Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy, 2011

Bình Thuận hấp dẫn

         

Nhắc đặc sản tỉnh Bình Thuận, nhiều người nghĩ ngay nước khoáng Vĩnh Hảo và nước mắm Phan Thiết. Nếu gặp dịp ghé chơi địa phương này lâu lâu, bạn còn được thưởng thức bao miếng thơm-tho-ngon-lành-hấp-dẫn ở miền biển xanh, cát đỏ.

Vui chơi nơi bãi biển Hàm Thuận Nam ở Bình Thuận với hậu cảnh là hải đăng Kê Gà / Khe Gà cao nhất và xưa nhất Đông Nam Á - 35m, tính từ ngọn đèn đến mặt biển thì 65m, xây năm 1898 – 1899 theo thiết kế của Chnavat. Ảnh: Đoàn Trọng Dương

K

há nhiều món, thoạt nghe tên, ngỡ quen thuộc lắm. Song, rảo gót qua nhiều địa phương, trực tiếp khảo nếm rồi, bạn sẽ đồng ý với tôi rằng Bình Thuận sở đắc. Mực chẳng hạn. Từ Nam chí Bắc, ai cũng từng xơi mực tươi lẫn mực khô. Thế nhưng, Bình Thuận có mực nửa-tươi-nửa-khô, dạng sản phẩm sơ chế, phải dùng tại chỗ, gọi là mực một nắng mực hai nắng. Không mềm như mực tươi, không cứng như mực khô, mực một nắng hoặc hai nắng vừa ngọt vừa dai với hương vị đặc thù. Đem mực này nướng thơm lừng mà chấm tương ớt sền sệt để làm “khúc dạo đầu” trước khi vào tiệc chính, hay nhấm nháp lai rai bù khú chén chú chén anh thì… hết sẩy!

Siêu đặc sản mực một nắng. Ảnh: Phanxipăng

Lóc & nước mắm

Tháng 2-2001, tôi ghé các xã miền núi thuộc huyện Hàm Thuận Bắc. Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận là nhà giáo Nguyễn Quang Kiệu cùng đi. Trên đường trở về Phan Thiết, ông Kiệu mời tôi vào quán Đầm Sen ven quốc lộ 1A:

– Phanxipăng thử dùng món cá lóc ở đây để xem đặc sản tỉnh này có gì khác lạ so với các nơi, nhé.

Tôi thầm nghĩ: bấy lâu nay, chắc chắn miệt vườn Nam Bộ thì treo giải nhất chi nhường cho ai về cá lóc hấp, cá lóc chiên xù, cá lóc đút lò, cá lóc nướng đất sét. Liệu cái quán nơi đèo heo hút gió kia đủ sức chế biến món cá lóc ngang tầm bao đầu bếp lão luyện phía Nam, cỡ bà Năm ở quận Phú Nhuận tại Sài Gòn được chăng?

Thực tế, món cá lóc ở đây được xử lý theo cung cách riêng, tạo cảm giác thú vị cũng rất riêng. Không dùng cá lóc to bự, quán Đầm Sen chọn những con cá vừa phải, chiên ngập dầu cho thật dòn. Dòn đến mức thực khách nhai nguyên đầu cá nghe rùm rụm tương tự nhai nem rán mới đạt yêu cầu. Thịt cá thì xé dọc theo thân, bỏ xương, đặt lên bánh tráng gạo dẻo, cuốn chung với rau sống. Cùng với bao thứ rau quen thuộc như xà lách, hành, ngò, húng, diếp cá, tần ô, tía tô, quán Đầm Sen còn dọn rau vị (tên khác là rau xá xị) và đọt non của cây vạn thọ. Nước chấm phù hợp đích thị nước mắm me – chẳng phải quả me, mà lá me đất quết tơi. Thú thật, tôi chưa bao giờ được thưởng thức món cá lóc đặc sắc và khoái khẩu đến thế.

Cá lóc chiên xù ở quán Đầm Sen, huyện Hàm Thuận Bắc. Ảnh: Phanxipăng

Võ Nguyên – cây bút thơ và văn xuôi ở địa phương – cho tôi hay:

– Cùng với Phú Quốc, Bình Thuận đây nổi tiếng toàn quốc về nghề làm nước mắm cổ truyền. Hảo hạng là nước mắm nhĩ, sản xuất từ cá cơm. Hiện tỉnh nhà còn làm thêm nước mắm iod dùng phòng chữa bệnh bướu cổ, được thị trường chấp nhận.

Thiên hạ thường khen nước mắm Phan Thiết. Xưa, sản phẩm này chứa trong tĩn, nên còn được gọi nước mắm tĩn. Xòm Lò Tĩn ở Phú Lâm, cách Phan Thiết về phía tây nam khoảng hơn cây số, từng xuất hiện để cung ứng các loại tĩn bằng đất sét nung. Sau, tĩn phải nhường chỗ cho chai lọ thủy tinh và bình nhựa đủ kích cỡ. Dù mang nhãn hiệu Phan Thiết, nhưng nước mắm còn được ra lò ở nhiều xã huyện duyên hải của tỉnh Bình Thuận. Công ty nước mắm Phan Thiết hiện thời có 3 phân xưởng chế biến tại xã Phú Tài (ngoại thành Phan Thiết), tại thị trấn Phan Rí Cửa thuộc huyện Tuy Phong, và tại thị trấn Lagi thuộc huyện Hàm Tân.

Một đồng nghiệp làm việc nơi tòa soạn báo Bình Thuận tiết lộ:

– Bà con đất này cho rằng nước mắm Phan Rí chất lượng cao hơn nước mắm Phan Thiết. Chẳng biết họ dựa trên tiêu chí nào để đánh giá. Theo thống kê, sản lượng nước mắm của toàn tỉnh mỗi năm đạt trung bình 20 triệu lít, gấp đôi Phú Quốc.

Cá bớp. Ảnh: Phanxipăng

Mú & dông

Nghe tên huyện đảo Phú Quốc của tỉnh Kiên Giang, tôi sực nhớ huyện đảo Phú Quý của tỉnh Bình Thuận. Anh Nguyễn Văn Thành – phó giám đốc Trung tâm Giáo dục thường xuyên ở Phan Thiết – mách:

– Lặn lội ra thăm Phú Quý, Phanxipăng nhớ dùng món “số zách”: cá mú tái mù tạt. Cam đoan chỉ cần xơi một lần, cũng đủ… nghìn năm hồ dễ mấy ai quên. Ngon hết sẩy!

Cá mú, còn gọi cá song, là họ cá được định danh khoa học Serranidae, thì tôi chẳng lạ. Trong vịnh Hạ Long và vịnh Thái Lan, tôi từng neo thuyền, câu cá mú tươi roi rói mà chén. Liệu cá mú Phú Quý có gì phi thường kiến thiên hạ ngợi ca quá chừng?

Mai Hoàng Quý – trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phú Quý – cười khà khà:

– Mú nhiều loài lắm, anh Phanxipăng à. Nào mú giấy, mú chiên, mú hồng, mú thông. Nào mú bông, mú vạch, mú cáo, mú mỡ. Riêng Phú Quý có loài cá mú đáng mặt “đại ca”: mú theo, còn gọi mú đỏ chấm xanh lân tinh.

Tập 1 Từ điển bách khoa Việt Nam (bản in năm 1995) ghi nhận ở Việt Nam đã gặp 42 loài thuộc họ cá mú. Một trùm nuôi cá mú tại Phú Quý là Lê Hoàng Phúc biểu lộ niềm tự hào:

– Khu vực biển Đông, hổng phải chỗ nào cũng sẵn mú theo. Giống cá đặc biệt này, hiện bán ngay bè nuôi với giá 520.000 đồng mỗi kí. Tại Phú Quý, thương lái vét sạch mú theo đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu. Do đó, các nhà hàng ở Phan Thiết còn khó kiếm mú theo, nói chi đến quán xá ở địa phương khác.

Mú theo loại I có con nặng 2kg. Tiếp khách quý, dân đảo mới chiêu đãi mú theo. Gồm hai món. Món nội: mú theo nấu tiêu hành. Món ngoại: mú theo tái mù tạt. Đầu bếp lạng phần thịt tươi, thái vuông vức, ướp đá lạnh. Đợi lát cá săn chắc, thực khách gắp chấm mù tạt pha chanh với nước mắm, ăn kèm rau sống, đậu phộng rang, bánh tráng nướng dòn bóp vụn.

Tôi gật gù:

– Tương tự tôm sú tái mù tạt, nhưng rõ ràng xơi món này sướng hơn gấp bội.

Lê Hoàng Phúc giải thích:

– Gọi mú theo tái mù tạt là món ngoại, vì bắt chước cách chế biến của Nhật Bản. Phần còn lại, gồm đầu, đuôi, bộ lòng cá, được nấu tiêu hành theo kiểu quen thuộc để ăn với bún hoặc bánh mì thì không gì bằng.

Mai Hoàng Thái thêm:

– Du lịch Phan Thiết, khách thường tìm ăn món dông cho biết. Tuy nhiên, dông mập mạp nhất, ngon lành nhất, chẳng đâu sánh nổi dông Phú Quý.

Là động vật bò sát mang tên khoa học Crotaphytus sp. thuộc dòng dõi “kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông”, dông sống chủ yếu trong các hang hốc tự đào ở đồi cát ven biển. Lâu nay, vào một số hàng quán trên địa bàn thành phố Phan Thiết, tôi đã thưởng thức khá nhiều món dông: dông nướng mọi, dông nướng lá cách, dông nướng ngũ vị, dông bằm xúc bánh tráng, dông xào xả ớt, dông kho nước dừa, trứng dông chiên bơ, cháo dông. Được biết dân tộc Chăm có món jah truyền thống, đó là canh rau đắng nấu thịt dông. Cánh bợm nhậu lại khẳng định mỏ dông chiên hoặc nướng rất đáo khẩu: nhất đầu thỏ, nhì mỏ dông. Dẫu ví von thế, dân Bình Thuận luôn bảo rằng thịt dông không những vượt thịt thỏ, mà còn hơn hẳn thịt gà. Vậy nhưng, chất lượng thực phẩm dông đạt mức xuất sắc là danh hiệu cần phải phong tặng dông Phú Quý mới hợp lý.

Giáo viên Lê Thiện Dũng – hiệu trưởng trường THPT Ngô Quyền tại Phú Quý – kể:

– Săn bắt mấy chú “khủng long tí hon” làm đồ mồi, đã xảy ra trường hợp có bà con phải… tiêu vong! Theo dấu bầy dông, người ta cứ mải miết đào hầm kiểu hàm ếch. Nhiều khi, hầm quá sâu, sập một phát thì… thôi đã thôi rồi! Cát vùng duyên hải Bình Thuận, như anh thấy, thường màu hồng và kết dính. Do đó, sập hầm cát rất nguy hiểm tính mạng.

Dông. Ảnh: Phanxipăng

Vĩ thanh

Bình Thuận có diện tích mặt biển 52.000km2, tạo nên một trong ba ngư trường lớn nhất Việt Nam. Đấy là nơi hai dòng hải lưu nóng và lạnh gặp nhau, thu hút nhiều loài hải sản tập trung với mật độ cao. Cá tôm cua ở đây lớn về trữ lượng, phong phú về chủng loại, giá trị cao về kinh tế. Nếu ngư dân Bình Thuận đủ điều kiện, khả năng khai thác hải sản có thể đạt 120.000 tấn/năm. Báo chí từng đề cập nghề câu cá ngừ đại dương và săn bắt cá mập lấy vi xuất khẩu tại Bình Thuận, song ít người lưu ý rằng vùng biển này chứa bao nguồn thức ăn dẫn đầu toàn quốc nhờ chất lẫn lượng. Ví dụ mực nang, mực ống, mực lá, hằng năm Bình Thuận cung cấp cho thị trường cả 100.000 tấn. Hoặc sò điệp sò lông, chẳng tỉnh nào được thiên nhiên ưu đãi cỡ Bình Thuận: mỗi năm khai thác hơn 200.000 tấn.

Sò điệp nướng mỡ hành. Ảnh: Phanxipăng

Ghé huyện Hàm Tân, nếu được ra Hòn Bà – một đảo nhỏ cách bờ chỉ 2 hải lý – mà nhâm nhi ốc giác nướng, tôm vỗ nướng, cua nướng, ghẹ nướng để khoan khoái đưa cay, du khách có thể nghĩ mình hân hạnh ngự cõi Phù Lai là “động tiên thứ 6 trong 36 động bồng bềnh ngoài bể cả” hệt cảnh Từ Thức xửa xưa từng thụ hưởng và được Nguyễn Dữ miêu tả qua tập Truyền kỳ mạn lục.

