đại Việt không ngừng lớn mạnh. (…) Với tất cả lòng tự hào, niềm hạnh phúc và trách nhiệm lớn lao, tôi xin long trọng tuyên bố khai mạc 10 ngày đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội!

Bà Irina Georgieva Bokova – nữ chính trị gia Bungary, đương kim Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization: UNESCO) – và bà Katherine Muller Marin – người Costa Rica, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Việt Nam – trao tận tay ông Nguyễn Thế Thảo – Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) TP Hà Nội – tấm bằng chứng nhận trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá thế giới.

Bà Irina Georgieva Bokova – Tổng Giám đốc UNESCO – trao tận tay ông Nguyễn Thế Thảo – Chủ tịch UBND TP Hà Nội – bằng chứng nhận trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá thế giới

Tươi tắn trong chiếc áo dài Việt Nam, bà Bokova phát biểu:

– Rất ít quốc gia trên thế giới có thể giữ gìn được ký ức sống động về việc lập đô từ 1000 năm trước mà không bị mai một qua thời gian. Tôi vô cùng ngưỡng mộ các bạn về điều này. Việc công nhận khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long là di sản văn hoá thế giới vừa vinh dự, vừa mang đến những cam kết đầy trách nhiệm mới với tất cả các bạn. Kể từ hôm nay, các bạn phải có trách nhiệm với nhân loại trong việc quảng bá, bảo vệ, và truyền lại di sản này cho thế hệ tương lai. 

Nghìn con chim bồ câu vụt bay vào trời xanh từ quả cầu hình trái đất, thể hiện ước vọng hoà bình của thành phố vì hoà bình. Lúc ấy là 9 giờ rưỡi, kết thúc phần nghi lễ. 

Buổi sáng thắp nến sinh nhật thứ 1000 của thủ đô có gì đặc biệt? Có ít nhất đôi hiện tượng. Thứ nhất, trên không trung chợt xuất hiện đám mây với hình dáng hao hao rồng thời Lý vẫy vùng uốn lượn. Đã có người – chẳng hạn “nhà rùa học” Hà Đình Đức và Nguyễn Song Trường – mau mắn quay phim, chụp ảnh đám mây nọ. Thứ nhì, rùa hồ Gươm nổi lên mặt nước và bơi một số vòng. Khá đông người trầm trồ:

– Cụ rùa nổi lên đúng ngày khai hội 1000 năm Thăng Long. Quá linh hiển!

Dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, rùa hồ Gươm nổi mấy lần

Triển lãm đa dạng

Chiều thứ hai 1-10-2010, Trung tâm Văn hoá nghệ thuật Việt Nam (2 Hoa Lư, Q, Hai Bà Trưng) mở triển lãm 10.000 tác phẩm văn học nghệ thuật qua các thời kỳ. Mỗi hội chuyên ngành – Hội Nhà văn, Hội Mỹ thuật, Hội Nhạc sĩ, Hội Nghệ sĩ sân khấu, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh, Hội Nghệ sĩ múa, Hội Kiến trúc sư, v.v – đều có gian trưng bày riêng nhằm giới thiệu loạt thành quả mang những đặc trưng hấp dẫn mọi người.

Cũng chiều ấy, triển lãm ảnh nghệ thuật Hà Nội – thành phố nghìn năm đồng khai mạc tại 2 địa điểm: vườn hoa Quốc Tử Giám thuộc quận Đống Đa, nhà số 45 phố Tràng Tiền thuộc quận Hoàn Kiếm. Cuộc trưng bày 1000 tác phẩm “khoảnh khắc ánh sáng” này do Hội Nhiếp ảnh nghệ thuật Hà Nội phối hợp với Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức. Lắm tác phẩm khiến người xem xao xuyến, như Xem Chiếu dời đô của Tiến Bách, Thu Hà Nội của Quang Tuấn, Đồng điệu của Kim Mạnh, Dáng xưa của Nguyễn Hữu Vinh, Hà Nội phố của Hà Thạch An, Mái phố của Trần Thị Nguyệt Ánh, v.v. 50 nhiếp ảnh gia tài hoa đã được trao giải thưởng đồng hạng, trong đó có Lê Vượng, Hữu Nền, Mai Nam, Đinh Quang Thành, Nguyễn Quang Phùng, v.v.

Phanxipăng thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Ảnh: Minh Ngọc

Cũng chiều ấy, Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam (148 Giảng Võ, Q. Ba Đình) khai mạc triển lãm Thành tựu kinh tế – xã hội Việt Nam và Thăng Long – Hà Nội với tổng diện tích trưng bày 12.000m2. Cuộc triển lãm này do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức, giới thiệu bao thành tựu văn hoá, xã hội, kinh tế, y tế, giáo dục ở mọi tỉnh thành trên toàn quốc, tất nhiên thủ đô dịp này được ưu ái nhấn mạnh.

Sáng thứ ba 2-10-2010, tại trung tâm Hoàng thành Thăng Long (9 và 18 Hoàng Diệu, Q. Ba Đình), đợt trưng bày Hiện vật lịch sử 1000 năm Thăng Long – Hà Nội thu hút lượng khách trong lẫn ngoài nước đông đảo đến mức… quá tải. Nhiều người trước kia đã thăm Cửa Bắc / Chính Bắc Môn và Hậu Lâu / Tĩnh Bắc Lâu / Lầu Công Chúa, song đây là lần đầu dạo gót trên Đoan Môn / Ngũ Môn Lâu, sân Long Trì, nền điện Kính Thiên, nhà D67 (đại bản doanh của quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975), cùng khu vực mà các chuyên gia khảo cổ học khai quật. Thật xúc động khi tận mắt ngắm nghía loạt hiện vật xuất xứ từ những triều đại quân chủ xa xưa: Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Thêm chùm ảnh tư liệu Thành Hà Nội thế kỷ XIX do ông Oliver Tessier, nghiên cứu viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, thu thập từ nhiều nguồn và triển lãm càng khiến lắm kẻ rưng rưng lúc ngắm nghía những cảnh quan của quá khứ đã bị xoá bỏ, những công trình của tiền nhân đã bị triệt tiêu.

Phanxipăng viếng Hoàng thành Thăng Long dịp được UNESCO công nhận di sản văn hóa thế giới. Ảnh: Quế Chi

Một trong những điều mà người viết bài này cảm thấy thú vị: thoải mái vào 3 tầng Kỳ Đài (cột cờ Hà Nội được xây vào giai đoạn 1805 – 1812 thời vua Gia Long), leo 54 bậc thang xoắn trôn ốc lên đỉnh là lầu bát giác, cao 30,1m, chĩa ống kính máy ảnh khắp 8 phương.

Thư viện quốc gia (31 Tràng Thi, Q. Hoàn Kiếm) trưng bày 94 đầu sách thuộc các lĩnh vực địa lý, kinh tế, văn học nghệ thuật, lịch sử, văn hóa xã hội, tư liệu tổng hợp trong tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến. Tổng giám đốc NXB Hà Nội là ông Nguyễn Khắc Oánh cho biết:

– Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến được triển khai dự án từ tháng 9-2006. NXB Hà Nội sẽ tiếp tục xây dựng và đề xuất triển khai giai đoạn 2 của dự án, chú trọng đến sự phát triển của Hà Nội với phạm vi không gian mở rộng.

Chiều thứ tư 4-10-2010, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (25 Tông Đản, Q. Hoàn Kiếm) mở triển lãm Anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá Việt Nam. Thực tế, đó là tên 1 trong 3 phần triển lãm. 2 phần kia là Việt Nam đất nước con ngườiThăng Long – Hà Nội. Còn Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam (28 A Điện Biên Phủ, Q. Ba Đình) khai mạc triển lãm Những trận đánh và chiến dịch nổi tiếng trong lịch sử quân sự Việt Nam. Văn Miếu – Quốc Tử Giám rộn ràng triển lãm và liên hoan Thư pháp Thăng Long – Hà Nội. Sản phẩm độc đáo cần nêu: Thiên đô chiếu / Chiếu dời đô được thể hiện bằng đồng mạ vàng 9999, mỗi chữ Hán cao 10cm, được bắt boulon vào 12 tấm gỗ hương quý hiếm, riêng khung gỗ có kích thước 4,58 x 3,85m, tổng trọng lượng xấp xỉ 5 tấn. Công trình nọ do hoạ sĩ kiêm điêu khắc gia Trần Tuy thiết kế mẫu, nhà thư pháp kiêm lương y Nguyễn Văn Bách viết chữ Hán, nghệ nhân Thế Long gò đồng. Một kỷ lục Việt Nam được xác lập.

Chiều thứ năm 5-10-2010, khai mạc triển lãm Nghề gốm Bát Tràng cổ truyền và hiện đại tại quận Gia Lâm. “Vua men gốm” Bát Tràng là nghệ nhân Trần Độ thành viên trong ban tổ chức triển lãm – nói với tôi:

Trên cơ sở nghề nghiệp được tiền nhân lưu truyền, các thế hệ hậu duệ càng cố gắng trau dồi thêm rất nhiều để có thể gốm hóa nhiều sản phẩm. Triển lãm này giới thiệu tượng đức vua Lý Thái Tổ, Thiên đô chiếu bằng chữ Hán, tranh vẽ một số phong cảnh và con người Hà Nội xưa lẫn nay. Tất cả đều bằng gốm. Ấy là chưa kể bát đĩa, ly cốc, bình lọ bằng gốm có nhiều hình ảnh Hà Nội. Cùng với các tác phẩm tham gia triển lãm này, Trần Độ còn trân trọng biếu linh vật thần kim quy, tức cụ rùa bằng gốm, cho TP. Hà Nội nữa đấy.