Dạo chơi Mũi Né – Hòn Rơm, bạn nên tạt vào mấy nhà hàng ở khu vực Mũi Đá Ông Địa thuộc xã Phú Hải, thử gọi dĩa dòm (loài nghêu biển có vỏ dài và đen) hầu khai vị với ngụm cognac hay whisky trong thời gian chờ đợi món chủ lực: gỏi cá. Hãy chọn gỏi cá mai, hoặc gỏi cá suốt, gỏi cá đục, gỏi cá rựa, gỏi cá bớp. Những lát cá được lạng mỏng, ướp nước cốt chanh, me quả, ớt trái, sao cho tái hồng, đoạn vắt thật ráo rồi vùi dưới lớp đậu phộng rang vàng ngậy. Thêm ít rau sống, bún, bánh tráng. Đặc biệt, chén nước chấm được pha chế cầu kỳ bằng kỹ thuật riêng, phối kết nhiều nguyên liệu – gồm tỏi, tiêu, ớt, đường, bột ngọt, chuối sứ, v.v. – hòa nước mắm nguyên chất, tạo thành hỗn hợp đặc quánh đậm đà. Liếc qua cỗ bàn, ai cũng thấy thèm. Ăn, càng “hoát nhiên đạt ngộ” rằng nghệ thuật phối hợp đa hương vị – mặn, ngọt, thơm, cay, nồng, bùi, béo, tanh, chua, chát, dòn, dẻo, dai – đến mức này ắt hài hòa tuyệt hảo.

Phân tích từ nhiều góc độ, một nhà nghiên cứu phỏng đoán gỏi cá Bình Thuận là sự dung hợp tối ưu khẩu vị của các tộc Kinh, Chăm, Raglay, Hoa và phải trải qua hàng trăm năm cộng sinh thử nghiệm thì mới trở nên món hấp dẫn. Tạm tính từ mốc Nhâm Thân 1692, năm Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên khai sinh cho vùng này là trấn Thuận Thành, phải chăng đặc sản gỏi cá Bình Thuận có truyền thống lịch sử hơn 3 thế kỷ?

Gỏi cá mai. Ảnh: Phanxipăng

Nhà giáo Nguyễn Văn Hiến – phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Thuận – nói với tôi:

– Tỉnh này có bờ biển Đông trải dài 192km. Đông đảo khách phương xa về Bình Thuận đều hào hứng thưởng thức bao hải sản. Thật ra, lật bản đồ, Phanxipăng thấy ngay toàn tỉnh gồm 8 huyện cùng thành phố Phan Thiết được phân bố từ rừng núi xuống đồng bằng duyên hải và ra tít ngoài khơi biển Đông. Địa hình đa dạng vậy, nguyên vật liệu để làm bếp núc chắc chắn dồi dào. Anh đã nếm món cá lóc đồng bằng ở quán Đầm Sen, huyện Hàm Thuận Bắc. Mai mốt, lên huyện Bắc Bình, anh sẽ biết thêm món chim cu quay rất độc đáo của núi rừng. Về phương diện văn hóa ẩm thực, Bình Thuận xứng đáng là “địa bàn trọng điểm”, chuyển tiếp giữa các vùng địa lý, nối Trung Nam Bộ với Đông Nam Bộ và cao nguyên Lâm Viên. Đặc điểm ấy quá thuận lợi cho việc đầu tư phát triển du lịch.

Nhà giáo Nguyễn Văn Thành cười:

– Nếu chẳng có chim cu thì đầu bếp thịt bồ câu. Xin mời Phanxipăng thưởng thức món bồ câu quay chính hiệu Phan Thiết.

Bồ câu quay chính hiệu Phan Thiết. Ảnh: Phanxipăng

Hồng Liên – nữ nhân viên xinh xắn của công ty du lịch địa phương – giới thiệu ngọt lừ:

– Khách mọi miền tới đây, tha hồ nếm lắm món hấp dẫn. Nhà hàng nổi Cà Ty sẵn thực đơn Âu – Á. Dùng cơm Việt Nam, đến Kim Sơn Lầu hoặc Nam Thạnh Lầu. Anh ghé quán Cây Dừa, dùng lẩu gà lá giang nổi tiếng rồi hở? Anh đến quán Kim Anh nếm canh chua Hai Mọi chưa? Đó là món canh nấu bằng cá dứa, ngon ơi là ngon. Chuẩn bị tạm biệt miền biển xanh, cát đỏ, anh định đem quà gì về? Nhiều người thường mang cốm sữa, kẹo hạt điều, và không quên thanh long. Bình Thuận được xem là “thủ phủ” của trái cây thanh long nhờ đạt sản lượng thu hoạch thường niên xấp xỉ chục nghìn tấn. Nhờ kỹ thuật canh tác mới, nhất là quy trình chiếu sáng nhân tạo, thanh long nơi đây đơm hoa kết quả suốt 12 tháng liên tục trong năm; mỗi trái cỡ nửa kí lô, lại có trái cân nặng những 1,3kg, anh à.

Gặp thiếu nữ duyên dáng, chuyện trò trôi chảy mượt mịn, tôi đâm… lúng ta lúng túng. Vậy mà Hồng Liên còn nháy mắt nghịch ngợm:

– Riêng anh, em xin biếu nguyên cặp thanh long thơm ngon, to tròn, mơn mởn. Anh thích nhá? ♥

Thanh long. Ảnh: Như Quỳnh

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Tài Hoa Trẻ 159 (16-5-2001)
  • Thế Giới Mới 715 (11-12-2006)

Read Full Post »

3 thập niên hệ Đặc biệt

Theo chủ trương của Bộ Giáo dục, từ năm 1980, khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tiến hành tinh tuyển sinh viên giỏi để lập hệ Đặc biệt. Đó là quy trình đào tạo đại học và cao học liền mạch 5 niên khoá.  

Logo hệ Đặc biệt

C

 uối thập niên 1970, Việt Nam trải qua giai đoạn lịch sử vừa thuận lợi vừa khó khăn: sau 21 năm bị chia cắt trong mưa bom bão đạn, đất nước mới hoà bình thống nhất song đời sống kinh tế – xã hội gặp lắm gian nan, nhiều tỉnh thành không đủ lương thực suốt thời gian dài. Ấy thế mà ban lãnh đạo Bộ Giáo dục lúc ấy, do bà Nguyễn Thị Bình (1) làm Bộ trưởng, GS.TSKH. Nguyễn Cảnh Toàn (2) làm thứ trưởng, ban hành chủ trương độc đáo: thử nghiệm tuyển chọn sinh viên giỏi để lập hệ Đặc biệt với quy trình đào tạo đại học và cao học liền mạch 5 niên khoá, bắt đầu từ năm 1980 tại khoa Ngữ Văn và khoa Toán trường Đại học Sư phạm Hà Nội (3).

Thuở đó, trở thành nghiên cứu sinh sau đại học là điều cực kỳ gay go. Sau 4 niên khoá làm sinh viên, cầm mảnh bằng cử nhân loại giỏi, được giữ lại trường để nghiên cứu và giảng dạy nhiều năm, rồi mới thi vào hệ cao học, đỗ thì học tập trung 2 niên khoá nhằm bảo vệ thạc sĩ. Chủ trương lập hệ Đặc biệt tạo mũi đột phá mới đáng chú ý.

Đại học Sư phạm Hà Nội thuở bấy giờ thu hút đông đảo sinh viên dồi dào năng lực, nhất là lực lượng học sinh giỏi cấp quốc gia và cấp tỉnh. Tuyển chọn thành phần ưu tú trong số này để lập hệ Đặc biệt, thật đắc sách. Thế nhưng, khoa Toán mấy phen tổ chức thi đều không đạt kết quả cao như ý. Khoa Ngữ Văn chiếm ưu thế, lập được hệ Đặc biệt với lớp 1 vào niên khoá 1980 – 1981, lớp 2 vào niên khoá 1981 – 1982, lớp 3 vào niên khoá 1982 – 1983, nghỉ một năm học, lớp cuối vào niên khoá 1984 – 1985.

Sinh viên lớp đầu tiên của hệ Đặc biệt cùng quý thầy cô của khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 năm 1984 trước dãy nhà A9

GS. NGND. Nguyễn Đình Chú – chủ nhiệm đề tài đào tạo hệ Đặc biệt – cho biết:

– Mục đích chính của hệ Đặc biệt là đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy xuất sắc cho các trường đại học và cao đẳng khắp cả nước. Với quy cách tinh tuyển học viên đạt chất lượng cao, với phương thức học tập liền mạch 4+1 năm, hệ Đặc biệt không chỉ tiết kiệm thời gian mà thu hoạch kết quả rất đáng phấn khởi. Nguồn kinh phí dành cho hệ Đặc biệt do Bộ Giáo dục cấp. Hồi ấy, sinh viên bình thường nhận học bổng mỗi tháng 18.000 đồng, nhưng sinh viên hệ Đặc biệt được hưởng lương tạm tuyển (bằng 85% lương chính thức) là 27.000 đồng.

Hệ Đặc biệt dẫu ít học viên, chỉ 4 lớp Ngữ Văn, song đã cung cấp nguồn nhân lực phụng sự xã hội đáng kể. Trước tiên, đó là các giảng viên đại học và cao đẳng, cùng các cán bộ nghiên cứu lẫn quản lý giáo dục. Ở Hà Nội: Đỗ Xuân Thảo, Lã Thị Bắc Lý, Dương Thị Hương, Phan Thị Hồng Xuân, Trần Hạnh Mai, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Trọng Hoàn, Trần Thị An, Trần Thị Vượng, Nguyễn Thị Nương, Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Duy Kha, Chu Thị Lý, Trần Hiền Lương, Nguyễn Hồng Vân, Nguyễn Ngân Hoa. Ở Thái Bình: Vũ Thị Lan, Nguyễn Đình Hiểu, Nguyễn Thị Hải. Ở Hải Phòng: Trần Thuý Hà, Lê Thuý Hà. Ở Hải Dương: Vũ Thuỳ Nga. Ở Hà Nam: Trương Văn Việt. Ở Nam Định: Trần Ngọc Hiển. Ở Quảng Trị: Nguyễn Thảo Nguyên, Nguyễn Thị Hiền. Ở Thừa Thiên – Huế: Trương Thị Nhàn. Ở Đà Nẵng: Nguyễn Thị Trúc. Ở Bình Định: Phạm Hồng Thuỷ. Ở Đăklăk: Trần Tuý. Ở TP.HCM: Đinh Phan Cẩm Vân, Triệu Thị Huệ. Ở Vĩnh Long: Lại Thị Bích Tuyết. Trong số ấy, nhiều người đạt học vị tiến sĩ (TS), một số đã được phong học hàm phó giáo sư (PGS). Những trường hợp không lên bục giảng thì chuyển sang hoạt động các lĩnh vực khác, đóng góp nhiều thành quả rất tích cực. Báo chí có Đoàn Công Huynh, Vũ Trọng Thanh, Phan Chí Thanh, Trần Ngọc Tĩnh tức Phanxipăng. Kinh doanh có Đỗ Thị Bích Liên. Y tế có Vũ Thuý Nga. Hành chính có Cái Táng tức Cái Vĩnh Tuấn, Trần Yến Ngọc. Vân vân.

Hệ Đặc biệt vui mừng tái ngộ tại Hà Nội dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Ảnh: Hồ Điệp

Ngày thứ tư 13-10-2010, tại hội trường khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các thành viên xuất thân từ hệ Đặc biệt hiện cư trú tại nhiều tỉnh thành tụ họp. Lấp lánh trên ngực áo chiếc huy hiệu hệ, mọi người vui vẻ tiếp một số bạn bè đồng môn, đồng thời trân trọng đón quý thầy cô đến dự cuộc gặp mặt và liên hoan kỷ niệm 30 năm thành lập hệ Đặc biệt. Đó là GS. NGND. Nguyễn Đình Chú, GS. NGND. Nguyễn Đăng Mạnh, GS. NGƯT. Nguyễn Khắc Phi, GS. NGƯT. Nguyễn Thanh Hùng, PGS. NGND. Nguyễn Văn Long, TS. Phạm Thái Nghi.

Hệ Đặc biệt hân hoan gặp mặt ngày 13-10-2010. Ảnh: Nguyễn Hải Long

Hành khúc Tiến! – hệ ca do Trần Ngọc Tĩnh sáng tác thuở còn nấu sử sôi kinh – được mọi người hát vang:

Bốn phương trời về đây tay kết tay

Vai bên vai, ta phấn đấu, ta dựng xây

Nay sưa say trau kiến thức

Mai sau chăm lo đất nước

Nghe trong tim Tổ quốc luôn gọi mời…

GS. NGND. Nguyển Đình Chú tủm tỉm:

– Tôi đi dạy từ năm 1957 đến nay. Nhiều kỷ niệm nhất trong đời dạy học của tôi là hệ Đặc biệt do tôi thiết kế và điều hành. Có những thành viên thuộc hệ này đã lưu trong tôi bao kỷ niệm sâu sắc. Ấy là tình cảm. Xét về nhiều phương diện khác, thiết nghĩ nên có những nhìn nhận thấu tình đạt lý để đúc rút kinh nghiệm giáo dục bổ ích.

PGS.TS. Lã Thị Bắc Lý cài huy hiệu hệ Đặc biệt lên áo GS.TSKH. Nguyễn Khắc Phi. Ảnh: Phanxipăng

GS. NGND. Nguyễn Đăng Mạnh nói:

– Qua cuộc gặp mặt và liên hoan của hệ Đặc biệt, tôi nhận ra rằng mình chọn nghề giáo là rất đúng, rất chính xác. Hiện nay, quan hệ xã hội của chúng ta bị ô nhiễm, nhiều trường hợp ô nhiễm nghiêm trọng, nhưng quan hệ thầy trò vẫn trong sáng và trẻ trung. Chân thành cảm ơn các bạn.