Sáng thứ sáu 6-10-2010, Cung Văn hóa lao động Hữu Nghị mở triển lãm Những tấm lòng với Thăng Long – Hà Nội nhằm giới thiệu loạt tặng vật đa dạng và tinh xảo do nhiều tổ chức, cá nhân trong lẫn ngoài nước dành cho Kẻ Chợ: đàn nón của nghệ nhân Phạm Chí Bích Từ, chiếc áo dài kết bằng tóc của nhà tạo mẫu Nguyễn Thị Kim Quý, giày cỡ 1000 với chiều cao gót là 71cm của Phạm Quốc Thắng, chuông đồng Thăng Long tứ trấn của Hiệp hội làng nghề Bắc Giang, phù điêu chạm khắc bạc Đoan Môn của nghệ nhân làng Đồng Xâm (huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình), tranh thêu Hồn thiêng Đại Việt dài 33,3m, rộng 3,3m, của Công ty Đông Thành (Ninh Bình), Quốc bình Thăng Long bằng gốm của Công ty Cường Phát (Bình Dương), v.v.

Phanxipăng xem triển lãm Nghề gốm Bát Tràng cổ truyền và hiện đại. Ảnh: Nguyễn Hải Biên

Ca múa nhạc & điện ảnh

Quanh hồ Gươm, 5 sân khấu được dựng lên để biểu diễn ca múa nhạc suốt dịp đại lễ. Sân khấu 1 tại vườn hoa Lý Thái Tổ, với chủ đề Thăng Long – Hà Nội, thành phố lịch sử truyền thống anh hùng. Sân khấu 2 tại đền Bà Kiệu, với chủ đề Thăng Long – Hà Nội, thủ đô văn hiến. Sân khấu 3 tại quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục, với chủ đề Thăng Long – Hà Nội, thành phố vì hoà bình. Sân khấu 4 tại giao lộ Hàng Trống – Lê Thái Tổ, với chủ đề Hà Nội, thành phố hội nhập và phát triển. Sân khấu 5 tại giao lộ Hàng Khay – Đinh Tiên Hoàng – Hàng Bài, với chủ đề Hà Nội, trái tim của cả nước.

Song ca khai mạc triển lãm Những trận đánh và chiến dịch nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Ảnh: Phanxipăng

Chương trình nghệ thuật Đêm hồ Gươm lung linh và trình diễn áo dài truyền thống làm tắc nghẽn mọi nẻo đường dẫn đến hồ Hoàn Kiếm đêm thứ sáu 1-10-2010. Ánh sáng laser đa sắc, hình ảnh 3D được projector chiếu lên màn khói phun sương, pháo bông xoè nở lắm kiểu đã phối kết làm toàn khu vực trở nên huyền ảo. Khán thính giả cảm thấy mãn nhãn khi ngắm đội ngũ người mẫu, trong đó có những nàng hoa hậu, khoác cả nghìn mẫu áo dài thuộc 7 bộ sưu tập của các nhà thiết kế ở 3 miền Bắc – Trung – Nam. Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VH, TT, DL) Hà Nội là ông Phạm Quang Long nêu rõ:

– Chất văn hiến, anh hùng của Thăng Long, khát vọng được sống trong hoà bình để dựng xây đất nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được khắc hoạ đậm nét trong chương trình nghệ thuật này.

Cùng thời gian với Đêm hồ Gươm lung linh và trình diễn áo dài truyền thống là chương trình hoà nhạc Hội nhập quốc tế – niềm tin hướng tới tương lai diễn ra tại Nhà hát lớn, do dàn giao hưởng – hợp xướng Học viện Âm nhạc quốc gia trình bày với sự tham gia của NSND Đặng Thái Sơn. Concerto số 2 của Sergei Rachmanivoff (1873 – 1943, Nga) và chương IV giao hưởng số 9 của Ludwig van Beethoven (1770 – 1827, Đức) đã ngân nga đầy xao động dưới bàn tay chỉ huy của nhạc trưởng Carlos Cuesta đến từ Tây Ban Nha. Có người băn khoăn:

– Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long mà chơi nhạc Tây, rằng hay thì thật là hay, nhưng sái chăng?

Sái chăng? Câu hỏi nọ cũng bật ra khi Tuần lễ phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội chỉ trơ trọi 2 tác phẩm điện ảnh mới được công chiếu rộng rãi: phim tài liệu Văn Miếu – Quốc Tử Giám do Lại Văn Sinh viết kịch bản và Nguyễn Văn Hướng đạo diễn, cùng phim truyện Long thành cầm giả ca do Văn Lê viết kịch bản và Đào Bá Sơn đạo diễn. Phim truyện Khát vọng Thăng Long do Charlie Nguyễn viết kịch bản (tuy nhiên có sự tranh cãi gay gắt về tác giả kịch bản bởi nhà văn kiêm nhà báo Phạm Tường Vân), do Lưu Trọng Ninh đạo diễn, chỉ chiếu 1 suất duy nhất cho khách mời. Các phim về vua Lý Thái Tổ từng được thông tin, quảng bá ì xèo thì sao? Phim truyện 19 tập Lý Công Uẩn – đường tới thành Thăng Long do Trịnh Văn Sơn và Kha Chung Hòa biên kịch, Cận Đức Mậu và Tô Huy Cường đạo diễn, chưa thể chiếu. Phim truyền hình 40 tập Trần Thủ Độ, mà kịch bản gốc là Trần Thủ Độ và người tình của Nguyễn Mạnh Tuấn, do Đào Duy Phúc tổng đạo diễn, đã gây lắm scandal – trong đó có vụ bị công luận phản đối bởi sử dụng lăng vua Minh Mạng ở Huế làm trường quay – chưa thể phát sóng. Phim truyền hình 70 tập Huyền sử thiên đô do Nguyễn Mạnh Tuấn biên kịch, Phạm Thanh Phong và Đặng Tất Bình đạo diễn, cũng chưa thể phát sóng. Vậy đành lôi phim cũ ra mà xoà lên màn bạc: Hà Nội mùa đông năm 46, Hà Nội mùa chim làm tổ, Hà Nội 12 ngày đêm, Em bé Hà Nội, Hà Nội Hà Nội, v.v.

PGS.TS. Lã Thị Bắc Lý – Giám đốc Trung tâm Văn học trẻ em thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội – cười:

– Trong các dự án phim về 1000 năm Thăng Long, phim hoạt hình Đứa con của rồng đã hoàn thành sớm nhất: khởi chiếu ngày 17-9-2010 tại rạp Kim Đồng, Hà Nội. Tối 10-10-2010, lúc 20 giờ, kênh truyền hình VTV3 phát Đứa con của rồng làm đông đảo trẻ em lẫn người lớn chú mục.

Đứa con của rồng là phim hoạt hình dài 90 phút, lần đầu tiên được Việt Nam thực hiện bằng công nghệ 3D với chi phí 6,8 tỉ đồng. Bộ phim khắc họa tuổi thơ của Lý Công Uẩn / Lý Thái Tổ dựa theo dã sử, huyền tích, truyền thuyết dân gian, với kịch bản văn học của Đoàn Triệu Long, kịch bản điện ảnh của Nguyễn Thị Hồng Ngát, do Phạm Minh Trí đạo diễn.

Tối thứ bảy 2-10-2010, Nhà hát lớn trở thành nơi biểu diễn loạt ca khúc chọn lọc từ loạt sáng tác mới chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, còn quảng trường sân vận động quốc gia Mỹ Đình là điểm diễn Lễ hội rồng do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và Đại sứ quán Tây Ban Nha phối hợp UBND TP Hà Nội tổ chức. Bà Rita Kuan – nhà sản xuất chương trình Lễ hội rồng – bộc bạch:

– Chúng tôi muốn trình diễn cái nhìn của chúng tôi về biểu tượng thiêng liêng của đất nước các bạn.

Nữ diễn viên xiếc Tuyết Hoàn biểu diễn trong chương trình Lễ hội rồng

Tối thứ hai 4-10-2010, mưa nặng hạt, nhiều sân khấu lộ thiên tạm ngưng hoạt động. Nhưng tại vườn hoa Lý Thái Tổ, khán thính giả vẫn chịu ướt để xem chương trình Thăng Long mở hội tìm lại dấu xưa. Lực lượng diễn viên cũng chấp nhận ướt, ra sân khấu biểu diễn 9 điệu múa cổ đặc trưng Hà Nội: múa Trống Hội, Trống Bồng, Giảo Long, Phù Đổng, Bài Bông, Lục Cúng, Giải Oan Thích Kết, Lễ Chữ, Chạy Cờ.

Cũng tại địa điểm đó, tối hôm sau, thứ ba 5-10-2010, chương trình văn nghệ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long với thời lượng 150 phút được dàn dựng công phu, hòa âm phối khí hiện đại, do các nghệ sĩ diễn viên Nhà hát ca múa nhạc dân tộc Bông Sen (TP.HCM) thực hiện, cùng sự tham gia của nhiều ca sĩ miền Nam được khán giả mến mộ như Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Cẩm Ly, Quang Linh, Quang Dũng, v.v., và nhóm múa Những Ngôi Sao Nhỏ. Ngoài ra, hoa hậu Mai Phương Thuý xuất hiện với chiếc áo dài 100m do Võ Việt Chung thiết kế gồm 9 tà tượng trưng dòng sông Cửu Long.

Cũng vườn hoa Lý Thái Tổ, tối thứ tư 6-10-2010, chương trình Hùng khí Thăng Long – bài ca đất nước do các giọng Quang Thọ, Thanh Hoa, Mai Hoa, Thanh Lam, Mỹ Tâm, Trọng Tấn giới thiệu những bài hát về Hà Nội như Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi, Tiến về Hà Nội của Văn Cao, Hà Nội niềm tin và hy vọng của Phan Nhân, Nhớ mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn, Nồng nàn Hà Nội của Nguyễn Đức Cường, Khúc hát người Hà Nội của Trần Hoàn, Bài ca ngàn năm Thăng Long của Song Nguyễn, v.v.