PGS. NGND. Nguyễn Văn Long nhận định:

– Nhớ lại những ngày hệ Đặc biệt xuất hiện, cả nước khó khăn nhiều mặt, thậm chí thiếu cả gạo cơm. Trong hoàn cảnh ấy, lãnh đạo Bộ Giáo dục vẫn chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng với chủ trương lập hệ Đặc biệt. Để công chúng biết về hệ này, báo chí nên đăng những bài viết liên quan.

Đương kim chủ nhiệm khoa Ngữ Văn là PGS. TS. Đỗ Việt Hùng phát biểu:

– Hệ Đặc biệt là niềm tự hào của khoa, của trường. Mô hình đào tạo này rất cần được trao đổi ý kiến nhằm phát hiện nhiều điều tốt đẹp để kế thừa và phát triển, nhất là trong các lớp sinh viên tài năng hiện nay.

Mới đó mà đã 30 năm. Ảnh: Nguyễn Hải Long

Tình ca Chiều cuối tuần cư xá là tiết mục tự biên tự diễn ngân lên đầy xao xuyến. Rồi chụp ảnh lưu niệm. Sau đó, ô tô đưa mọi người đến nhà hàng cá lăng Sông Hồng 2 dự tiệc trưa thân mật. Buổi chiều, ô tô đưa cả đoàn dạo chơi 2 công trình vừa được gắn biển “kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”: đại lộ Thăng Long và làng văn hoá – du lịch các dân tộc Việt Nam.

Trên du thuyền dạo quanh hồ Đồng Mô, GS. TSKH. Nguyễn Khắc Phi cười tươi:

– Hệ Đặc biệt có nhiều ưu thế, nhưng đào tạo được 4 lớp thì không thể tiếp tục triển khai vì nhiều lý do. Thứ nhất, chỉ khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội thực hiện, thế là quy mô nhỏ lẻ. Thứ nhì, khi điều kiện vào hệ cao học thông thoáng thoải mái, nhiều trường trên toàn quốc đủ khả năng hướng dẫn bậc cao học, thì hệ Đặc biệt đã đến hồi… chung kết một cách vinh quang.

Thăm làng văn hoá – du lịch các dân tộc Việt Nam. Ảnh: Trần Hạnh Mai

Trước và sau cuộc gặp mặt và liên hoan kỷ niệm 30 năm hệ Đặc biệt, các thành viên dành thời gian dâng hương trước bàn thờ của quý thầy và bạn quá cố.

GS. TSKH. NGƯT. Nguyễn Hữu Việt Hưng – giảng viên khoa Toán trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội – ngợi khen:

– Hệ Đặc biệt của khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội giỏi giang, xinh đẹp, đậm đà bản sắc, do đó chiếm cảm tình của đông người. ♥

____________

(1)   Chính trị gia Nguyễn Thị Bình có họ tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa, chào đời ngày 26-5-1927 tại Sa Đéc, Đồng Tháp. Thuở bé, theo gia đình sang Campuchia, học Lycée Sisowath ở Phnom Penh. Năm 1944, về nước, tham gia hoạt động Việt Minh tại đô thị với bí danh Yến Sa. 1951 – 1953, bị Pháp cầm tù. 1955, tập kết ra Bắc, lập gia đình với ông Đinh Khang. 1962, quay lại Nam làm Uỷ viên trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng. 1968, trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận này dự Hội nghị Paris về Việt Nam. 1969, Ngoại trưởng Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. 1976 – 1987, Bộ trưởng Bộ Giáo dục. 1987 – 1992, Phó trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng. 1992 – 2002, Phó chủ tịch nước. 2002, nghỉ hưu.

(2)   GS. TSKH. Nguyễn Cảnh Toàn chào đời ngày 28-9-1926 tại Đô Lương, Nghệ An. 1942 – 1944, học sinh trường Quốc Học ở Huế. 1947 – 1954, dạy toán nhiều nơi. 1957, trở thành 1 trong 9 cán bộ giảng dạy đại học của Việt Nam lần đầu tiên sang Liên Xô làm thực tập sinh. 1959, tại Đại học Lomonosov ở Matxkva, bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (Việt Nam từ năm 1998 đến nay gọi là Tiến sĩ). 1963, cũng tại Nga, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ (Việt Nam từ năm 1998 đến nay gọi là Tiến sĩ khoa học). 1967 – 1975, Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1. 1976 – 1989, Thứ trưởng Bộ Giáo dục. 1994, nghỉ hưu.

(3)   Thành lập ngày 11-10-1951, Đại học Sư phạm Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường sư phạm trên toàn quốc. Giai đoạn 1966 – 1993, trường mang tên Đại học Sư phạm Hà Nội 1.

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Thế Giới Mới 908 (1-11-2010)
  • Tài Hoa Trẻ 666 (1-12-2010)

Rồi in trong sách 60 năm chân dung & hồi ức (Khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011)

Read Full Post »

Trần Vàng Sao là một trong những trường hợp đặc biệt của văn nghệ Việt Nam hiện đại. Với giọng điệu đầy cá tính, một số tác phẩm của anh đã tạo lắm hiệu quả đáng nhớ: Bài thơ của một người yêu nước mình (1967), Người đàn ông 43 tuổi nói về mình (1984), Buổi trưa giữa đường tôi ngồi núp mưa (1990) đem lại cho tác giả niềm vinh quang lẫn nỗi hệ luỵ. Bao năm nay, dưới mái nhà ở Vỹ Dạ, TP. Huế, Trần Vàng Sao còn say sưa vẽ tranh bằng nhiều chất liệu.

Chân dung Trần Vàng Sao. Ảnh: Phanxipăng

T

ôi thỉnh thoảng về Huế, khá thú vị khi gặp Trần Vàng Sao. Nâng tách trà, chung rượu, hoặc ly bia, chúng tôi rổn rảng chuyện nọ nối chuyện kia tưởng không dứt. Đã mấy lần, Trần Vàng Sao tặng tôi tranh do anh vẽ. Bức thì đậm nhạt bút chì. Bức thì ngoằn ngoèo mực xạ. Bức lại tung tẩy bột màu.

Xin ghi lại cuộc chuyện vãn giữa tôi với Trần Vàng Sao bên bờ sông Hương tháng 7-2010.

* Hình như cuộc đời Trần Vàng Sao luôn gắn kết với lắm ngộ nhận, xuất phát bởi nhiều lý do. Năm anh lọt lòng là ví dụ đơn giản. Phải rứa không hè?

– Đúng. Giấy tờ ghi mình sinh ngày 12-12-1942. Nhưng thực sự thì mình chào đời năm Tân Tị 1941.

* Vỹ Dạ là sinh quán và trú quán của anh. Còn nguyên quán?

– Làng Đông Xuyên, thôn Quảng An, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Để nhớ nguyên quán, vợ chồng mình dùng địa danh Đông Xuyên đặt tên cho đứa con trai.

* Anh sáng tác thơ từ bao giờ? Anh vẽ vời hồi nào? Anh cộng tác với báo chí từ thuở sinh viên ư?

– Trẻ con nào mà không vẽ? Mình chẳng phải ngoại lệ. Sau ni, nhiều lúc trơ trọi một mình, càng hì hục vẽ. Do không qua đào tạo, nên lắm phen mình rất lúng túng khi xử lý chất liệu. Như thuở mới chơi bột màu, mình không biết hoà trộn với keo dính nên vẽ xong một thời gian ngắn, bức tranh bị bong lở tả tơi! Còn thơ, mình bắt đầu mần từ năm 1959, lúc học lớp đệ tam, bữa ni là lớp 10, trường Quốc Học. Với báo chí thì từ thời học sinh, kéo dài sang thời sinh viên, mình đã viết bài đăng tập san Lành Mạnh. Chẳng hạn loạt bài điểm sách, như điểm các tập thơ Hoa đăng của Vũ Hoàng Chương, Hoa cô độc của Ngô Kha, Chuyện của nàng của Dương Diên Nghị, v.v.

Phanxipăng thăm Trần Vàng Sao tại nhà riêng ở Vỹ Dạ, Huế. Ảnh: Nguyễn Thị Hay

* Kỷ niệm của anh về thuở lên rừng rồi ra Bắc?

– Tại Huế, mình với Nguyễn Thiết, Lê Minh Trường, Nguyễn Đình Nghĩa, Lê Văn Sắc, v.v., in và rải truyền đơn chống đế quốc Mỹ xâm lược. Bị lộ, cảnh sát lùng sục, rứa thì mình phải lên xanh vào tháng 6-1965. Ở trên rừng, quá nhớ Huế, nhưng mình chẳng được về Huế, ngay cả dịp Tết Mậu Thân 1968. Chẳng may mình bị thương, lại thêm loét dạ dày, phải ra Bắc điều trị năm 1970. Hồi ký Tôi bị bắt do mình viết năm 1993 đã kể lại thời gian mình bị rơi vào hoàn cảnh quá đỗi éo le tại miền Bắc từ năm 1972 đến mãi sau ni.

* Dẫu sao, bây giờ anh cũng có lương hưu.

– Ngày 16-8-1981, mình nghỉ công tác tại UBND xã Hương Lưu. Quyết định thôi việc của mình do ông Nguyễn Đức Hân – Phó Chủ tịch UBND thành phố Huế – ký ngày 20-5-1982. Ban đầu, mình nhận trợ cấp hằng tháng 44 đồng 9 xu. Ngày 1-7-1986, Sở Thương binh – Xã hội Bình Trị Thiên xét lại trường hợp mình, cho hưởng trợ cấp hưu trí hằng tháng 217 đồng 5 hào. Bữa ni thì mức lương hưu mình mỗi tháng 1,6 triệu đồng.

* Kể tí chút về bà xã Nguyễn Thị Hay cùng các con của anh được chăng?

– Hay rất… hay. Nàng người làng Dương Nỗ, xã Phú Dương, huyện Phú Vang. Nhà vườn của ông bà ngoại nàng hiện chừ trở thành di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh từng sống giai đoạn 1898 – 1900. Cha nàng lại là trung tá chế độ cũ, từng làm quận trưởng Phú Vang. Tháng 1-1976, hai đứa cưới nhau. Lúc đó, Hay học lớp Y tế xã ở trường Trung học Y tế Bình Trị Thiên. Năm 1977, đẻ con gái đầu lòng, tên thân mật là Bồ Câu, giấy tờ thì Nguyễn Cát Hiên. Đến tháng 4-1979, Hay tốt nghiệp Trung học Y tế, tháng 6-1979 đi làm ở trạm y tế phường Vĩnh Lợi, đầu năm 1980 thì nàng nghỉ, ra Vinh (Nghệ An) buôn bán nào cà phê bột, nào phân đạm, nào bút chì, nhưng lỗ nặng, bèn về Huế bán lẻ thuốc lá và bánh kẹo, rồi buôn bán trái cây, rồi gánh thuê nước đá tại chợ Đông Ba, rồi nấu bánh canh bán nhiều nơi nhằm mưu sinh qua ngày. Năm 1982, đẻ con thứ nhì, trai, tên thân mật là Bờm, giấy tờ thì Nguyễn Đông Xuyên. Nay, Bồ Câu đã có chồng với 2 con, Bờm đã có vợ với 1 con.

Chú rể Trần Vàng Sao bên cô dâu Nguyễn Thị Hay trong ngày cưới vào tháng 1-1976

* Bút danh Trần Vàng Sao xuất hiện bao giờ? Anh sáng tác Bài thơ của một người yêu nước mình trong hoàn cảnh nào?

– Nhiều người tưởng mình ký bút danh Trần Vàng Sao lúc ở côi ngàn. Không phải mô. Mình chọn bút danh Trần Vàng Sao khi ở Huế, từ bài thơ Khởi hành. Tập san Nhận Thức đăng tác phẩm ni, nhưng ban biên tập lo ngại lộ bí mật nên giản lược Trần Vàng Sao thành Trần Sao. Tháng 6-1965, mình lên rừng. Cuối năm 1967, mình bị sốt, phải vô trạm xá chiến khu để điều trị. Lúc nớ, Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế thực hiện tập văn thơ Nổi lửa. Anh em tới trạm xá hỏi bài, mình viết ngay một mạch Bài thơ của một người yêu nước mình, kể toàn chuyện đời mình. Cuối bài thơ, mình ghi rõ ngày sáng tác: 19-12-1967. Tập Nổi lửa được in ronéo theo phương pháp thủ công ở chiến khu, chỉ mấy chục bản. Không hiểu bằng cách chi mà Bài thơ của một người yêu nước mình của Trần Vàng Sao được phổ biến nhanh chóng và sâu rộng.

* Nhưng nói lái bút danh Trần Vàng Sao thì hiển hiện số phận anh cực kỳ nhọc nhằn gay cấn: Trào Vàng Sân!