Tối thứ năm 7-10-2010, tại Nhà hát lớn, với chương trình 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, Dàn nhạc dân tộc Việt Nam thuộc Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam biểu diễn chương trình hòa nhạc dân tộc. Hoà tấu đại nhạc cung đình Huế Đăng đàn cung, Mã vũ, Trống chiến. Hoà tấu nhã nhạc cung đình Huế Phẩm tuyết, Nguyên tiêu, Hồ quảng. Đàn tr’ưng cùng dàn nhạc hoà tấu Vũ khúc Tây Nguyên. Chầu văn Sáng mãi ngản năm. Có 2 tác phẩm mới được Dàn nhạc dân tộc Việt Nam trình tấu rất quyến rũ: Tây Hồ thoáng tiếng ca trù ngày xuân của Phúc Linh và Rồng bay khai nhạc của Nguyễn Thiên Đạo.

Các tấu khúc bằng nhạc cụ dân tộc cổ truyền khiến nhiều khán thỉnh giả trong lẫn ngoài nước yêu thích. Ảnh: Phanxipăng

Thể thao, võ thuật & ẩm thực

Sáng chủ nhật 7-10-2010, hồ Hoàn Kiếm sôi động theo bước chân của 2.000 vận động viên tham dự giải chạy Vì hoà bình do báo Hà Nội Mới tổ chức. Kết quả sau gần 4 tiếng đồng hồ tranh tài: giải nhất thuộc Nguyễn Thị Phương (Thanh Hoá) với cự ly 5.250m nữ và Nguyễn Đặng Đức Bảo (Khánh Hoà) với cự ly 8.750m nam.

Đồng diễn Trường côn Thăng Long. Ảnh: Hường Trang

15 giờ chiều thứ năm 5-10-2010, tại Cung Thể thao Quần Ngựa, chương trình Hào khí Thăng Long do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hà Nội phối hợp cùng Hội Võ thuật Hà Nội tổ chức biểu diễn võ thuật cổ truyền. Mở màn, 1000 võ sinh nhiều môn phái đồng diễn Trường côn Thăng Long. Sau đó, cùng với nhiều đòn thế hùng tráng, chương trình còn tung một số tiết mục đặc sắc như võ sư Nguyễn Ngọc Hải biểu diễn nhãn bì lôi công, võ sư Lê Đinh Đức dùng mi mắt kéo xe xích lô có người ngồi, rồi nằm trên đinh cho ôtô cán qua người, võ sư Nguyễn Khắc Chương chống giáo thép nhọn vào cổ đẩy ôtô.

Tiệc đêm

20 giờ tối thứ sáu 6-10-2010, tại Công viên nước Hồ Tây, Liên hoan ẩm thực Hà thành khai mạc. Hoạt động này thu hút 110 đơn vị trong lẫn ngoài nước tham gia. Bởi thế, tuy gọi Hà thành nhưng lắm món ăn thức uống có gốc gác từ tỉnh thành khác, chẳng hạn Huế, Quảng Nam, Sài Gòn, thêm cả một số nước ngoài. Khách thập phương mặc sức chén nhiều miếng ngon miếng lạ: đùi ếch chiên giòn, heo xiên nướng, bò tái, chả cá, nem cua bể, nem chua rán, xôi vừng dừa, bánh đúc nóng, bánh dầy, bánh cuốn, bánh phu thê, chè thưng, chè sương sa hạt lựu, chè thập cẩm, v.v. Những thực khách cần món chay thì có các gian hàng chuyên doanh thực phẩm không mang nguồn gốc động vật.

Tiệc trưa

Giải đua xe đạp quốc tế xuyên Việt chào mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội vào chặng cuối là 18 vòng quanh hồ Gươm với tổng cự ly 30,6km vào sáng thứ bảy 9-10-2010. Khởi tranh từ ngày 23-9-2010 tại khu đô thị Phú Mỹ Hưng (Q.7, TP.HCM), 104 coureurs thuộc 13 đội Việt Nam, Lào, Mông Cổ đã vượt 15 chặng đua với tổng lộ trình hơn 1.800km qua 19 tỉnh thành. Kết quả chung cuộc: chiếc áo vàng – phần thưởng lớn nhất – thuộc tay đua Mai Nguyễn Hưng (Bảo vệ thực vật Sài Gòn 1), áo xanh thuộc Bùi Minh Thuy (ADC Truyền hình Vĩnh Long), áo đỏ thuộc vua leo đèo Lê Văn Duần (Bảo vệ thực vật Sài Gòn 1), áo trắng dành cho coureur trẻ xuất sắc nhất mới 18 tuổi là Nguyễn Tấn Hoài (Domesco Đồng Tháp).

Tiệc chiều

Tròn thiên niên kỷ

Chủ nhật 10-10-2010, nhằm mùng 3 tháng 9 Canh Dần, ngày cuối cùng và cũng là cao trào của đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với 2 hoạt động quá quy mô: buổi sáng, mít tinh, diễu binh, diễu hành từ quảng trường Ba Đình toả ra một số đường phố; buổi tối, tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình, đêm hội văn hóa nghệ thuật Thăng Long – Hà Nội: thành phố Rồng bay do nhà văn Nguyễn Khắc Phục viết kịch bản, nhạc sĩ Trọng Đài tổng đạo diễn.

10 máy bay trực thăng do thượng tá Lương Văn Lâm (sinh năm 1961, dân tộc Tày) làm phi đội trưởng bay qua sông Hồng để tham gia diễu binh sáng 10-10-2010. Ảnh: Nguyễn Thành Trung

Đáng lưu ý là trong diễn văn khá dài của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đọc sáng 10-10-2010, mặc dù có đoạn “ngay trong thời khắc lịch sử này, khi đang hân hoan mừng ngày đại lễ, chúng ta vẫn nhận thức sâu sắc rằng cả nước và thủ đô còn nhiều khó khăn, thách thức ở phía trước”, song rất tiếc chẳng thêm dòng nào biểu tỏ mối quan tâm tới đồng bào miền Trung vừa bị tổn thất nặng nề bởi thiên tai. Theo thống kê từ ngày 1 đến ngày 8-10-2010, lũ lụt từ Quảng Ngãi đến Nghệ An đã khiến 52 người chết, 24 người mất tích, 54 người bị thương, thì cả nước không chỉ lo cứu nạn và viện trợ, mà rất nên dành một phút ngắn ngủi mặc niệm đầy nhân văn trong buổi mít tinh trọng thể nghìn năm một thuở.

Nữ sĩ quan thông tin diễu binh. Ảnh: Hồng Nga

Đêm hội Thăng Long – Hà Nội: thành phố Rồng bay tái hiện quá trình lịch sử của thủ đô, gồm 3 chương. Chương 1: Quyết định trọng đại. Chương 2: Hào khí đất thiêng – Tinh hoa ngàn năm văn hiến. Chương 3: Ngày hội non song – Thông điệp thành phố vì hòa bình. Thực chất, đó là hoạt cảnh với 7.000 diễn viên và vận động viên tham gia. Hiệu ứng âm thanh – âm nhạc, múa, ánh sáng được thể hiện ở 4 không gian kết hợp: sân cỏ, sân khấu tròn, sân khấu triền đê, và projector trên khán đài B. Hợp xướng Bài ca tuổi trẻ Thăng Long – Hà Nội của Trọng Đài vang ngân, vở hoạt cảnh dài khép lại bằng 20 phút pháo hoa rực sáng.

Đêm hội văn hóa nghệ thuật Thăng Long – Hà Nội: thành phố Rồng bay tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình tối 10-10-2010. Ảnh: Thuận Phong

Theo kế hoạch, đêm 10-10-2010 sẽ bắn pháo hoa tầm cao tại 4 điểm và pháo hoa tầm thấp tại 25 địa điểm trên địa bàn Hà Nội. Tuy nhiên, ngày 8-10-2010, Thường trực Thành ủy Hà Nội ra thông báo: đêm 10-10-2010 chỉ bắn pháo hoa tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình, còn 28 điểm kia không bắn pháo hoa mà dành toàn bộ kinh phí ấy gửi giúp miền Trung khắc phục hậu quả của thiên tai.

Đề cập pháo hoa, mọi người chẳng quên sự cố rất đáng tiếc xẩy ra trưa 6-10-2010: tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình có 3 container chứa pháo hoa nhập từ Trung Hoa, Hoa Kỳ, Ý, thì 2 container nổ bất ngờ khiến một số nạn nhân tử thương, trong đó có những chuyên gia ngoại quốc. Nguyên nhân vụ nổ được xác định do sơ xuất trong quá trình vận chuyển pháo hoa để phục vụ buổi tổng duyệt tối hôm đó.

Sự cố rất đáng tiếc trưa 6-10-2010: tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình, 2 container chứa pháo hoa bị nổ bất ngờ khiến một số nạn nhân tử thương

Dư luận cũng còn nêu vô số chuyện diễn ra trong đại lễ, gây bức xúc lòng người. Chẳng hạn khách tham quan bẻ hoa, xả rác cực kỳ bừa bãi. Hoặc giá cả bị tư thương tăng đột biến đến chóng mặt, như bình thường giữ xe máy chỉ thu mỗi chiếc 2.000 đồng, đại lễ bèn lạm thu mỗi chiếc những 50.000 ~ 100.000 đồng. Hoặc hàng chục nghìn người dồn về Mỹ Đình tối 10-10-2010 nhưng không vào sân vận động được, khiến đường sá bị tắc nghẽn nghiêm trọng, một số kẻ đã bị ngất. Hoặc tin đồn thất thiệt rằng sập cầu Long Biên, gãy cầu Thăng Long khiến dư luận hoang mang suốt thời gian đại lễ.

Tổng biên tập báo Tiền Phong là nhà báo Đoàn Công Huynh trầm ngâm:

– Ngày bắt đầu đại lễ, 1-10-2010, và ngày kết thúc đại lễ, 10-10-2010, rùa hồ Gươm nổi lên. Lạ chăng, hỡi anh Phanxipăng?

Quả thật, từ “đại lễ” thiếu chỉnh chu, bởi chính xác phải “đại lễ hội”. Phó Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội là nữ tiến sĩ Trần Hạnh Mai lắc đầu cười buồn:

– Đại lễ hội. Dùng từ thế mới chuẩn. Sao Ban tổ chức chẳng tham khảo ý kiến các nhà ngôn ngữ học nhỉ? 

Nhiều cặp tình nhân cố ý kết hôn dịp sinh nhật thứ 1000 của Thăng Long. Ảnh: Phanxipăng

Sáng thứ hai 11-10-2010, tôi điểm tâm bằng bát phở rồi nhâm nhi tách trà bên hồ Gươm, đoạn dạo quanh một số phố phường. Sau đại yến sinh nhật thứ 1000, Hà Nội chưa thể trở lại bình thường ngay được. Hy vọng rằng bằng nỗ lực phát huy điểm mạnh và điểm đẹp, kiên quyết khắc phục mặt yếu và mặt xấu, Hà Nội sẽ tiếp tục thăng hoa với sinh lực mới dồi dào.

Mùa thu đang bồng bềnh. Hương hoa sữa nồng nàn đan xen hương cốm Vòng thoang thoảng. Khí tiết vô vàn dễ thương, Hà Nội ngàn năm (4) ạ. ♥

____________

(1)   Ca dao xưa có câu: Hà Nội băm sáu phố phường. Nhiều tác phẩm văn nghệ lâu nay cũng ghi nhận không khác. Tập bút ký nổi tiếng của nhà văn Thạch Lam được in lần đầu năm 1943 dùng nguyên dòng ca dao nọ làm nhan đề. Thế nhưng, trong tập 1 Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2000) và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2009), nhà Hà Nội học là Nguyễn Vinh Phúc – 1 trong 11 công dân thủ đô ưu tú – viết: “Thực ra, phố và phường là 2 phạm trù khác nhau. (…) Không làm gì có cái gọi là Hà Nội 36 phố phường. Chỉ có Thăng Long thời Lê có 36 phường hoặc là Hà Nội thời Minh Mạng có 239 phường, thôn, trại và Hà Nội thời Tự Đức với 153 phường, thôn, trại. (…) 36 phường thời Lê không thể là 36 phố + phường được”.

(2)   Kỳ thực, Đại Việt sử ký toàn thư (Bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hoà thứ XVIII (1697). Hoàng Văn Lâu  dịch và chú thích. Tập I. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1998) ghi nhận: “Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010), vua (Lý Thái Tổ) dời đô từ thành Hoa Lư sang thành Đại La, thuyền tạm đỗ dưới thành, có rồng vàng hiện ra trên thuyền ngự, do đó đổi gọi là thành Thăng Long”. Mà tháng 7 âm lịch thường nhằm tháng 8 và 9 dương lịch, cớ sao đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội lại diễn tiến vào thàng 8 và 9 âm lịch nhằm tháng 10 dương lịch nhỉ?

(3)   Nguyễn Phan Quế Mai chào đời năm Ất Sửu 1973 ở Ninh Bình, lớn lên ở Bạc Liêu, tốt nghiệp khoa Truyền thông trường Đại học Monash ở Úc, đã in các tập thơ Trái cấm (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 2008), Cởi gió (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2010).

(4)   Ngàn / nghìn năm là số liệu mang đậm tính biểu trưng. Bởi địa bàn Hà Nội ngày nay từng mấy phen trở thành kinh đô của Tổ quốc trước năm Canh Tuất 1010. Chẳng hạn năm 544, Lý Bí / Lý Bôn lên ngôi, tự xưng Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng). Trước đó, năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (nay là xã cùng tên, huyện Đông Anh). Trước nữa, vào khoảng thế kỷ thứ III trước Công nguyên, Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương.

Phanxipăng

Đã đăng Tài Hoa Trẻ 659 (13-10-2010) & 660 (20-10-2010)

Read Full Post »

Và thầy và trò và mùa hè

Tranh bút sắt: Kim Lan

Thưa thầy !

Học trò chào như vậy. Chào mà hất cái đầu nghênh nghênh ngổ ngáo. Ngổ, nhưng dễ thương. Cái chào ra mắt với hàm ý: học trò này không dễ “cai trị” đâu, đừng tưởng “bở”, thầy ạ!

Thầy ngỡ ngàng một chút, rồi gật đầu đáp lễ với một vẻ nghiêm trang đạo mạo rất chi là… anh thầy. Anh thầy chứ không phải ông thầy. Nghĩa là nửa thầy nửa anh. Huỵch toẹt ra là sinh viên sư phạm.

Lần đầu nhận dạy kèm, anh thầy lo lo. Lo nhiều nỗi: dạy cái kiểu “ánh xạ một – một” này làm sao cho “ăn” được đồng tiền thân chủ, làm sao giữ uy đúng như lời thằng bạn thổ công đã ưu ái giới thiệu. Học trò là phái nữ, mà nơi đây đất khách quê người, vân vân và vân vân. Đụng học trò một phát khai cục, lại lo hơn. Ngang. Bướng. Lì. Chắc chắn khó dạy. Mà cũng chả sao, anh thầy tự nhủ – ta đây cũng từng vang bóng một thời học sinh ngang đầu cứng cổ xếp đạo đức dưới bàn chân ngạo mạn. Lấy độc trị độc. Cương nhu xử trí linh hoạt tuỳ từng trường hợp cụ thể. Lo chi. A hà!

Buổi “khai giảng” chính thức vào ngày hôm sau, thầy gặp ngay sự chống đối của học trò. Chống ngấm ngầm. Chống chừng bốn lăm phẩy năm phần trăm. Chống theo kiểu con gái mười bảy.

Mười bảy bẻ gãy… tùm lum. Cô bé mới lớn nào chẳng vậy. Chả có gì để các cô chịu sất. Cứ luôn làm ra vẻ ta đây. Ngang ngạnh. Bất cần. Thầy cứ tỉnh bơ. Tỉnh bơ công bố một số điểm gọi là “nội quy giản yếu” về học và dạy. Tỉnh bơ ra bài trắc nghiệm xem thử năng lực và kiến thức học trò mới được bao lăm. Khá. Nhanh hoạt và thông minh lắm lắm. Nghe ở lớp, cô bé rất “xuya” toán và giỏi đều các môn khác, năm ngoái sém tí nữa đạt học sinh xuất sắc toàn diện, cũng phải. Gia đình này quả biết lo xa cho con cái một cách chu đáo.

Thầy ra về. Học trò khinh khỉnh hỏi lời phê. Khen à? Không được. Với cái loại có tí xíu chất xám mà kiêu căng một cây xanh rờn này, phải cho gặm bánh mì không xá xíu ngay trận phủ đầu:

– Tàm tạm. Nhưng muốn giỏi, cần phải gắng nhiều.

Những buổi tiếp theo, thầy trò vẫn lầm lầm lì lì. Thầy dạy nghiêm nghị, mô phạm y chang một ông giáo làng thâm niên. Trò học ơ hờ, cố tình trình diễn bộ mặt đưa đám quá ư những người khốn khổ. Tuy nhiên, với trò, số phần trăm chống đối giảm dần đều. Học trò chạy đường trời rồi cũng phải thua thầy. Thua là cái chắc.

Nhưng thầy nhầm. Học trò này đâu dễ ngã ngựa. Sau mấy buổi im lặng là vàng, trò chuyển hệ sang học đi liền với vấn. Quây. Xoay. Hàng loạt câu hỏi hóc búa, lắt léo. Biến hình thế nọ. Dời hình thế kia. Hàm số ấy. Hệ thức này. Tại sao? Có cách nào khác? Phương pháp gì tối ưu? Chứng minh xuôi. Chứng minh ngược. Trực tiếp. Gián tiếp. Giải thích. Biện luận. Kết quả: đến đây thầy mới thắng. Thắng, nhưng phải tốn hàng tạ mồ hôi và hàng tấn neurones. Tốn thì tốn, dù sao cũng thắng. Chiến đấu không gian khổ thì chiến thắng cóc vinh quang. Phào!

Sự thua của học trò biểu hiện qua bốn giai đoạn. Đầu tiên là… hỏi vớ vẩn:

– Có thể khảo sát và vẽ đồ thị của…. mộng mơ không, thưa thầy?

– Đang học toán, chứ không phải học tâm lý.

– Học đi đôi với hành chớ!

– Tôi chuyên khoa toán, chứ đâu phải khoa tâm lý.

– Sao bữa hổm thầy đọc sách tâm lý đó?

– À, nhưng đó là tâm lý học sư phạm.

– Sao thầy hổng tâm lý gì cả dzậy?

– Thế nào?

– Hơi khó. Hơi nghiêm à!

– Không phải là “hơi” mà là “rất”. Tâm lý học sư phạm dạy cần phải vậy.

– Xí..í… ì… ì… ì…

Học trò kéo dài chữ “Xì” rồi cong cớn môi lên, chun chun lỗ mũi, nhướng nhướng cặp mắt, nom buồn cười đáo để. Thầy đánh rơi cái vỏ đạo mạo. Hì. Thấy và trò cùng cười.

Giai đoạn hai mở đầu bằng cơn mưa. Học trò không chịu học, cắn bút nhìn trời. Thầy thoáng thấy trong mắt học trò một nỗi gì đó, một nỗi gì buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn. Buồn không duyên cớ của con gái dậy thì chăng?

Thầy giục học. Trò lắc đầu:

– Hổng học đâu!

– Sao?

– Mưa. Buồn quá!

– Mưa có bổn phận của mưa. Học trò lo bổn phận của học trò đi!

– Mà học để làm gì?

– Để giỏi. Để sang năm thi đậu.

– Giỏi để làm gì? Đậu để làm gì?

– Để… ơ… ơ… Thôi, đừng có làm biếng. Học đi!

Thầy bí, phải đeo mặt nạ mô phạm “ông ẹ” vào. Trò òa khóc. Khóc ngon lành. Anh thầy đâm cuống, bèn hạ giọng xuống một quãng tám dỗ dành. Học trò vẫn không chịu nín, càng khóc mạnh hơn. Hu hu hu. Nước mắt nước mũi chảy như mưa.

Mưa bỗng tạnh. Trò cũng hết khóc:

– Hôm nay hổng muốn học đâu!

– Vậy muốn gì?

– Muốn thầy kể chuyện à.