Bài thơ của một người yêu nước mình được văn đàn cùng bạn đọc miền Nam lẫn miền Bắc khen ngợi. Nhiều sách in Bài thơ của một người yêu nước mình, chẳng hạn 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2007). Rứa mà năm 1976, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế ấn hành Huế từ ấy, tập thơ chọn lọc nhiều tác giả, thì nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rằng nhạc sĩ Trần Hoàn muốn mình đừng ký Trần Vàng Sao mà ký Nguyễn Đính. Mình cự: “Đăng hay không là quyền anh. Đổi tên tác giả là quyền tôi. Tôi không bao giờ đổi tên Trần Vàng Sao. Nếu đăng, anh không được quyền đổi tên tác giả.” Lúc đó, báo Văn Nghệ Giải Phóng in lại Bài thơ của một người yêu nước mình với bút danh Trần Vàng Sao. Do đó, Trần Hoàn – lúc nớ mần Trưởng ty Văn hoá tỉnh Thừa Thiên – đồng ý giữ nguyên bút danh Trần Vàng Sao ở 2 bài thơ Nổi thêm lửa căm thùBài thơ của một người yêu nước mình trong tập Huế từ ấy. Sau, nhờ bạn bè, mình thỉnh thoảng đăng thơ trên tạp chí Sông Hương, được nhuận bút, được giải thưởng, nhưng mấy lần mắc nạn. Tháng 7-1988, Sông Hương 32, số kỷ niệm 5 năm tạp chí ra đời, đăng bức tranh mình tự hoạ và bài thơ Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình. Tháng 4-1990, Sông Hương 42 đăng 3 bài thơ của mình là Buổi trưa giữa đường tôi ngồi núp mưa, Những điều có khi hôm nay bỏ qua không nhớ, Lúc đó thế này em ơi. Ối chao ôi! Mấy sáng tác nớ bị quan chức cùng báo in, đài phát thanh và truyền hình ở địa phương xỉ vả thậm tệ, có kẻ dám lăng nhục mình là chó!

* Vẽ tranh thì anh lại ký họ tên thiệt Nguyễn Đính. Trong nghệ thuật tạo hình, đề tài nào khiến anh cảm thấy thú vị nhất?

– Tranh, có những bức mình chép, có những bức mình sáng tạo ít nhiều. 10 bức tranh chăn trâu do mình chép lại Thập mục ngưu đồ từ sách Thiền. Bồ Đề Đạt Ma và bài tới, thoạt tiên mình chép, dần dà mình bóc tách một số hoạ tiết rồi bố cục theo ý riêng. Cuối mỗi năm âm lịch, mình vẽ con vật chuẩn bị cầm tinh năm mới để treo chơi Tết. Năm trước, Mậu Tý 2008, con chuột. Năm ngoái, Kỷ Sửu 2009, con trâu. Năm ni, Canh Dần 2010, con cọp. Năm tới, Tân Mão 2011, con mèo. Bìa và một số trang ruột sách Tuyển tập truyện cười của Hoàng Thiếu Phủ (NXB Trẻ, 1995) sử dụng tranh mình vẽ lại bộ bài tới. Với bản thân mình, thích nhất vẫn là vẽ sư tổ Đạt Ma. ♥

Bồ Đề Đạt Ma. Tranh mực xạ: Nguyễn Đính / Trần Vàng Sao

Phanxipăng

Đã đăng Tài Hoa Trẻ 675 (12-1-2011)

Read Full Post »

Là một tín ngưỡng dân gian cổ truyền, khi công khai, khi lén lút, đồng bóng, còn gọi đạo Mẫu hoặc Thiên Tiên Thánh giáo, hiện hữu khắp mọi tỉnh thành ở nước ta. Trong các am, miếu, đền, phủ, vào những ngày mùng 1, 14, rằm, 29 hoặc 30, cùng các lễ vía, con nhang đệ tử tụ tập cúng cầu, hầu giá, số lượng thường chỉ dăm bảy người, nhiều lắm cũng chỉ vài mươi. Riêng điện Hòn Chén / điện Huệ Nam – một di tích đặc thù của cố đô Huế – thì đều đặn mỗi năm 2 lần, tháng 3 và tháng 7 âm lịch, thu hút hàng nghìn ông đồng bà cốt gần xa nô nức đổ về trẩy hội với bao nghi thức hết sức lạ thường.

Điện Hòn Chén. Ảnh: Liêm Hoa

Ông lên, ông nhảy lom xom

Bạn chứng kiến hiện tượng hầu đồng bao giờ chưa?

Năm 1915, một người Pháp là H. Délétie đã tường thuật trong bài La fête du Ruoc-sac de la Déesse Thiên-Y-A-Na au temple Huê-Nam-diên / Lễ rước sắc của nữ thần Thiên Y A Na ở điện Huệ Nam đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH: Tập san Đô Thành Hiếu Cổ). Cảnh tượng ấy diễn ra hồi đầu thế kỷ XX cũng chẳng khác hôm nay bao nhiêu. Thoạt tiên thì xông trầm, đốt nhang, hiến cúng lễ vật, tuyên đọc sớ điệp, sì sụp bái lạy và “lầm rầm khấn vái nhỏ to”. Dàn bát âm – gọi là cung văn – bắt đầu sửa soạn nhạc cụ: đàn nhị, đàn nguyệt, kèn sona, trống bản, sênh tiền. Sau khúc tiền tấu đầy kích động, đồng cô bóng cậu nhập vào một con nhang đệ tử nào đấy rồi, tức thì cung văn chuyển giọng ừ ứ ư:

Khói hương nghi ngút án tiền,

Mời cô Bơ giáng hạ, giã non Tiên, cô về.

Cô Bơ linh hiển ai bì…

Cô Bơ là cách gọi kiêng cô Ba, hồn thiêng đồng nữ ở cõi “tứ phủ công đồng”. Có nhiều cô Ba lắm: cô Ba Ngoại Cảnh này, cô Ba Chín Suối này, cô Ba Thoải / Thuỷ Phủ này, v.v. Đó là 1 trong 12 giá phụ, sau các giá chính gồm “ngũ vị thánh bà” và “lục vị tôn ông”. Vì thế, ốp đồng còn được gọi hầu giá hoặc hầu bóng.

Cô Bơ Thượng Ngàn tại Phủ Dầy, Nam Định. Ảnh: Phanxipăng

Người lên đồng, dù nam hay nữ, đều phục trang cực kỳ đặc biệt. Áo mớ ba mớ bảy nhiều màu. Thắt lưng kim tuyến. Quần thắt chẽn ống. Giày vải hoặc hài nhung. Tóc chít khăn xếp xanh đỏ. Vai khoác lụa là. Tai, tay, cổ và cả cườm chân đều đeo vàng bạc ngọc ngà lấp lánh. Mặt nhồi phấn. Môi tô son. Mắt kẻ chì. Có trường hợp phải bôi mặt đen sì, vai quàng dây leo, eo đóng khố, tay cầm khèn hoặc quấn luôn con… rắn (làm giả bằng rễ cây) nếu nhập vai ông Bảy hay ông Chín Thượng Ngàn. Lại có lúc họ còn đội lốt cọp để làm Hạ Ban, tức thần Hổ.

Trong ánh sáng đèn nến, hương khói trầm nhang và lời ca tiếng nhạc, xác đồng ngồi trước án thờ, đầu và mặt trùm khăn che kín. Chợt xác đồng rùng mình, lắc qua lắc lại rồi đột ngột đứng phắt dậy, thét vang một tiếng cùng lúc giật bỏ chiếc khăn trùm và nhảy cà tưng. Ví như đó là nữ đệ tử hầu giá cô Ba thì sao? Chân cô nhún. Tay cô múa. Vai cô giật giật. Ngực cô phập phồng. Cô đánh mắt lúng liếng nhìn quanh và nhoẻn miệng cười, chao ôi là tình tứ. Lát sau, cô tiến sát án thờ, rút chiếc quạt cầm tay, vừa nhảy, vừa phe phẩy. Lập tức, cung văn hát bài múa quạt:

Đôi tay phấp phới ánh hồng,

Quạt cô yểu điệu mát lòng tôi con.

Quạt cô, chiếc quạt vàng son,

Miệng cô chúm chím, cô giòn, cô xinh.

Bỗng cô trao quạt cho các đệ tử chầu rìa. Đoạn, cô rút mái chèo và khoắng ào ào trong không khí. Cung văn chuyển sang lời ca chèo đò:

Bỏ quạt, cô múa chèo loan,

Thuyền trôi nhè nhẹ, cô khoan thai chèo.

Buông mái chèo, cô cầm nón mà ngắm nghía, rồi uốn éo lượn lờ theo bài hát chầu văn múa nón:

Tay cô cầm nón bài thơ,

Nón nhân, nón ngãi, nón chờ đợi ai?

Cô thơm như thể hoa nhài…

Nói cho đúng thì các cung văn phải theo bóng đồng mà ứng tác lời ca và điều chỉnh nhịp phách thích hợp. Điều này hoàn toàn trái ngược với khiêu vũ: người không nhảy theo nhạc, mà nhạc phải nhót theo người. Thật ra, các cung văn chuyên nghiệp đã thủ sẵn cả kho tàng văn nghệ dân gian để vừa tận dụng vốn cũ, vừa cải biên hoặc sáng tác mới, kịp thời bám sát các vũ điệu khá quen thuộc của quý ông bà cô cậu: múa quạt, múa nón, múa bài bông, múa độc kiếm, múa song kiếm, múa thiết bản, múa chuỳ, phi ngựa, bắn cung, v.v.

Một vũ điệu khá phổ biến trong hầu giá là múa mồi: dùng tay kẹp ống giấy tròn nhỏ đã tẩm sẵn paraffin / paraffine / thạch chá, đốt cháy phừng phừng, mà uốn éo. Trò múa lửa này trông khá ngoạn mục, nhất là về đêm, tuy nhiên chính nó là nguyên nhân gây ra không ít vụ hoả hoạn làm thiêu rụi miếu đền nhà cửa!

Múa mồi. Ảnh: Phanxipăng

Con nhang đệ tử phần đông là dân thợ thuyền và giới tiểu thương, chưa học qua vũ đạo cùng quyền cước lẫn binh khí gì cả, do đó mỗi người lên đồng thì nhảy một kiểu, miễn sao hao hao các vũ điệu những kẻ khác nhập đồng. Sau các màn múa, tuỳ từng giá đồng, người hầu bóng sẽ cất tiếng dạy bảo đủ điều cho các “thằng nam con nữ” tham dự buổi lễ. Nếu ông Chín Thượng Ngàn thì hú hét quát tháo ầm ĩ. Còn cậu Hoàng Mười lại răn đe từ tốn, nhẹ nhàng. Lắm phen hứng khởi, vai đồng lấy các vật phẩm cúng trên án thờ như hoa quả, bánh kẹo, xôi chè, kể cả tiền thật để ban lộc cho quan khách. Thậm chí có tay mới xoá nạn mù chữ nhưng nhập đồng rồi là cầm bút son vẽ ngoằn ngoèo và viết cả Hán tự (sai bét!) lẫn Pháp ngữ (trật lất!) lên giấy, bảo đấy là bùa, phát cho thiên hạ đem về dán trước cửa hoặc trong nhà nhằm trừ ma yểm quỷ!

Tôi sở dĩ biết khá tỉ mỉ những chuyện trên nhờ ấu thời từng nhiều phen cùng lũ bạn nhóc tì lân la am này phổ nọ xem thiên hạ ốp đồng. Chẳng những được thưởng thức hát múa miễn phí mà thỉnh thoảng còn được chén ê hề lộc thánh. Dù nghe con nhang đệ tử đồn thổi bao chuyện thần tiên linh hiển, nếu ai đó thiếu nghiêm cẩn trong ngôn ngữ hoặc hành vi thì sẽ bị các đấng vô hình trừng phạt, cả bọn “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” nào có ngán gì. Thoạt đầu là trêu ghẹo cung văn bằng cách kiếm me hoặc khế chua chấm muối ớt, nhai nhóp nhép chọc thèm, khiến tay thổi kèn nhểu nước bọt, không hoạt động nổi, còn gã chầu văn thì ngắc ngứ cà lăm! Tiếp theo là tương kế tựu kế để các thứ vàng mã, hình nộm cúng trong buổi lễ bùng cháy bất ngờ, làm Xích Lân tiên nữ hốt hoảng quăng cả kiếm cung mà kêu la í oé! Một thằng nhãi tinh mắt phát hiện ra rằng thánh thần sao cũng bất công, hễ ngài ban lộc thì con cháu xác đồng hưởng lắm quà cáp ngon lành, trong khi người dưng chỉ nhận lèo tèo quả ổi xanh hoặc chùm dâu chua lét. Thế là hắn bí mật dùng dây câu nguyên con gà luộc béo múp ngay giữa án thờ, đem đãi cả bọn chúng tôi một chầu thoả thích. Lại có vị người lớn bày cho mấy bài ca dao châm chích. Lũ trẻ khoái chí tập hát theo làn điệu chầu văn rồi chĩa loa đồng ca oang oang buộc cậu Bốn cô Ba chưa kịp giáng đã phải thăng. Hát rằng:

Ông lên, ông nhảy lom xom,

Bà lên, bà nhảy trúc om nước chè.

Ông lên, ông… đái xè xè,

Bà lên, bà tưởng nước chè, bà xơi.

Thiên Tiên Thánh giáo

Những trò nghịch ngợm tuổi thơ rồi cũng qua. Vì nhiều lý do, tôi nay lại muốn tìm hiểu hiện tượng đồng bóng với thái độ và góc độ khác. Một số câu hỏi được đặt ra: Tín ngưỡng này đã phát sinh và phát triển thế nào? Sự nhập đồng có thật không và mang ý nghĩa gì? Trong đời sống xã hội hiện đại, việc hành lễ của con nhang đệ tử là tích cực hay tiêu cực?

Vàng mã. Ảnh: Phanxipăng

Chưa xác định rõ thời điểm hình thành các nghi thức cúng quảy nhảy vọt. Trong tác phẩm Thượng kinh ký sự, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 – 1791) từng thuật lại một buổi lên đồng mà ông tình cờ quan sát tại xã Kim Khê (hiện thuộc TP. Vinh, Nghệ An) trên đường ra Thăng Long vào năm Tân Sửu 1781. Trước đó, năm Quý Sửu 1553, Dương Văn An soạn Ô châu cận lục đã ghi nhận sinh hoạt hiến tế có chầu văn tại đoạn sông Kim Trà, tức sông Hương ở Huế ngày nay. Có ý kiến cho rằng việc đồng bóng xuất xứ từ đền Sòng ở Thanh Hoá, nơi thờ thánh mẫu Vân Hương – tên gọi khác của công chúa Liễu Hạnh, một nhân vật huyền thoại trong truyện cổ dân gian Việt Nam. Thực tế thì bà chúa Liễu được dân ta phụng thờ nhiều nơi, như phủ Dầy / Dày / Giầy / Giày ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định và phủ Tây Hồ ở phường Quảng An, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

Phanxipăng thăm lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại Nam Định. Ảnh: Trần Nam Xuyên

Tiếp xúc với ông đồng bà cốt tại nhiều tỉnh thành, tôi biết họ rất sùng kính mẫu và chư vị. Theo quan niệm dân gian, mẫu / Mẫu là 1 trong 4 vị thánh bất tử, gồm Tản Viên sơn thần, Phù Đổng thiên vương, Chử Đồng Tử, và công chúa Liễu Hạnh.

Phanxipăng viếng phủ Tây Hồ tại Hà Nội. Ảnh: Quế Chi

Tương truyền Mẫu vốn là công chúa Quỳnh Nương, nữ thần hàng đầu trên thiên cung, vì lỡ tay làm vỡ chén ngọc nên bị Ngọc Hoàng thượng đế đầy giáng trần. Cũng theo lời kể, Mẫu từng hiển hiện ở nhiều địa phương và thi triển nhiều phép lạ, do đó được triều đình nhà Lê tôn vinh “Thượng đẳng phúc thần” và sắc phong “Mã Cái công chúa” (Mã Cái nghĩa là mẹ) rồi được thăng “Chế Thắng Hoà Diệu đại vương”. Riêng sử sách nhà Nguyễn còn ghi rõ: năm Thiệu Trị thứ VI, tức Ất Tị 1845, nhà vua đã ban cho Mẫu chức “Thần hoàng nhất phẩm”.

Mẫu đây cũng còn là Thiên Y A Na, nữ thần vĩ đại của dân tộc Champa với tên gọi Po Nagar hoặc Muk Juk, bấy nay được thờ tại Tháp Bà ở Nha Trang. Sự tích Thiên Y tiên nữ đã được nhiều thư tịch ghi chép, chẳng hạn Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn.

Phanxipăng cùng Suy Min ghé Tháp Bà tại Nha Trang. Ảnh: Đoàn Thanh Anh

Trong quá trình Nam tiến, người Việt kế tục việc thờ cúng của cư dân Chăm bản địa và tôn làm “thượng đẳng thần”. Năm Nhâm Tuất 1802, ngay sau khi lên ngôi, vua Gia Long tấn phong cho Mẫu danh hiệu “Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi”. Dân gian quen gọi bà chúa Ngọc, bà chúa Xứ, ngắn gọn là Mẫu, và lập phủ, điện, am, miếu để cung thỉnh phụng thờ.

Điều buồn cười là phần đông ông đồng bà cốt và con nhang đệ tử chẳng mấy ai rành rẽ sự tích Mẫu, dẫu họ tự nhận là tín đồ thuần thành của Thiên Tiên Thánh giáo. Khác nhiều người nghĩ, với tên gọi này, Thiên chẳng phải trời, Tiên chẳng phải nhân vật yên vui và có nhiều phép mầu. Chuyên luận Tín ngưỡng dân gian Huế của Trần Đại Vinh (NXB Thuận Hoá, Huế, 1995) ghi nhận: “Cách đặt tên Thiên Tiên Thánh giáo được giải thích là: Thiên là huyện Thiên Bản, Tiên là làng Tiên Hương, tức thôn Vân Cát, làng An Thái, là nơi giáng trần lần thứ hai của Liễu Hạnh công chúa. Hai chữ Thánh giáo thể hiện một nguyện vọng của Tổng hội xin thừa nhận tín ngưỡng này như một tôn giáo thiêng liêng.”

Mấy địa danh mà sách vừa nêu đều thuộc tỉnh Nam Định. Theo Địa chí Nam Định của nhiều soạn giả (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2003) thì huyện Thiên Bản đã đổi thành huyện Vụ Bản từ cuối thời Nguyễn. Ở huyện này, 2 làng Tiên Hương và Vân Cát nay là 2 thôn tại xã Kim Thái, nơi quần thể phủ Dầy toạ lạc, trong đó có lăng mộ Liễu Hạnh, đã được Bộ Văn hoá và Thông tin công nhận di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia ngày 21-2-1975. Sách Phủ Dầy và tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh của Bùi Văn Tám (NXB Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội, 2001) còn cho hay rằng xã An Thái cũ là thôn Tiên Hương bây giờ.

Thực chất, Thiên Tiên Thánh giáo chẳng được tổ chức quy củ như đạo Phật, đạo Hồi, đạo Kitô. Thiên Tiên Thánh giáo lại chẳng có kinh điển cùng luật lệ chính thức. Sinh hoạt của tín đồ Thiên Tiên Thánh giáo mang tính tự phát, tự túc, tự nguyện. Dăm bảy hoặc vài chục người họp thành phổ, cứ đến ngày 14, rằm, 30, mùng 1 âm lịch mỗi tháng thì tới một am miễu nhất định để dâng lễ, cúng cầu, hầu giá. Xong, ai về nhà nấy, tiếp tục làm lụng sinh nhai như tất cả chúng ta. Khác chăng là họ cữ kiêng vài loại thực phẩm vì “ăn sợ mắc tội”: thịt chó, thịt trâu, bồ câu, cá chép / cá gáy.

Có lúc, có nơi, do áp lực của dư luận xã hội hoặc chủ trương của chính quyền sở tại, đệ tử của Mẫu phải lên đồng âm thầm lén lút. Chẳng hạn thời gian Nhà nước phát động phong trào “bài trừ mê tín dị đoan” khá rầm rộ tại Huế, mà đỉnh cao là việc triệt phá am miếu diễn ra vào năm 1985, đố đồng cô bóng cậu nào dám cóc cheng nhảy nhót công khai. Từ năm 1986 đến nay, nhờ công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc, cùng với nhiều lễ nghi truyền thống được phục hồi như xuân tế lẫn thu tế đình làng, cầu ngư, cúng tổ ngành nghề, v.v., thì tín đồ Thiên Tiên Thánh giáo lại sửa am, lập miếu, thoải mái chầu văn, ốp đồng.

Thiên Tiên Thánh giáo thường được xã hội gọi “đạo nhảy vọt”, còn giới nghiên cứu lại gọi “tín ngưỡng tứ phủ” vì hàng tín đồ quan niệm rằng tiên, thánh, thần ở 4 cõi: thượng tiên, trung thiên, thượng ngàn, thuỷ phủ. Cũng theo họ, cả 4 cõi kia liên kết nhau chi phối cõi người. Và cõi nào cũng được cơ cấu tương tự một triều đình quân chủ chuyên chế có quyền lực vạn năng, gồm: đế vương, thánh mẫu, chư tiên, hoàng tử, công chúa, khâm sai, giám sát, thập nhị triều quận, thập nhị triều cô, ngũ hổ đại tướng, âm binh bộ hạ, v.v. Tất nhiên, bà chúa Liễu và bà chúa Ngọc ngự trị cõi thượng thiên chót vót. Ngoài ra, Thiên Tiên Thánh giáo còn thờ Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, thờ cả Quan Công cùng Sơn Tinh, Thuỷ Tinh lẫn Đức Thánh Trần tức Hưng Đạo đại vương!

Khi hầu giá, xác đồng nhập vai một vị nào đấy cả nam lẫn nữ thuộc “tứ phủ công đồng”. Đàn bà con gái thì Mộc Tinh thánh nữ, Ngũ Hành tiên nương, Đào Huê công chúa, cô Năm Ngoại Càn, v.v. Đàn ông con trai thì Linh Hầu thái tử, Sơn Tiêu Độc Cước, quan Lớn Tuần Tranh, Bô Bô động chủ, v.v. Nhạc sĩ Phạm Duy nhận xét khá chí lý trong Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam (NXB Hiện Đại, Sài Gòn, 1972): “Lên đồng là một hiện tượng hoá thân, người phụ nữ Việt mượn đồng bóng để thể hiện những nguyện vọng thầm kín của mình. Ai cũng biết trong dĩ vãng, người đàn bà ViệtNam chịu thua thiệt đủ điều. Lên đồng giúp họ một ảo tưởng ăn chơi như ông hoàng bà chúa. Khi bóng cô bóng cậu nhập vào người lên đồng thì cuộc sống thần tiên bắt đầu.”

Quả là hàng tín đồ Thiên Tiên Thánh giáo đều có đủ nam nữ, song rõ ràng phái yếu chiếm số lượng đông hơn hẳn. Cũng cần thêm rằng tuy có nhiều điểm khác biệt về nghi thức, hiện tượng ốp đồng không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn diễn ra tại nhiều nơi khác trên hoàn cầu.

Vàng mã. Ảnh: Phanxipăng

Tôi tò mò muốn ốp đồng thử một phen cho biết. Nhờ quen với tay chủ am nọ nơi xã Thuỷ Biều, ngoại thành Huế, tôi được trùm khăn ngồi trước án thờ nghi ngút khói nhang trong lúc cung văn chơi “liên khúc” từ Xuân phong, Long hổ, Lưu thủy, Hành vân, sang Cổ bản, Đăng đàn cung, Phú lục, rồi Tẩu mã. Lạ thay! Thiên hạ chỉ ngồi tí tì ti liền “nhập” ì xèo, còn cái thằng tôi cứ “trơ như đá, vững như đồng”, nóng bức và ngột ngạt tưởng chịu hết xiết! Tay chủ am giải thích:

– Chậc… Mạng anh không có “chân lính”. Chịu thôi!

Tôi cũng lấy làm lạ vì rất hiếm thấy ông đồng bà cốt “giáng lâm” vỗ ngực xưng danh nhị vị thánh mẫu tối cao là Liễu Hạnh và Thiên Y A Na. Họ sợ hãi hay khiêm cung nhỉ?

Được biết trong quá khứ, dù mang quốc tịch Chiêm Thành hay Đại Nam, Mẫu đều đã thị hiện trên núi Ngọc Trản thuộc làng Hải Cát ven bờ sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 10km về phía thượng lưu. Tại đó có điện Hòn Chén thờ Mẫu cùng chư vị, xuân thu nhị kỳ thường niên đều long trọng tổ chức đại lễ hội.

Núi Ngọc huyền bí

Lênh đênh theo thuyền rồng ngược dòng Hương, tôi đã đến núi Ngọc. Cũng có thể tới đây bằng đường bộ băng qua Kim Long, Hương Hồ, Ngọc Hồ.

Núi nguyên tên Ngọc Trản, gọi nôm na là Hòn Chén. Dân gian kể rằng do biến âm từ Hoàn Chén, bởi vua Minh Mạng từng đến đây và lỡ tay đánh rơi chén bằng đá quý xuống sông Hương, tưởng chẳng cách gì lấy lại được, bỗng một con rùa to lớn nổi lên, miệng ngậm chén ngọc trả lại nhà vua.

Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn còn ghi nhận một tên khác là núi Hương Uyển và viết: “Mạch núi do các núi ở phía tây bắc trùng trùng điệp điệp, như rồng đi hổ phục, chạy dài chênh chếch về phía nam, đến phía tây sông Hương thì dừng lại, nổi vọt lên một ngọn vừa tròn vừa đẹp như hình cái chén nên gọi tên ấy. Sườn núi có đền thiêng. Chân núi kề vực sông, nước rất trong ngọt, người ta phải gọi là nước Ngọc Trản và thường lấy dâng ngự dụng.”