Giọng trò sao nũng nịu thế. Anh thầy vẫn phớt ăng lê:

– Tôi chẳng có chuyện gì cả.

– Xạo! Ai mà hổng có chuyện!

– Chỉ chuyện… tích phân, vi phân các thứ thôi!

– Ứ thèm! Chuyện khác í!

– Chuyện khác là chuyện gì?

Trò nheo mắt, trỏ ngón tay trỏ vào ngực thầy:

– Chuyện về thầy nè!

– Tôi chẳng có chuyện gì đáng nói cả. Rất bình thường. Bình thường như mọi người bình thường.

– Hay thầy kể về xứ Huế của thầy đi, héng?

– Khi khác. Hôm nay làm cho xong mấy bài lượng này đã.

Học trò lại xệ mặt xuống. Nước mắt lại chực trào ra. Thầy đành nhượng bộ:

– Thôi được. Chiều một lần này thôi à nha!

Trò cười:

– Dạ!

Thầy đốt một điếu thuốc, rồi thong thả kể chuyện về mảnh đất thầy chôn nhau cắt rốn. Huế xinh. Huế mộng. Huế âm nhạc. Huế vũ đạo. Huế hội họa. Huế kiến trúc. Huế thi ca. Trò xoe tròn mắt chăm chú lắng nghe. Hứng khởi, thầy còn minh họa bằng thơ Hàn Mạc Tử nữa (có tự ý lạm phép tác giả quá cố cải biên vài chữ cho hợp cảnh hợp tình):

Sao em không về chơi thôn Vỹ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền…  

Trò xuýt xoa:

– Thầy ca ngợi Huế duyên quá “chời”, học trò nghe bắt ham về Huế luôn í!

– Về làm gì?

– Cắn Huế một miếng!

Giai đoạn ba. Thầy bị một cơn đau nhẹ, bèn nhờ thằng bạn chuyển hộ mẩu giấy nhỏ: “Thầy mắc cảm. Học trò được “bãi khóa” vài buổi. Sướng chưa?”.

Nghỉ học bao giờ mà chả sướng. Nhưng cũng có những trường hợp ngược lại. Như trường hợp này chẳng hạn.

Học trò buồn. Học trò nhớ. Học trò lò dò đạp xe đến ký túc xá thăm thầy:

– Đem đồ lên cho thầy tẩm bổ, mau lành.

– Mau lành để làm gì?

– Để dạy trò học.

– Học để làm gì?

Học trò thuộc lòng lời thầy, hóm hỉnh:

– Để giỏi. Để sang năm thi đậu.

– Giỏi để làm gì? Thi đậu để làm gì?

Trò cười. Thầy cười. Vui vẻ vô cùng. Chợt học trò hỏi:

– Thầy cảm nặng hôn?

– Sơ sơ. Chừng… băm lăm ký lô.

– Cảm ai dzậy?

– Hỏi chi?

Trò đáp cộc lốc, tỉnh khô, khiến thầy giật thót mình:

– Giết!

Học trò về. Bạn bè cùng phòng hỏi ai. “Mà sao?”. “Coi bộ dễ thương. Đào hả?”. “Đâu có, học trò tao dạy kèm”. “Kèm thì kẹp luôn”. ” Làm gì có chuyện đó!”. “Sao lại không?”.

Thầy im lặng, cóc thèm cãi vã với lũ tiểu yêu. Người đang mệt. Thầy nằm xuống, quay mặt vào tường. Và oái oăm thay, thấy bắt gặp ngay câu-hỏi-của-chính-mình: “Sao lại không?”.

Tranh bút sắt: Kim Lan

Hôm sau, dù còn bệnh, thầy vẫn gắng đi dạy. Chính xác hơn là thích đi dạy. Giai đoạn chót bắt đầu từ đấy.

– Nghỉ một bữa đi thầy.

– Lại không muốn học hả? Trời hôm nay đâu có mưa.

– Nhưng thầy còn đau mờ lị.

– Học trò chăm vào, ngoan vào, thầy sẽ hết đau ngay.

– Hổng tin!

Thầy vờ đứng lên:

– Thế thì tôi về đây.

– Về sao được! Học trò đề nghị việc này, chả biết thầy có chịu hôn?

– Giải một bài toán khó?

– Dạ. Nhưng hổng khó gì ráo trọi.

– Sẵn sàng. Đâu?

Học trò cầm phấn ghi lên bảng: ” H.T.M2.T. Đ.C.F = ?”

– Cái gì thế này?

– Thầy nghĩ sao?

– Coi nào… “Phương trình” này chắc “vô nghiệm”.

– Vô sao được mà vô!

– À, vậy thì: “Học-Thiệt-Miệt-Mài-Thi Đậu-Chắc-Phau”.

– “Chắc-Phau” là gì? Hổng có đúng. Zero!

– “Học-Trò-Ma-Mãnh-Thầy Đau-Cũng-Phải”.

– Thầy dóc không hà! Trật lất!

– Chịu. Chịu. Trò giải đi thôi.

Học trò “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa” thế này: “Học-Trò-Muốn-Mời-Thầy-Đi-Cà-Phê”. Ô, cô bé này bày vẽ kiểu gì đây? Thầy khoát tay:

– Bậy bạ! Học trò không được uống cà phê với thầy giáo!

– Sao lại không?

Sao lại không? Thầy bối rối bắt gặp ngay câu-hỏi-của-chính-mình. Ờ nhỉ, sao lại không? Thầy lưỡng lự:

– Ba má biết, không hay!

– Ba má cưng học trò lắm, hổng có la đâu mà sợ. Đi đi, thầy.

Đi đi. Đi uống cà phê. Đi uống âm nhạc. Đi uống sự thú vị. Đi để ngắm ánh mắt xoe tròn buồn ơi xa vắng, để nhìn cánh tay hồng măng lông sữa, để tiếp chuyện Huế mộng, Huế mơ. Cánh cửa thiên đàng đã hé mở, sao không đẩy mà vào?

Đi. Ừ thì đi. Một lần. Hai lần. Năm sáu lần. Chín mười lần. Thành quen. Thành thèm. Thành kỷ niệm.

Mùa hè.

Thầy về Huế thăm nhà. Học trò ra tận ga đưa tiễn. Hai thầy trò vào một quán cà phê. Hai phin đen. Trò vẫn khư khư ôm túi hành lý của thầy mà lắc như lắc một mối sầu. Thầy phì phèo điếu thuốc, thả những sợi thương cảm vấn vương. Giọng Jean-François Michaël cất lên tình khúc Adieu Jolie Candy, trong hoàn cảnh này, nghe càng thêm não nùng khôn tả! Sài Gòn trưa hè rực nắng, nhưng hình như đâu đây có những hoa tuyết trắng xóa rơi rơi. Để làm tan tuyết, thầy nhóm lên ngọn lửa bông đùa :

– Có khi nào đây là tách cà phê cuối cùng không?

Học trò giẫy nẩy, véo thầy một véo đau ơi là đau:

– Sức mấy! Cầu hả? Thầy liệu đó nghen!

Thầy lên tàu. Trò đứng dưới, dặn dò đủ thứ: nào là nhớ “chuyên cần” viết thư vào, nhớ mau trở lại; nào là về ngoải nhớ ăn no, ngủ kỹ, đừng thèm đi cà phê với bất kỳ một ai. Nhớ, nhớ và nhớ. Tàu rúc còi. Trò đưa tặng thầy cuốn album be bé, chứa toàn ảnh học trò đủ các kiểu. Tàu chạy. Thầy nhoài người, thò tay vẫy vẫy. Trò đứng lặng, hai giọt nước mắt thật đẹp ứa ra khỏi rèm mi, từ từ lăn xuống.

Ra đến Huế, một tuần sau, thầy nhận được thư trò. Bức thư tám trang giấy học sinh, đầy đặc chữ, đầy đặc nhớ và nhớ. Thầy vội vàng hồi âm. Nhưng ít lâu sau, lá thư bị trả lại: “Người nhận không có ở địa chỉ này”. Bức thư tiếp theo cũng vậy. Thế này là thế nào?!

Hết hè. Thầy trở lại Sài Gòn, ghé ngay đến nhà trò. Cửa đóng im ỉm, ổ khóa phía ngoài. Thế này là thế nào!?

Thầy liền tìm thằng bạn để hỏi. Hắn đáp:

– Đi rồi!

Thầy ngơ ngác một lúc lâu, rồi một mình bỏ đi tìm một quán cà phê.

Hai phin đen.

Chiều xuống.

Mưa.

 

 

Phanxipăng

Đã đăng báo chí:

  • Thế Giới Mới 35 (8-1992)
  • Trẻ 1 (7-1993)
  • Hương Đầu Mùa chủ đề Phác thảo tháng năm (5-1994)
  • Sinh Viên & Thời Đại (1994)

Và in trong các sách:

  •  Tuyển tập văn trẻ TP.HCM của nhiều tác giả (NXB Trẻ, 1995)
  •  Những người ở lại của nhiều tác giả (NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 1997)
  •  56 truyện ngắn chọn lọc của nhiều tác giả (NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2000)

Giáo trình Đại cương ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu & Bùi Minh Toán (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1993; trang  296) và giáo trình cùng nhan đề của GS. TS. Đỗ Hữu Châu (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2001; trang 289) trích đoạn truyện ngắn này vào chương V Lý thuyết hội thoại

Read Full Post »

Ngày 24-10-1995, dải nhật thực toàn phần rộng khoảng 78km quét qua các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Thuận. Vì nhiều lý do, núi Tà Zôn ở Bình Thuận được chọn làm nơi quan sát lý tưởng, thu hút đông đảo các nhà khoa học, nhà báo và du khách trong lẫn ngoài nước.