Trong sách Nguyễn triều cố sự (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1956), Bửu Kế lưu ý thuyết cho rằng tên Ngọc Trản chỉ là một lối dùng mỹ từ mà thôi, vì bên kia có địa danh Ngọc Hồ / bầu ngọc thì bên này có Ngọc Trản / chén ngọc để được cân đối.

Tương truyền bà chúa Ngọc lẫn bà chúa Liễu từng giáng hạ nơi đây nên dân làng Hải Cát dựng đền thờ phụng và tôn sùng mẫu như đấng khai canh. Có lẽ tiền thân của đền là điểm thờ nữ thần Po Nagar của cư dân Chăm bản địa rồi được người Kinh kế tục cúng bái. Dần dần, các chúa Nguyễn phong tặng sắc thần và chính thức hoá việc thờ cúng. Đến năm Nhâm Thìn 1832, niên hiệu Minh Mạng thứ XIII, nhà vua đã cho trùng tu, mở rộng ngôi đền. Đó là đền Hàm Long hoặc đền Ngọc Trản. Một năm sau khi lên ngôi, Bính Tuất 1886, vua Đồng Khánh đổi tên thành điện Huệ Nam.

Huệ Nam điện. Ảnh: Phanxipăng

Dân chài quanh vùng nói rằng khúc sông ngay trước điện Hòn Chén sâu nhất dòng Hương, thợ lặn khoẻ mấy cũng không tài nào mò tới đáy. Nhiều kẻ tin rằng thánh mẫu Thoải (tức bà Thuỷ, tương truyền là con của Long Vương ở hồ Động Đình, có đền thờ chính ở Tuyên Quang) chuyên trị vì nước ấy. Đại Nam nhất thống chí chép rằng tại đây “có con rùa lớn bằng tấm chiếu, mỗi khi nổi lên tất có sóng dữ, người ta trông thấy gọi là sứ giả của Hà Bá”. Nghe đồn con rùa quý hiếm kia hiện vẫn còn và được các đệ tử của mẫu kính cẩn gọi “cố trạnh”.

Thuở sinh thời, ba tôi có kể một giai thoại về khúc sông này. Rằng xưa, thuyền đò ngang qua đấy thì ai nấy đều phải im lặng thắp nhang tỏ lòng thành kính. Chỉ cần một người nẩy suy nghĩ xúc phạm Mẫu là thuyền đắm ngay tức khắc, do đó nạn nhân chết đuối tại chỗ ngày càng như rạ. Biết chuyện, vua Tự Đức ngự giá lên điện Hòn Chén, đeo vào tay Mẫu chuỗi hạt bồ đề, rồi lệnh: “Thôi hí! Tu đi!”. Từ đó, tai nạn không còn.

Khúc sông Hương trước điện Hòn Chén. Ảnh: Phanxipăng

Điều kỳ lạ là thái độ hết mực tôn sùng Mẫu của vua Đồng Khánh mà sử sách vẫn thường nhắc. Theo nguyên tắc xưa, khi đã lên ngôi thiên tử, vị vua nào cũng đứng trên mọi bậc thánh thần. Riêng vua Đồng Khánh tự nhận đồ đệ của Mẫu, lễ phép thưa Mẫu bằng “chị”, và đưa cả lễ hội thường niên điện Hòn Chén vào hàng quốc lễ. Vì sao?

Cảnh Tông Thuần hoàng đế, tức vua Đồng Khánh, vốn xuất thân là công tử Ưng Thị, con trưởng của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và Thái vương phi Bùi Thị Thanh. Năm Ất Sửu 1865, mới 2 tuổi, ngài đã được vua Tự Đức chọn làm dưỡng tử. Đến giai đoạn trưởng thành, gặp thời kỳ lịch sử éo le, ngài chờ đợi mãi vẫn chưa được nối ngôi, bèn nhờ mẹ ruột lên điện Hòn Chén cầu đảo. Trong một buổi hầu đồng, Mẫu phán: năm Ất Dậu 1885, ngài sẽ toại nguyện, song chỉ ngất ngưởng cửu trùng hơn 3 năm thôi, đến cuối năm Mậu Tý 1889 thì ngài thăng hà! Nếu thực tế Mẫu đã tiên tri như thế, rõ xứng danh Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Ứng Diệu Thông Mặc Tưởng Trang Huy Ngọc Trản Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Dực Bảo Trung Hưng Thượng Đẳng Thần đúng y thần hiệu mà vua Đồng Khánh ngay sau khi tức vị đã tôn phong Mẫu. Vua còn sắc phê: “Phong cảnh Ngọc Trản thực là chốn tiên nữ linh sơn sáng đẹp muôn đời, trông rõ hình thể như con sư tử uống nước sông, quả là nơi chân cảnh thần tiên. Đền Ngọc Trản nhờ đắc linh khí, các phúc thần đầy quyền uy ngự trị cứu người độ đời, giúp dân giữ nước. Vậy trẫm cho đổi đền ấy làm điện Huệ Nam (nghĩa là ban ân huệ cho nước Nam và vua Nam) để biểu hiện ơn nước trong muôn một”. (Đại Nam thực lục chính biên – Đệ lục kỷ). Theo Nguyễn triều cố sự (sđd) thì chính vua Đồng Khánh thân hành trông nom việc tái thiết điện Huệ Nam khang trang đồng thời với việc xây Tư lăng gần núi Thiên Thai ở phía bên kia sông Hương. Bởi tin tưởng tuyệt đối vào lời tiên đoán của Mẫu nên nhà vua phải sớm lo liệu nơi an nghỉ cuối cùng cho bản thân. Năm Đinh Hợi 1888, mẹ ruột cùng em trai Ưng Đậu và em gái Như Cư của vua Đồng Khánh còn đúc đại hồng chung dâng cúng Mẫu ở điện Huệ Nam nữa.

Vua và cả hoàng thân quốc thích đã vậy thì hàng ngũ quan lại triều thần cùng đông đảo nhân dân cả nước càng sùng tín Mẫu; càng tin rằng núi Ngọc chính là thánh địa để cúng cầu, hầu lễ, hành hương. Mặc dù Tổng hội Thiên Tiên Thánh giáo chính thức thành lập vào năm 1965, trụ sở đặt tại 252 đường Chi Lăng, TP. Huế, song có thể khẳng định tín ngưỡng này hưng thịnh nhất lại là cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Nhiều vị bô lão bảo:

– Hồi đó, mỗi lần trẩy hội điện Hòn Chén, khách thập phương dồn về kín kịt cả khúc sông Hương suốt một tuần liền, tưng bừng náo nhiệt khôn tả.

Tưởng cũng nên biết thêm: giai đoạn ấy, nước ta chịu ách đô hộ của thực dân Pháp, thiên tai và dịch bệnh xảy ra liên tục, dân chúng nghèo khốn và lạc hậu luôn rơi vào trạng thái bất an nên hằng trông chờ sự phù trợ từ cõi vô hình. Còn theo BAVH, “những người Tây cứng đầu” dám táo tợn gọi điện Hòn Chén là “la Pagode de la Sorcière / ngôi chùa của mụ phù thuỷ”, cớ sao vẫn béo tốt phây phây?

Ảnh chụp điện Hòn Chén in trong BAVH 1915 với chú thích: La Pagode de la Sorcière, vue général. Nghĩa: Toàn cảnh ngôi chùa của mụ phù thuỷ

Ngồi trước mũi thuyền rồng giữa dòng Hương, hoặc leo lên đồi Vọng Cảnh bên hữu ngạn, tôi cũng như nhiều du khách thảy đều thừa nhận rằng phong cảnh quanh núi Ngọc hữu tình và hùng vĩ làm sao. Đúng như mấy vần thơ chữ Hán của Nguyễn Đức Quân treo trong nội điện đã mô tả:

Đệ lâm bích thuỷ, long lai viễn,

Nhất vọng thanh sơn, hổ cứ hùng.

Phan Thuận An, trong sách Kiến trúc cố đô Huế (NXB Thuận Hoá, Huế, 1995), dịch:

Bên dòng nước biếc như rồng lượn,

Ở chốn non xanh tựa cọp ngồi.

Toàn bộ các công trình kiến trúc xinh xắn của điện Hòn Chén đều toạ lạc lưng chừng sườn đông nam núi Ngọc. Trung tâm là Minh Kính Đài có diện tích mặt bằng 255m², được chia làm 3 cung. Cao nhất là Minh Kính cao đài đệ nhất cung, còn gọi Thượng cung hay Thượng điện, dùng để thờ thánh mẫu Thiên Y A Na, thánh mẫu Vân Hương và… vua Đồng Khánh cùng một số thánh thần thượng đẳng khác. Kế tiếp là Minh Kính trung đài đệ nhị cung, còn gọi Cung Hội đồng, thờ Phật và hàng chục thần thánh, dùng làm nơi thiết trí loạt tự khí dùng để rước sắc. Sau rốt là Minh Kính tiểu đài đệ tam cung, còn gọi Tiền điện, là chỗ đặt trống chuông, là nơi cử hành tế lễ. Nội thất Minh Kính Đài thuộc diện “tuyệt đối trang nghiêm, bất khả xâm phạm”, nên không phải ai ai cũng được vãng lai dịp đại lễ hội, kể cả đông đảo tín đồ Thiên Tiên Thánh giáo.

Nhờ sự giúp đỡ sốt sắng của các nhân viên bảo vệ thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế – cơ quan hiện đang giữ nhiệm vụ quản lý và duy tu điện Hòn Chén – nên ngay kỳ thu tế, tôi được lọt vào Minh Kính Đài để “xem tận mắt, sờ tận tay” nhiều đồ tự khí được chế tác tự xửa xưa: hàng loạt bài vị và tượng thần thánh cùng cờ quạt, tàn lọng, phụng liễn, long đình. Trên Thượng điện có cái mão chạm trổ cửu long bằng vàng ngọc rất cầu kỳ, đang được thờ trong hộp kính. Một nhân viên bảo vệ giới thiệu với tôi rằng đó là mão của vua Đồng Khánh lưu lại. Nhìn quanh, tôi còn thấy nhiều di vật của vị vua nổi tiếng “thích chuyện huyền bí và hết sức tôn sùng Đức Thiên Y A Na tại điện Hòn Chén” (theo Nguyễn Phúc tộc thế phả – NXB Thuận Hoá, Huế, 1995, trang 377). Đó là những bức hoành, câu đối, thơ phú do vua ngự bút tôn vinh Mẫu; và một số tranh ảnh do ngài thành tâm cúng dường. Tôi hết sức lạ mắt trước những đao kiếm sơn son thếp vàng cùng các đồ thờ dành cho lễ rước sắc: nào kiệu, nào ngai, nào võng song loan. Hầu hết cổ vật ở đây được trưng bày rất bề bộn nhưng lại gây hiếu kỳ cho bất kỳ ai có dịp mục kích.

Tại điện Hòn Chén, ngay trước ban thờ trong Thượng Cung, vua Đồng Khánh ngự bút: 陰陽兄弟七聖義會. Phiên âm: Âm dương huynh đệ thất thánh nghĩa hội. Nghĩa là “đấng thiên tử” tự xếp thứ 7! Ảnh: Phanxipăng

Bên phải Minh Kính Đài là nhà Quan Cư, viện Trinh Cát, chùa Thánh. Bên trái là dinh Ngũ Hành tiên nương, bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban tức Thần Hổ. Lại có miếu thờ Quan Thánh Đế Quân và miếu thờ vị tiền nhân họ Lê khai canh làng Hải Cát. Rải rác còn có một số am và bệ thờ nhỏ, như am cô Ngọc Lan, am Trung Thiên. Dưới chân núi, sát bờ sông, có miếu Thuỷ Phủ thờ Thuỷ Long tôn thần.

Du khách ghé Huế, thăm viếng Kinh thành, cung điện, chùa chiền, lăng tẩm, v.v., thảy đều bắt gặp con rồng xuất hiện với tần số cao trong các hoạ tiết trang trí nội ngoại thất. Ghé điện Hòn Chén sẽ thấy khác. Ở đây, chim phượng hoàng lại chiếm ưu thế. Bờ nóc, bờ quyết Minh Kính Đài cùng các viện, dinh, am, miếu, và nhiều hiện vật tại khu di tích này đều được đắp, khắc, hoặc vẽ phượng hoàng vì loài chim này tượng trưng cho phái nữ. Phải thôi, nơi thờ Mẫu mà lị! Nếu leo lên đỉnh núi Ngọc, khách sẽ thấy một ngọn núi uy nghi vươn lên cách đó không xa. Được xem là chủ sơn của đất Phú Xuân, ngọn núi cao 427m ấy cũng mang tên loài chim phượng hoàng: núi Kim Phụng.

Điện Hòn Chén là 1 trong 16 công trình kiến trúc triều Nguyễn ở Huế được UNESCO công nhận di sản văn hoá thế giới vào ngày 11-12-1993. Điện Hòn Chén cũng được Bộ Văn hoá và Thông tin công nhận là di tích cấp quốc gia theo quyết định số 2009/1998 QĐ/BVHTT ban hành ngày 26-9-1998.