Nhật thực ngày 24-10-1995 trên phạm vi toàn cầu

N

hật thực toàn phần: một hiện tượng tự nhiên quý hiếm, hầu như mỗi đời người đều rất ít có cơ hội trực tiếp nhìn thấy! Hàng loạt thông tin như thế cứ dồn dập loan truyền khiến ai cũng mong được đến những địa phương có dải nhật thực toàn phần quét qua. Ngày xảy ra nhật thực, thứ ba 24-10-1995, nhằm 25 tháng 9 Ất Hợi, đúng tiết Sương giáng, trong lúc kẻ đi Bảo Lộc, người đến Lộc Ninh, tôi nghĩ mình hên hơn nhiều: được theo đoàn các nhà thiên văn học quốc tế ghé Phan Thiết, rồi leo lên “cắm chốt” trên đỉnh Tà Zôn.

            Giáo sư Pa Than, người Ấn Độ, cười bảo tôi:

            – Bạn là một trong những người may mắn nhất. Vì trong thế kỷ XX này, Việt Nam có 37 lần nhật thực nhưng chỉ 3 lần toàn phần. 2 lần trước đã diễn ra vào các năm 1929 và 1955. Đây là lần sau rốt. Nếu muốn chứng kiến nhật thực toàn phần lần kế tiếp ở Việt Nam, bạn phải chịu khó chờ… 75 năm nữa.

Bản đồ nhật thực toàn phần 24-10-1995 tại Việt Nam

Đến Tà Zôn

            Đoàn xe khởi hành lúc 3 giờ rưỡi sáng thứ ba 24-10-1995, đưa 100 nhà khoa học và nhà báo vừa tham dự Hội thảo thiên văn học nhân nhật thực toàn phần do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường tổ chức tại hội trường Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật TP.HCM suốt hai ngày 22 và 23-10-1995. Cùng thời gian ấy, hơn 200 nhà vật lý thiên văn và vật lý hạt cơ bản từ 37 quốc gia dồn về với cuộc Gặp gỡ Việt Nam lần thứ nhì / 2e Rencontres du Vietnam ở dinh Thống Nhất, trong đó có những vị từng đoạt giải Nobel như Norman Foster Ramsay (giải Nobel vật lý 1989), Georges Charpak (giải Nobel vật lý 1992). Thời gian ấy, ngoài phố, cơn sốt kính Mylar mỗi lúc một tăng nhiệt độ.

            Trên quốc lộ 1A, ô tô và xe máy rầm rập. Hai bên đường, các nhà thờ sáng choang ánh điện, thu hút đông con chiên đến cầu nguyện. Hàng quán ven lộ hoạt động thâu đêm, khác lệ thường.

            Tảng rạng, xe đến Phan Thiết. Thị xã nức tiếng đặc sản nước mắm đang tưng bừng khai hội, giăng đầy cờ xí, biểu ngữ chào mừng khách thập phương tới quan sát nhật thực toàn phần. Một đồng nghiệp của báo Khoa Học Phổ Thông “mai phục” tại đây từ tối qua, nhăn nhó:

            – Khách sạn, phòng xài tạm được, giá 66 đô một đêm, nhưng… hết chỗ! Nhà trọ bình dân “cứa” 200.000 đồng mỗi người mà cũng chật ních!

            Tà Zôn cách thị xã Phan Thiết 15km về phía bắc, cách quốc lộ 1A khoảng 2km. Địa điểm này thuộc thôn 6, xã Hàm Đức, huyện Hàm Thuận Bắc; có diện tích hơn 5.000m2, độ cao 386m so với mặt biển. Dịp này, du khách bình thường muốn ghé Tà Zôn phải mua vé: bộ hành 5.000 đồng/người, thêm xe máy phải chi 15.000 đồng. Cùng với Tà Zôn, tỉnh Bình Thuận còn bố trí thêm 3 địa điểm quan sát khác: đồi Ngọc Lâm, khu vực Long Thạnh và bãi sau Mũi Né.

            Khi tôi đến Tà Zôn thì khách đã khá đông, không dưới 500 người. Đoàn du lịch khoa học Apex của Nhật Bản đang cắm giá, đặt máy chụp hình. Đoàn nghiên cứu mặt trời thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga gồm 13 thành viên, do giáo sư tiến sĩ Philinnov Boris Petrovich làm trưởng đoàn, cũng vừa cài thiết bị ghi ảnh nhật hoa. Hệ thống viễn kính vô tuyến của Đài Thiên văn Paris gồm 2 ăngten lưỡng cực đặt cách xa nhau 20m để bắt tín hiệu vô tuyến của mặt trời, 1 máy dò và 1 máy tính để thu rồi xử lý số liệu – tất cả đã được kỹ sư Bernard Darchy lắp đặt xong xuôi. Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu – giám đốc nghiên cứu của Đài Thiên văn Paris, tác giả sách Vũ trụ – phòng thí nghiệm thiên nhiên vĩ đại đang được phát hành rộng rãi khắp nước ta – nói:

            – Trên thế giới, viễn kính vô tuyến thường rất lớn và đặt trên núi cao. Ví dụ viễn kính của Viện Vô tuyến thiên văn Pháp-Đức (IRAM) là ăngten 30m đường kính, đặt trên đỉnh Pico Veleta cao 2.850m ở Tây Ban Nha. Hoặc hệ thống viễn kính của Đài Thiên văn vô tuyến quốc gia Hoa Kỳ đặt tại tiểu bang Mexico gồm 27 ăngten, mỗi ăngten có đường kính 25m. Còn đây là viễn kính vô tuyến loại nhỏ, có thể thu bức xạ mặt trời để so sánh sự thay đổi của bức xạ này trước, trong và sau nhật thực. Toàn bộ viễn kính này sẽ được trao tặng cho Đại học Sư phạm Hà Nội.

            Tôi hỏi:

            – So với viễn kính quang học, ưu điểm nổi bật của viễn kính vô tuyến là gì ạ?

            Giáo sư Riệu đáp:

            – Trong thời gian nhật thực xảy ra, nếu bị mưa hoặc mây mù, quan sát bằng viễn kính quang học cũng không thấy gì, nhưng với viễn kính vô tuyến thì vẫn đắc dụng. Tuy nhiên, hôm nay ở đây trời quang đãng thế này, chúng ta có dịp quan sát nhật hoa lúc nhật thực tối đa. Một hình ảnh kỳ thú vô cùng!

Trên núi Tà Zôn, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang Riệu (huơ tay) và kỹ sư Bernard Darchy (ngồi trước máy tính) trò chuyện với các nhà báo. Ảnh: Đào Ngọc Đồng

Mặt trăng ăn vụng mặt trời

            Các nhà nghiên cứu dự báo rằng tại núi Tà Zôn ở Bình Thuận, nhật thực sẽ mở màn lúc 9 giờ 38 phút 14 giây, nhật thực toàn phần diễn ra lúc 11 giờ 14 phút 21 giây và sẽ kết thúc lúc 12 giờ 55 phút 17 giây. Vậy mà mới 9 giờ, thiên hạ đã đeo kính Mylar ngong ngóng ngước lên chín tầng mây.

            Đến Tà Zôn mới thấy kính Mylar đủ loại, sản xuất từ nhiều nguồn: Trung tâm Khoa học công nghệ quốc gia, Đoàn Thiên văn Việt-Nga kết hợp Sở Du lịch Bình Thuận, Hội Vật lý TP.HCM (CENTEC), v.v. Lại có cả kính dỏm khiến khối kẻ la oai oái! Buồn cười nhất là mấy thanh niên địa phương vác kính thợ hàn úp kín mặt mà nhăm nhắm vầng dương. Chàng trai vác kính thợ hàn khịt khịt mũi:

            – Nghe báo chí “hù” dữ quá, sợ tiêu cặp mắt nên chơi cái kính hàn với số lớn hơn #14 cho chắc cú. Chứ đồng bào dân tộc K’ho mí lị Rắcklây nơi đây bảo cứ giương đôi tròng thịt mà nhìn, chả bị gì đâu, miễn đừng nhìn lâu.

            Mặt trăng bắt đầu… hôn mặt trời. Tôi liếc đồng hồ: 9 giờ 40. Ngại đồng hồ mình là “đồng hồ Tây”, tôi bèn hỏi mọi người xung quanh, ai cũng bảo 9 giờ 40 cả. Lẽ nào các chuyên gia tính sai?

            Giáo sư tiến sĩ Lê Minh Triết – phó chủ tịch Hội Vật lý TP.HCM kiêm ủy viên thường trực phía nam của Ban tổ chức các hoạt động nhân nhật thực toàn phần năm 1995 – giải thích:

            – Phút đầu tiên, do mặt trời sáng chói quá nên chúng ta không xác định rõ đấy thôi.

            Các nhiếp ảnh gia lách tách bấm máy. Một số nhóm sinh viên và học sinh phân công nhau vẽ quá trình mặt trời bị che và ghi độ phương, độ cao của từng pha bị che. Giáo sư Donat G. Wentzet (Viện Đại học Maryland, Hoa Kỳ) dùng một tờ giấy có đục lỗ kim, chiếu ảnh mặt trời lên mặt bàn nhôm để quan sát. Giáo sư Nguyễn Đình Tứ – trưởng ban Khoa giáo trung ương –  trải bản đồ thiên thể, thuyết trình về các hành tinh Kim, Mộc, và các chòm sao chính trên hoàng đới lát nữa sẽ xuất hiện giữa… trưa, lúc nhật thực tối đa. Các nhà khoa học thuộc Đài Thiên văn Paris như Jean-Paul Zahn, Pierre Encrenaz, Thérèse Encrenaz, Collin Suzanne chưa quen với cái nóng nung người, cái nóng ghê của xứ nhiệt đới, nên cứ chạy ra ngoài trời tí xíu lại ào vào núp trong lều bạt, vừa quạt phành phạch, vừa tu nước khoáng Vĩnh Hảo. Có những toán du khách mặc áo pull in hình nhật hoa, quây quần dưới các lùm cây để… đánh bài tiến lên. Còn tôi thì tìm đến mấy trại dã chiến của Công ty Du lịch Bình Thuận mua ly bia giải khát. Nhân viên phục vụ cho biết:

            – Đây là địa điểm “ngon” nhất, nên Công ty chuẩn bị chu đáo. Tuy nhiên, phần đông khách thập phương đều mang theo thức ăn, đồ uống, nên chi… Rất đáng tiếc là hơn 10.000 du khách ngoại quốc định tới Tà Zôn dịp này, nhưng rồi lại sang Thái Lan. Nghe nói họ chê giá cả của ta đắt đỏ quá. Giá đặt máy xem nhật thực, mỗi mét vuông những 10 đô la!

            Gần kề là trại dã chiến của Bưu điện Bình Thuận phục vụ điện thoại, điện tín, fax, và bán đồ lưu niệm. Chẳng có gì ngoài bì thư in hình nhật hoa có dán con tem Nhật thực toàn phần tại Việt Nam 24-10-1995 do Trần Thế Vinh trình bày, cùng liếp bưu ảnh phong cảnh Bình Thuận với tấm affiche / poster Nhật thực toàn phần 1995 thu nhỏ. Nếu biết rằng các quốc gia Mexico, Chilê và quần đảo Hawaii của Hoa Kỳ từng tổ chức quan sát nhật thực toàn phần mà thu lợi lớn nhờ dịch vụ du lịch thì thật xót cho nước ta. Thôi, đành rút kinh nghiệm sâu sắc mà chờ dịp tới, vào ngày 11-4-2070!

            Nhật thực toàn phần đạt đến cực đại lúc… lù lù một đám mây che tịt bầu trời! Dĩ nhiên, chẳng ai thấy nhật hoa, tai lửa, lẫn chuỗi hạt Baily. Trời không “tối sầm giữa ban ngày”, chỉ sáng dịu từa tựa xế chiều một hôm nào tạnh ráo. Vậy nên, có nhìn toét mắt cũng không thấy giữa trưa hiện dần lên những chấm sao. Lại càng không thấy chim về tổ, gà về chuồng, và muỗi bay ra. Chỉ thấy trên mấy vồng dưa, bầy chuồn chuồn nhởn nhơ lượn suốt từ sáng đến giờ.

            Giáo sư Nguyễn Quang Riệu tặc lưỡi:

            – Tiếc quá! Đúng lúc nhật thực tối đa thì bị mây che nên nhật hoa không hiện ra nổi! Tuy nhiên, qua viễn kính vô tuyến, chúng ta biết cường độ mặt trời giảm rõ rệt.

            Một lão nông từ Đồng bằng sông Cửu Long, nơi vừa bị lũ lụt lớn, cố lặn lội ra Bình Thuận, leo lên núi Tà Zôn để quan sát nhật thực toàn phần. Không giấu nỗi vẻ thất vọng, lão nông oang oang:

            – Chèng đéc ôi! Thiên hạ đồn nhảm rằng nhật thực thì trời tối thui và mưa liên tục 7 ngày đêm, đại hồng thủy, bệnh tật tùm lum tà la… Té ra chỉ vậy! Dân đen nói trật đã đành, còn các nhà khoa học trắng mà phát biểu cũng không trúng hả?

Hình ảnh nhật thực chụp vội nơi Tà Zôn. Ảnh: Koutchmy

Đúc kết sơ bộ

            Trở về Sài Gòn đúng lúc các cơ quan khí tượng thủy văn loan rằng gió mùa đông bắc và áp thấp nhiệt đới chuyển thành bão số 10, tôi vẫn tìm một số nhà khoa học đầu ngành thiên văn để thắc mắc.

            Giáo sư Phạm Viết Trinh – chủ tịch Hội Thiên văn vũ trụ Việt Nam– lý giải:

            – Ở Tà Zôn, phút nhật thực toàn phần bị mây che nên không thể thấy các vì tinh tú. Chứ các nhóm quan sát ở Bình Long (Sông Bé) và Bảo Lộc (Lâm Đồng) đều khẳng định thấy rõ nhật hoa, tai lửa, vòng kim cương đỏ, lại thấy cả sao Kim và sao Mộc, có người tinh mắt còn nhìn được sao Tâm trong chòm Thần Nông nữa đấy. Nhiều điểm quan trắc từ nước ngoài, nơi có dải nhật thực toàn phần băng qua, như cảng Diamond (Tây Bengal) và Neem Ka Thana (Ấn Độ), đều có thông tin tương tự.

Nhật thực toàn phần 24-10-1995 được quan sát tại Sariska, Ấn Độ

            Tôi hỏi:

            – Qua sự kiện nhật thực toàn phần 24-10-1995 này, chúng ta sơ bộ rút ra những điều gì, thưa giáo sư?

            – Đầu tiên, cần phê phán: cách tuyên truyền trước đó thiếu nhất quán khoa học. Chẳng hạn đêm 23-20-1995, trên tivi, cứ 15 phút phát cảnh báo “coi chừng hỏng mắt” khiến quần chúng hoang mang. Báo nọ, báo kia cũng đưa tin với nhiều nội dung trái ngược. Thứ hai, đây là dịp vô cùng thuận lợi nhằm tranh thủ sự hợp tác, sự giúp đỡ của các nhà khoa học trên thế giới, thế mà Việt Nam bỏ lỡ những trường hợp quá uổng phí. Chẳng hạn đoàn nghiên cứu được dẫn đầu bởi giáo sư Kozai (giám đốc Đài Thiên văn Mitaka Tokyo của Nhật, nguyên chủ tịch Hội Thiên văn học quốc tế) đã chuyển dụng cụ quan trắc sang Việt Nam và đã mua vé máy  bay sẵn, nhưng rồi vẫn không được giải quyết visa để đến Tà Zôn. Thứ ba, trình độ và khả năng dự báo khí tượng thủy văn của Việt Nam cần tăng cường nhiều hơn nữa. Dù đã chọn Tà Zôn làm điểm quan sát tối ưu, nhưng đến phút cuối lại tiên lượng rằng sẽ có mây đùn, thì các nhà khoa học ắt chuyển ngay đến địa điểm khác, đỡ bỏ phí cơ hội ngàn vàng! Thứ tư, nhân dịp này, nên tiến hành những hoạt động cổ vũ mạnh mẽ cho việc nghiên cứu và học tập thiên văn học trên toàn quốc.

            Không chỉ giáo sư Phạm Viết Trinh, mà nhiều nhà khoa học trong lẫn ngoài nước tham gia hội thảo tại phòng khánh tiết trên tầng 5 khách sạn Majestic đều xác nhận: sự thật, đây là lần đầu tiên họ tận mắt quan sát nhật thực toàn phần.

            Nhà thiên văn học trẻ tuổi Nguyễn Trọng Hiền (Viện Đại học Chicago của Hoa Kỳ) vừa từ Bình Long về, hớn hở khoe với tôi:

            – Đời Hiền được trải qua 2 cái đêm kỷ lục, anh Phanxipăng ạ. Đêm dài nhất, vào năm ngoái, ở Bắc cực, những… 6 tháng. Và đêm ngắn nhất, khoảng 90 giây, Hiền mới chứng kiến ngay trên nước Việt thân yêu. ♥

Phanxipăng quan sát nhật thực toàn phần trên núi Tà Zôn. Ảnh: Đào Ngọc Đồng

          

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Thế Giới Mới số 158 (6-11-1995)

Rồi in trong sách Cốt cách mùa xuân của Phanxipăng (NXB Thuận Hóa, Huế, 1997)

Read Full Post »

            Lê Bá Khánh Trình chơi với tôi từ thuở thường nhật khoác áo trắng đơn sơ mộng trắng trong (trích bài thơ Áo trắng của Huy Cận). Hồi đó, hai đứa là bạn “đồng môn, dị phái”. Nghĩa là cùng khối lớp tại trường Quốc Học – Huế, nhưng đứa chuyên… tán (toán), đứa chuyên… ăn (văn). Giai đoạn Trình qua Liên Xô làm sinh viên rồi nghiên cứu sinh, lần nào về nước, Trình cũng tìm tôi để “bù khú cho đã”. Giờ đây, hạnh ngộ giữa Sài Gòn, hai đứa lại là bạn “đồng ngành, dị nghệ”. Nghĩa là cùng gọi Bộ Giáo dục và Đào tạo là “Bộ mình”, nhưng đứa thường xuyên bám bục giảng, đứa mải mê viết văn và làm báo.

            Hơn thập niên qua, trừ những trường hợp bất khả kháng, hai đứa vẫn gặp gỡ cuối mỗi tuần để “mần cái week-end cho bổ não” như Trình nói. Bao buổi “trà dư tửu hậu”, Trình và tôi khề khà kể cho nhau nghe vô số chuyện vui buồn, trong đó có lắm điều liên quan thi cử. Nay tôi tái hiện vài buổi thi gay cấn đầy lý thú mà Trình từng tham dự.

Lê Bá Khánh Trình tại trường Quốc Học – Huế năm 1979

            IMO 1979: biến sai lầm thành… xuất chúng

            Năm 1979, thi học sinh giỏi toán toàn quốc, Lê Bá Khánh Trình đoạt giải tư. Trình được chọn vào đội tuyển Việt Nam, được nhà giáo Lê Hải Châu làm trưởng đoàn đưa sang London – thủ đô Anh quốc – dự thi Olympic toán quốc tế lần thứ XXI. Kỳ thi thường niên này gọi theo tiếng Anh là International Mathematical Olympiad, nên vẫn được viết và nói tắt gộp với năm tổ chức thành IMO 1979.

            Từ đất nước nhiệt đới tràn trề nắng gió Á Đông chuyển sang xứ sở sương mù giá lạnh Âu Tây, cơ thể Trình chưa kịp thích nghi bèn ho sù sụ. Bước vào phòng thi, Trình cắm cúi vừa ho vừa làm bài. Xong xuôi, đọc lại, Trình toát mồ hôi hột: “Hớ rồi! Hiểu lầm đề rồi!”.

            Đề thi gồm 6 bài toán, trong đó bài hình học yêu cầu giải “cùng chiều” nhưng Trình lỡ lao phía “ngược chiều”. Nhìn đồng hồ, mặt Trình thêm tím tái: chỉ còn 15 phút. Làm sao giải thật đúng bài hình trong thời gian nhanh nhất?