Lễ vật. Ảnh: Phanxipăng

Khi ông đồng bà cốt hành hương

Tháng bảy vía cha, tháng ba vía mẹ. Con nhang đệ tử mọi miền đều nhắc nhau thế để nhớ 2 kỳ đại lễ hành hương về điện Hòn Chén hằng năm. Có thể suốt 4 mùa, do bận mưu sinh, họ không tới phổ hầu giá được, nhưng nhất thiết 2 vía trọng này thì chẳng bỏ qua.

Thật ra, theo bản 51 lễ vía thường niên do Tổng hội Thiên Tiên Thánh giáo quy định thì ngày 2 tháng 3 âm lịch là vía huý nhật, ngày 5 và 6 tháng 3 âm lịch là vía sinh nhật thánh mẫu Vân Hương tức bà chúa Liễu. Còn 2 ngày tốt thượng tuần tháng 7 âm lịch lại là rước sắc nữ thần Thiên Y A Na đến đình làng Hải Cát làm lễ thu tế. Trước kia, khách trẩy hội điện Hòn Chén dịp tháng 7 nghìn nghịt từ 5 ngày đến 1 tuần liền; nay chỉ còn 3 ngày: mùng 8 tới mùng 10.

Trụ sở Thiên Tiên Thánh giáo Việt Nam tại 252 (số hiện nay 354) đường Chi Lăng, Huế. Ảnh: Phanxipăng

Ông Lê Văn Ngộ – phó ban tổ chức đại lễ thu tế điện Hòn Chén – cho tôi biết:

– Ban bảo trợ điện Huệ Nam đứng ra xin tổ chức lễ hội truyền thống này dưới sự chỉ đạo của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên – Huế, sự giúp đỡ của Trung tâm Bảo tồn Di tích cố đô Huế. Dịp lễ năm nay, hàng ngũ tín đồ gần xa đăng ký về dự gồm 31 bằng án và 35 châu án. Còn số lượng cụ thể bao nhiêu lượt người thì chúng tôi không tài nào nắm chính xác nổi!

Bằng án là thuyền kết đôi kết ba. Châu án là thuyền đơn. Trên thuyền có lập bàn thờ Mẫu và chư vị. Trước thuyền, người ta treo biển đề tên am, tên phổ, chẳng hạn: Kim Đồng Tiên Nữ, Thiên Thai Thuỷ Cảnh, Đài Minh Cảnh, Linh Sơn Điện, Linh Dược Điện, Tân Đức Điện, Hoằng Hoá Điện, Sòng Sơn Vọng Từ. Khá nhiều am phổ từ Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Đăklăk, Lâm Đồng. Cũng thấy am phổ từ Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà  Tĩnh, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh, TP.HCM, Long An, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Hầu như toàn bộ thuyền rồng du lịch sông Hương đều được thuê mướn suốt 3 ngày đêm. Không đủ thuyền rồng thì người ta thuê cả đò chở cát sạn hoặc đò chài lưới để kết bằng án, châu án.

Từ trung tâm thành Huế, các bằng án và châu án treo cờ xí, giăng đèn đóm, nổ máy bơi ngược dòng Hương lên điện Hòn Chén. Trên mỗi chiếc, con nhang đệ tử luân phiên cúng bái và hầu giá trong lời ca tiếng nhạc của cung văn được khuếch đại âm lượng qua dàn thiết bị điện tử. Người ta đua nhau tung vàng mã xuống mặt nước, ban đêm còn thả thêm hoa đăng. Con sông vốn dĩ tĩnh lặng nay bỗng sôi động hẳn với muôn hồng ngàn tía và thập cẩm âm thanh.

Tôi thử đếm cả dãy bằng án, châu án đậu san sát mép sông quanh chân núi Ngọc, đã thấy vượt quá số đăng ký chính thức. Tính bình quân mỗi chiếc chứa 25 người thì lượng ông đồng bà cốt trẩy hội đã xấp xỉ 3.000 người. Lại còn hàng trăm đò nghe chở con nhang đệ tử cặp kè theo các bằng án, châu án. Ấy là chưa kể lớp lớp du khách dồn về theo đường thuỷ lẫn đường bộ. Ước tính không dưới 1 vạn lượt người đến điện Hòn Chén trong đại lễ hội này. Như nhiều danh thắng khác, mỗi người cứ đặt chân vào cổng điện đều phải mua vé tham quan. Gía mỗi vé hiện nay (Canh Dần 2010): khách nước ngoài 20.000 đồng, khách trong nước 10.000 đồng. Chà chà, phen này Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế “trúng quả đại chang” nhé!

Thu tế điện Hòn Chén. Ảnh trích video: Phan Văn Cường

Như đã nói, đại đa số đệ tử của Mẫu thuộc giới thợ thuyền hoặc tiểu thương mà chiếm tỉ lệ cao luôn là phái nữ. Trong đội ngũ cô Năm cô Ba lụa là son phấn, không ít nàng trẻ đẹp hệt người mẫu thời trang. Qua tìm hiểu, tôi được biết một số trường hợp con nhang cả nữ lẫn nam thuộc nếp nhà khá giả, có kẻ là học sinh, sinh viên, thậm chí giáo viên. Đặc biệt, rất dễ nhận ra sự hiện diện của một số ca sĩ cùng diễn viên sân khấu và điện ảnh thuộc hàng “sao” nữa!

Lúc bằng án chính cung nghinh Mẫu di chuyển giữa dòng Hương, trên một bằng án khác đồng hành có danh hài Hoài Linh ôm đại đao ngưỡng vọng. Ảnh trích video: Phan Văn Cường

Tôi ngạc nhiên vô cùng khi bất ngờ thấy một ông đồng áo khăn đỏ choét, hú hét om sòm, và ngoáy tít đại đao. Ngại mình nhìn nhầm, tôi cố nhận diện thật kỹ. Đúng rồi! Trúng ngay chóc! Không ai khác, đích thị Phó Giám đốc một cơ sở tư doanh ở TP.HCM. Hễ có dịp, gã này luôn rôm rả nói chuyện bài trừ… mê tín dị đoan! Thật hết biết!

Lễ chính là rước sắc thánh mẫu Thiên Y A Na từ Minh Kính Đài lên đình làng Hải Cát bằng đường thuỷ. Một đám rước chưa từng thấy. Đầy đủ hoa hương, chuông trống, cờ quạt, kiếm cung, tiền hô hậu ủng. Dẫn đầu là thần Hổ với các ông Bảy, ông Chín Thượng Ngàn.

Lần nữa, tôi gặp may: được quá giang ngay trên bằng án chính cung nghinh Mẫu. Thuyền đến đâu đều thấy trên bờ, dưới nước, lớp lớp trẻ già chấp tay vái lạy theo rần rần.

Một thể nữ mắt phượng, mày ngài, đứng hầu kiệu, bỗng dưng khều tay tôi. Nàng chúm chím cười và nói:

– Số anh sướng lắm, luôn được Mẫu đoái thương!

Cung nghinh Mẫu trên dòng Hương. Ảnh: Liêm Hoa

Đôi điều thiển nghĩ

Đình làng Hải Cát cũng nằm ven tả ngạn dòng Hương, cách điện Hòn Chén chừng 2km về phía thượng nguồn. Lúc cả đoàn cung nghinh Mẫu vượt sóng nước tới nơi thì trời vừa sụp tối. Người ta thắp điện đèn sáng rực, long trọng thỉnh Mẫu vào chính điện để tiến hành lễ thu tế, nguyện cầu cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà, nhà nhà sung túc.

Và suốt đêm ấy, trên hàng chục bằng án lẫn châu án đỗ dài trước bến đình, các đồng cô bóng cậu lại cóc cheng nhảy vọt phép phù, mệt thì thay nhau nghỉ ngơi, ăn uống. Mai lại rước Mẫu hồi loan, trở về núi Ngọc.

Đêm ấy, lang thang với vài đồng nghiệp trên bãi sông trước đình làng Hải Cát, nhiều điều liên quan Thiên Tiên Thánh giáo, gọi gọn là đạo Mẫu, khiến tôi băn khoăn suy nghĩ.

Vàng mã. Ảnh: Phanxipăng

Trẩy hội điện Hòn Chén và xuân tế lẫn thu tế đình làng Hải Cát quả là phong tục cổ truyền mang đậm bản sắc văn hoá độc đáo của địa phương vùng Huế nói riêng, của đất nước Việt Nam nói chung. Tương tự loạt lễ hội ở đền Mẫu Đồng Đăng (Lạng Sơn), đền Bảo Hà (Lào Cai), đền Đuông (Vĩnh Phúc), đền Bà Đế (Hải Phòng), đền Sinh và đền Hoá (Hải Dương), phủ Tây Hồ (Hà Nội), phủ Dầy (Nam Định), đền Sòng (Thanh Hoá), đền Cờn (Nghệ An), tháp Bà (Khánh Hoà), miếu Bà Chúa Xứ (An Giang), v.v. Xét nghi thức hành lễ liên quan những di tích ấy, rõ ràng đồng bóng đóng vai trò chủ đạo. Gắn chặt với đồng bóng đích thị chầu văn / hát văn / hát bóng, một hình thức lễ nhạc dân gian rất lý thú với nhịp ngoại / đảo phách thể hiện qua lưu không / nhạc không lời và 13 điệu / lối hát: bỉ, miễu, thổng, phú bình, phú chênh, phú nói, phú rầu, đưa thơ, vãn, dọc, cờn, hãm, dồn. Tham dự Liên hoan Giọng hát vàng Asean 2008, NSƯT Hồng Ngát trình diễn hát văn Hầu xá thượng và đoạt Huy chương vàng quá xứng đáng.

Hồng Ngát hầu xá thượng. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng

Tuy nhiên, đồng bóng lại là hủ tục, là mê tín quàng xiên! Trong thời đại phát triển khoa học kỹ thuật ngày nay, hỏi còn gì lạc hậu cho bằng việc phòng và chữa bệnh theo liệu pháp nhảy lom xom, dán bùa chú, uống tàn nhang nước thải? Còn gì mê lầm cho bằng kiểu trấn an tâm lý theo lối “thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay” cực kỳ phung phí?

Dĩ nhiên, muốn hạn chế và dần dần xoá bỏ tệ mê tín đã hằn sâu vào nếp nghĩ dân chúng tự bao đời, không thể áp dụng cứng nhắc các biện pháp hành chính cực đoan, mà phải bằng hệ thống tác động lâu dài toàn diện, như ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Đại Vinh từng đề xuất trong chuyên luận Tín ngưỡng dân gian Huế (sđd). Báo chí cùng các thể loại văn học nghệ thuật chắc chắn đã, đang, và sẽ góp phần hữu hiệu trong nỗ lực trường chinh đầy gian khó này.

Một mai, đời sống vật chất lẫn tinh thần của toàn xã hội được nâng cao, tri thức khoa học tiên tiến được phổ biến sâu rộng và cập nhật đến tận thôn cùng xóm vắng. Lúc ấy, con người tự giải phóng mình khỏi “vòng kim cô” hủ tục; đồng thời biết trân trọng kế thừa, nỗ lực phát huy những phong tục dân tộc truyền thống với tinh thần văn hoá và nhân bản. ♥

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Thế Giới Mới 320 (11-1-1998) & 321 (18-1-1998)
  • Kiến Thức Ngày Nay 706 (20-3-2010) & 707 (1-4-2010)

Đã in trong sách Huế chừ của Phanxipăng (NXB Thanh Niên, 2000)

Read Full Post »

Lẩu

T

rước kia, lẩu chỉ thông dụng ở miền Nam nước ta. Bây giờ, tất cả tỉnh thành trên toàn quốc, đâu cũng có lẩu, mà phổ biến nhất là lẩu bò, lẩu dê, lẩu nấm, lẩu thủy hải sản, và lẩu thập cẩm. Bằng hữu, đồng nghiệp, hoặc bà con gặp mặt, kéo nhau tới hàng quán ăn lẩu. Trong gia đình, dọn cái lẩu, đủ để cả nhà quây quần dùng bữa trưa cũng như bữa tối. Nhiều tiệc tùng, trước món tráng miệng cuối cùng, đầu bếp thường bày món lẩu.

            Lẩu là món vừa ăn chơi, vừa xơi thiệt. Tức có thể lai rai chén tạc chén thù đu đưa chuyện vãn, nhưng cũng có thể ăn lấy no. Đòi hỏi dùng nóng sốt, lẩu là món mang tính tổng hợp và tính cộng đồng rõ rệt. Ăn lẩu, càng đông người thân, càng vui. Hiếm ai ăn lẩu một mình, mặc dầu gần đây có những quán giương biển “lẩu một người”.

Lẩu hải sản. Ảnh: Phanxipăng

Vì sao gọi lẩu?

            Quá quen từ lẩu, chủ nhân nhà hàng nọ phải ngắc ngứ lúc gặp thực khách chất vấn:

            – Vì sao gọi lẩu? Lẩu nghĩa là gì?

            Lẩu là cách đọc của người Hoa gốc Quảng Đông, nhằm chỉ lò lửa. Âm Hán-Việt là. Lắm cửa hiệu tại Chợ Lớn vẫn bán sán lẩu; còn gọi sinh lô; dân ta quen gọi lẩu sống.