            Trình ôm ngực ho cả tràng “giải lao”, đoạn cuống quýt “đại tu” bài thi. Giây phút ấy, bao nhiêu kiến thức cần thiết mà Trình đã trang bị đều được huy động tối đa. Trình nộp bài muộn gần 10 phút. Giám thị cười:

            – Thí sinh này bị bệnh. Thông cảm đấy nhé!

            Kết quả IMO 1979 quá thú vị với giòng giống Lạc Hồng. Đội tuyển Việt Nam gồm 4 thí sinh thì 3 người đoạt huy chương bạc: Phạm Hữu Tiệp, Bùi Tá Long, Phạm Ngọc Anh Cương. Riêng Lê Bá Khánh Trình đạt tổng số điểm tối đa 42/42 nên đoạt huy chương vàng, lại hân hạnh nhận thêm giải đặc biệt.

            Trình thuật:

            – Bài hình, tớ vụng về giải nhầm theo phương pháp “ngược chiều”. Khi hí hoáy chỉnh sửa, tớ bật ra hai cách xử lý “cùng chiều”, trong đó có một cách mà ban giám khảo chấm giải đặc biệt. Tớ về Huế, được thầy Trần Văn Khải – giáo viên chủ nhiệm – khen bằng một từ duy nhất rất ý nhị: “Đặng”.

Bằng chứng nhận Lê Bá Khánh Trình đạt giải thưởng đặc biệt IMO lần thứ XXI được tổ chức tại London năm 1979

Lê Bá Khánh Trình (giữa) nhận giải thưởng IMO tại London năm 1979

             MGU 1984: bất ngờ 1/59

            Đại học Tổng hợp Matxkva mang tên Lomonosov được gọi theo tiếng Nga là Moskovskij Gosudarstvennyj Universitet, nên mọi người quen tắt hoá thành MGU (Московский государственный университет имени М.В.Ломоносова: МГУ). Ấy là năm 1984, Lê Bá Khánh Trình làm sinh viên khoa Toán – Cơ ở MGU. Chuẩn bị thi vấn đáp một môn, sĩ tử tất bật “đánh vật” với 60 câu hỏi đã được cho trước. Bận việc riêng đột ngột, Trình chỉ còn đủ thời gian để xem kỹ… 1 và chỉ 1 câu hỏi. Đó là định lý phát biểu “hơi bị”… lùng bùng. Đọc tới, đọc lui mấy chục lần, Trình cứ há hốc mồm:

            – Cha chả! Há lẽ đầu óc mình… lùng bùng dễ sợ vậy ư?

            Tức tối, Trình dành trọn cả buổi “xông pha” thư viện, tra cứu hàng chồng tư liệu, rốt cuộc mới vỡ vạc: phải nắm một định lý cơ bản của một ngành khác, áp dụng vào đây thì thấy rõ vấn đề. Sảng khoái, Trình ghé căng tin, xơi một chầu ngon.

            Đi thi, đầu óc Trình lại… lùng bùng:

            – Còn 59 câu hỏi chưa “khai hoang vỡ hoá”. Lo ơi là lắng!

            Cặp kính cận ngỡ nhoè mờ ngay sau khi Trình bốc đề: gặp 1 trong 59 câu… bí rị! Trình thở dài ngao ngán:

            – Hỡi ôi! Lâm thế nhai ớt hiểm! Đành chịu toe tua!

            Giám khảo Kirilov hầu như chẳng lưu ý đề của Trình số mấy. Ông bảo:

            – Hãy phát biểu định lý…

            Phép lạ xuất hiện giữa phàm trần: chính cái định lý từng khiến Trình lùng bùng. Trình vuốt mũi, phát biểu ro ro. Giáo sư Kirilov chất vấn:

            – Chỗ kết luận này được anh hiểu sao?

            “Chỗ kết luận này” đã buộc Trình sục sạo thư viện và đạt kết quả như ý. Nhờ vậy, Trình hít hơi thật sâu, rồi trả lời rất bình tĩnh và tự tin. Vẻ mặt giáo sư Kirilov rạng rỡ dần. Trình chưa giải đáp xong, vị giám khảo đã khen tốt và cho điểm cao.

            Lê Bá Khánh Trình tiết lộ:

            – Mãi sau, tớ biết rằng giáo sư Kirilov từng hỏi nhiều sinh viên về định lý… lùng bùng, nhưng thầy chưa hài lòng khi nghe trả lời. Tính tới thời điểm nọ, lối giải đáp của tớ được thầy Kirilov đánh giá tối ưu. May quá chừng chừng!

Lê Bá Khánh Trình tại Matxkva – thủ đô Liên Xô – năm 1986

Anh em ruột Lê Bá Khánh Trình và Lê Thị Ý Nhi tại Mạc Tư Khoa năm 1986

            Tốt nghiệp đại học: duyên số 35

            Thi tốt nghiệp đại học, sinh viên khoa Toán – Cơ của MGU quá ngán các môn khoa học xã hội vì dễ “le lưỡi” bởi kỳ thi vấn đáp khá rắc rối: có 80 vé, mỗi thí sinh “chầm chày may rủi” bốc 1 vé gồm 2 câu hỏi. Khoá trước truyền cho khoá sau kinh nghiệm vượt khó: tự phân công mỗi người học thật kỹ 1 vé (2 câu), sau đó cử đại diện lớp gặp bà Anna Pavlova thư ký hội đồng thi để khéo léo “cậy nhờ” giúp đỡ về cách sắp xếp các vé. Theo “quy định ngầm”, bà Anna chia 80 vé thành 8 hàng: hàng đầu gồm các vé mang số thứ tự lần lượt từ 1 đến 10, hàng nhì từ 11 đến 20, hàng ba từ 21 đến 30, v.v.

            Có sinh viên loan tin:

            – Thỉnh thoảng, xuất hiện vị giám khảo khó tính, đưa tay xoá mất thứ tự vé đã sắp sẵn trên bàn. Nếu thế thì sao?

            Trình mím môi:

            – Thì đen tối tận mạng, chứ trăng sao lấp la lấp lánh chi nữa!

            Mừng thay, giám khảo kỳ thi thuộc loại hiền như ma sœur (trích bài thơ Ma sœur của Nguyễn Tất Nhiên). Nơi hành lang, các thí sinh nhắc nhở nhau phải nhớ bốc chính xác số vé của mình, bởi nhầm lẫn thì gây tác hại nặng tình đồng chí lại đồng hương (trích bài thơ Tiễn bạn của Tố Hữu).

            35 là số “tiền định” của Lê Bá Khánh Trình. Ung dung vào phòng, bước đến bên bàn vé, Trình nhằm hàng tư và vị trí thứ 5 mà bốc. Lật vé, liếc xéo, Trình hoảng hốt: 36. Sự cố gì kỳ cục nhỉ? Bà Anna xếp lẫn lộn? Hay bạn nào trót loạng quạng tay chân?

            Nhanh hơn điện xẹt, Trình liền đặt tấm vé xuống chỗ cũ, đoạn cầm tấm vé ngay trước nó. Xung quanh, không ai nhìn thấy thao tác ảo diệu của “quái kiệt 4 mắt”. Kiểm tra vé, Trình gật gù:

            – Phù… 35 đây, con số tuyệt vời. Đảm bảo thi đậu.

Đôi bạn Phanxipăng và Lê Bá Khánh Trình tại Vũng Tàu năm 2007

Đôi bạn Phanxipăng và Lê Bá Khánh Trình tại Sài Gòn năm 2009

            Vài dòng tâm sự

            Tại MGU, Lê Bá Khánh Trình lấy bằng cử nhân năm 1986, sau đó làm nghiên cứu sinh dưới sự hướng dẫn của Viện sĩ Andrey Alexandrovich Gontrar – Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga. Năm 1990, Trình bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán lý thuyết, rồi về nước. Từ ấy đến nay, Trình giảng dạy giải tích tại khoa Toán trường Đại học Khoa học tự nhiên TP. HCM, đồng thời tham gia đào tạo các học sinh chuyên toán trường Phổ thông năng khiếu trực thuộc Đại học Quốc gia TP. HCM. Đội tuyển Việt Nam sang Mexico tham dự IMO 2005, Lê Bá Khánh Trình làm trưởng đoàn. IMO 2007 tổ chức ở Hà Nội, Lê Bá Khánh Trình là thành viên trong ban giám khảo.

            Mới đây, “mần cái weed-end” với tôi nơi bãi biển Vũng Tàu, Trình hàn huyên:

            – Vì nhiều lý do, thi cử là hoạt động không thể thiếu đối với nhiều bậc học. Thi tuyển học sinh giỏi một số môn dành cho cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc tế, cũng hết sức bổ ích. Sự may mắn hay xui rủi xảy ra với từng thí sinh trong thi cử là lẽ tất yếu. Tuy nhiên, để đạt được kết quả ưu việt, trước tiên thí sinh cần liên tục chăm học, chăm đọc, biết phương pháp giải quyết các bài tập, cố gắng rèn luyện tâm lý thi đấu vững vàng.

            Tôi cười:

            – Xuất hiện câu danh ngôn: “Thi cử là sự cần thiết đáng buồn”. Ai đã nếm trải những kỳ-thi-học-đường, sau đó vẫn cho rằng các kỳ “lều chõng” tạo dệt muôn kỷ niệm dễ thương. Phải vậy chăng?

            Lê Bá Khánh Trình nâng ly:

            – Mỗi lần thi cử, học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh không tránh khỏi lo âu, mệt mỏi, nhưng thu thập hàng loạt điều thú vị. Những kỳ-thi-học-đường dẫu dịu êm hay căng thẳng, chắc chắn rồi sẽ trở thành kỷ niệm vô vàn đáng yêu. Chứ trong cuộc mưu sinh, những kỳ-thi-ngoài-học-đường lắm phen nghiệt ngã, kinh khiếp đến khó lường!  ♥

 

Phanxipăng

Đã đăng Áo Trắng số 4 (bộ mới) phát hành ngày 1-7-2007

Read Full Post »

Older Posts »