            Lẩu được ghi phồn thể 爐 hoặc giản thể 炉 mà lắm phen người Hoa đọc là . Chẳng hạn tạp pín lù / tả pí lù. Phiên ra Hán-Việt là đả biên lô. Nghĩa đen là món ăn nấu chín bên lò lửa. Nghĩa bóng là thập cẩm, tào lao, ba lăng nhăng.

            Trong sách Sài Gòn tạp pín lù (NXB Văn Hóa Thông tin, Hà Nội, 1997), học giả Vương Hồng Sển giải thích: “Tạp pín lù là đả biên lô, tức là món ăn nấu chín bên lò lửa, cũng như món ăn sán lẩu là ăn thịt sống nhúng vào nước sôi bắc trên lò lửa nóng. Số là người Tây bày ra một từ khí làm bằng chì, thiếc, vật kim khí có chân cao, giữa khoét lỗ đặt vài cục than cháy, chung quanh là nồi chứa nước thịt ngọt, khách ăn tự lựa từng món ngon: mề gà, lòng heo, ruột già, ruột non, dồi trường, tự gắp bằng đũa và nhúng vào nước thịt đang sôi, rồi tự gắp qua chén và, không cần biết món nhúng đã chín hay còn sống sượng, rồi thì rượu cay, rau sống ngốn nghiến chàm ngoàm cả miệng không thốt ra lời được, món ăn ấy gọi ăn sán lẩu, dịch ra Hán tự là sán-sanh (thức ăn còn sống, chưa chín), lẩu-lò (lô). Ăn sanh lô, nhưng nếu nói sanh lô, ba Tàu không hiểu, phải nói theo họ ăn sán lẩu, hoặc ăn cù lao”.

            Bằng giọng điệu cà rỡn, Vương ông đã diễn tả khá đầy đủ cung cách ăn lẩu. Ấy là lối ẩm thực dân dã, thoải mái, “đã đời”, chẳng câu nệ theo kiểu từ-tốn-thanh-tao-ti-tí. Lẩu cần ăn nóng, kèm nhiều rau, cứ “chồng chan, vợ húp” xì xà xì xụp thì mới cùng nhau “gật đầu khen ngon” được. Tuy nhiên, Vương ông nêu mấy chi tiết khiến tôi băn khoăn. Liệu vật dụng phục vụ món này – vẫn được gọi cái lẩu hoặc cái cù lao – có phải do “người Tây bày ra” chăng? Vật dụng đó được chế tạo bằng một số kim loại như thiếc, kẽm, sắt, nhôm, đồng, chứ ai lại làm bằng chì? Thực tế, chỉ cần đặt nồi gốm trên bếp là đã có cái lẩu, quán xá gọi lẩu tay cầm đấy. Thêm nữa, người Âu Tây không sẵn tập quán dùng đũa. Ắt món cần gắp-nhúng-trộn-và này khởi phát từ Á Đông mới hợp lẽ.

Lẩu nấm. Ảnh: Suy Min

            Nhà báo Thượng Hồng lại nghe bà con Hoa kiều ở đâu đó phát âm tả pín lù thành da bin lo. Qua cuốn Món ngon Sài Gòn (NXB Đồng Nai, 1997), Thượng Hồng nêu gốc gác món lẩu từ hướng khác: “Nó có xuất xứ từ một món thịt của người Mông Cổ và các bộ tộc người Hoa sống ở vùng biên thùy Trung-Mông. Những bộ tộc này có thói quen ăn uống ngoài trời, vào mùa hè ấm áp thì họ lóc từng miếng thịt nhỏ ở các con vật như dê, cừu hay bê, rồi nướng trên lửa để ăn ngay, không cần chế biến hay thêm thắt gia vị. Vào mùa đông thì việc ăn uống kiểu đốt lửa đã tỏ ra bất tiện và thiếu sự đậm đà, do đó, họ đã nghĩ ra một cách ăn món thịt vừa giữ được chất ngọt ngào, vừa tiện lợi. Món da bin lo đã ra đời từ đó. Trong cách chế biến của người Hoa thì món ăn này phải gồm các nguyên liệu và theo từng công đoạn như sau: thịt sống thái mỏng gồm hai hoặc ba loại như bò, dê, cừu và thêm vào các loại rau cải sống. Nước lèo (nước dùng) được nấu sôi trong một cái nồi bằng đất nung, có vị chua, cay, ngọt. Nước chấm phải có sa tế, tàu vị yểu”.

            Lập luận của Thượng Hồng, theo tôi, chấp nhận được. Duy khoản rau sống ăn ghém với lẩu, chưa rõ đúng nguyên gốc Trung Hoa hay Mông Cổ chăng, hay là yếu tố Việt hóa. Vì người Hoa lẫn người Mông rất hiếm dùng rau sống.

            Món lẩu du nhập vào nước ta từ thời điểm nào? Chưa thể xác định. Thử tra cứu Từ vị Annam-Latinh (1773) của Pierre Pigneaux de Béhaine, tức Bá Đa Lộc, rồi Đại Nam quấc âm tự vị (1895) của Huình-Tịnh Paulus Của, tôi hoàn toàn chẳng thấy mục từ lẩu.

Lẩu thập cẩm. Ảnh: Phanxipăng

Bình dân lẫn thượng lưu

            Như đã nói, lẩu bò và lẩu dê hiện tràn ngập khắp ba miền. Quán xá bình dân bán mỗi lẩu bò chỉ 10.000 đồng (năm 2002) / 30.000 đồng (năm 2011), bao luôn rau sống, khoai môn, tàu hủ (đậu phụ / đậu khuôn) và mấy vắt mì sợi hoặc dĩa bún. Nước lèo, hễ cạn thì châm thêm miễn phí. Đinh Lê Yên – phóng viên báo Giáo Dục Và Thời Đại – thuở hàn vi từng mưu sinh bằng cách bán lẩu bò bình dân cạnh công viên Lê Thị Riêng tại quận Tân Bình, TP.HCM. Yên cho biết:

            – Chiều chiều, anh em lao động thường rủ nhau ăn lẩu bò bình dân vì giá rẻ mà vẫn đảm bảo no say. Khoảng 4 mạng, gọi cái lẩu với ít xị rượu đế, tô thịt thêm nữa, cũng chỉ tốn vài chục nghìn đồng. Người bán vẫn lãi, nhờ số đông.

            Nhà hàng thì chế biến lẩu bò ngon lành hơn, chỉn chu hơn, tất nhiên đắt đỏ hơn: mỗi cái lẩu giá từ 40.000 đồng đến 60.000 đồng trở lên, khách “kẹp díu” bất kỳ khoản gì thì tính thêm tiền khoản đó – từ mì, bún, rau sống, đến nước lèo châm sau. Có những lẩu bò đặc biệt, chẳng hạn lẩu đuôi bò, lẩu não bò, và lẩu ngầu pín. Thay bò bằng trâu, các món lẩu càng lừng hương đượm vị.

Lẩu não tuỷ trâu. Ảnh: Phanxipăng

            Lẩu dê bây giờ tỉnh nào cũng nghi ngút. Ở Hà Nội, các quán lẩu dê trên phố Láng Hạ, Giải Phóng và Hàng Cót luôn nườm nượp thực khách. Ở Huế, các quán lẩu dê trên đường Bùi Thị Xuân, Phan Đình Phùng và Nguyễn Huệ mịt mù khỏi lửa trưa lẫn chiều tối. Ở Sài Gòn, quận huyện nào cũng hiện hữu biết bao điểm kinh doanh lẩu dê, đây là một số trong loạt quán nổi bật: Hương Quê (đường Pasteur, Q.1), 218 (đường Nguyễn Công Trứ, Q.1), 45 (Ngô Thời Nhiệm, Q.3), Bàu Sen (đường Lê Hồng Phong. Q,5), Huy Ký (đường Huỳnh Mẫn Đạt, Q.5), Tư Trì (đường Bình Quới, Bình Thạnh), Hải Ký (đường Tạ Uyên, Q.11), Lâm Ký (đường Nguyễn Thị Nhỏ, Tân Bình), Xương Ký (đường Quang Trung, Gò Vấp), v.v. Những điểm mà thương hiệu mang ngữ tố Ký thường do Hoa kiều quản lý và đứng bếp. Chủ quán Xương Ký cười:

            – Lẩu dê nấu theo lối Tàu, có hàng chục kiểu. Lẩu dê Bắc Kinh gia nhiều bạch quả, đại táo. Lẩu dê Tứ Xuyên không thể thiếu hạt sen và củ sen. Lẩu dê Triều Châu nhất định phải kèm củ cải, lá hẹ, tàu hủ ky. Lẩu dê Vân Nam luôn phảng phất mùi gừng và thảo quả. Quan trọng nhất là nước lèo. Nắm được bí quyết nấu nồi nước lèo ngon, đủ sức mở quán lẩu dê rồi. Quán Xương Ký này, từ mái lá xoàng xỉnh mà lên được ba bốn lầu vầy, cũng nhờ nồi nước lèo bán lẩu dê đó.

Lẩu dê. Ảnh: Phanxipăng

            Nhắc tới lẩu nấu theo goût Trung Hoa, chẳng thể quên lẩu cá gộc mà tiêu biểu có quán Dân Ích tồn tại hàng chục năm nay trên đường Nguyễn Trãi, Q.5. Quán chỉ mở cửa lúc xế chiều, từ 16 giờ, đến 20 – 21 giờ đã hết hàng. Lẩu được nấu bằng cá gộc, tôm thẻ, mực, tim heo, ăn với cải ngọt, tần ô, bún gạo hoặc mì trứng, song hợp nhất nên chọn mì vàng Phúc Kiến. Ông Huỳnh Bình, chủ quán Dân Ích, tiết lộ:

            – Đây là món truyền thống của người Tiều (Triều Châu). Nước lèo hầm bằng xương heo với gia vị. Cá gộc, chọn phần đầu là ngon nhất. Nếu không sẵn cá gộc, tạm thay bởi những loại cá biển khác thích hợp, mỗi con nặng trên 3kg.

            Về lẩu cá, thời gian qua tại TP.HCM mọc lên nhiều quán xá bán lẩu cá kèo, tập trung trên mấy con đường Sư Thiện Chiếu, Bà Huyện Thanh Quan, Ngô Thời Nhiệm (Q.3), Bình Quới (Bình Thạnh) và Lý Thường Kiệt (Gò Vấp). Lẩu cá kèo nấu lá giang, nấu bần, rất cần kẹp thêm rau sống, đặc biệt là rau đắng. Đến những quán nọ, thực khách còn có thể gọi thêm lẩu cá diêu hồng nấu mẻ, lẩu cá lóc nấu rau thì là, lẩu cá thác lác, lẩu cá ba sa, lẩu cá đuối, lẩu cá ngạnh, v.v.

Lẩu cá ba sa. Ảnh: Phanxipăng

         Tạt về đường Hà Huy Giáp (Q.12), thực khách càng thích thú được thưởng thức lẩu cá sấu. Ghé làng Đại học Quốc gia ở phường Linh Trung (Thủ Đức), nam thanh nữ tú vào quán Trăn Vàng mà xơi thịt trăn, chắc chắn khó bỏ qua món lẩu trăn.

Lẩu trăn. Ảnh: Phanxipăng

            Một số nơi ì xèo quảng cáo lẩu Thái Lan, nghe khá rộn ràng. Thử ghé các điểm “chuyên trị” ẩm thực Thái, như hai nhà hàng Port Orient và Asian Reflections trong khách sạn Caravelle (Q.1), Vườn ăn uống Kỳ Hòa (Q.10), hoặc các quán Bangkok, Chao Thai, Mali Thai ở trung tâm Sài Gòn, bạn sẽ hít hà với lẩu Thái vì hương vị chua cay đặc trưng. Vị chua của quả me. Vị cay của ớt. Lẩu hải sản thì hội tụ cá, tôm, cua, ghẹ, mực, nghêu, sò. Ngoài ra, còn có lẩu gà nấu hạt điều và nước dừa thơm phưng phức, được người Thái gọi là tom kha gai.

Hương gây mùi nhớ…

            Lẩu, thực tế là bất kỳ món canh hoặc súp nào đun nóng trên bếp lò và dọn ngay giữa bàn. Thực khách múc ăn với rau sống, tàu hủ, bún, miến, mì sợi, bánh phở, bánh hỏi, bánh hủ tíu. Nếu cần, xơi kèm giò cháo quẩy, bánh mì hoặc cơm cũng được.

            Từ điển 1001 món ăn Việt Nam của Trần Kim Mai (NXB Trẻ, 2000) chỉ bày cách chế biến 20 món lẩu. Quỳnh Hương còn soạn tài liệu Kỹ thuật nấu 50 món lẩu (NXB Phụ Nữ, 2001) trình bày phương pháp thực hiện cả “xêri” lẩu để quý bà nội trợ dọn tiệc hoặc phục vụ bữa thường đều tốt. Ví dụ: lẩu cá trê, lẩu cá chẽm, lẩu ếch nấu nghệ, lẩu cua nước thơm, lẩu sườn non đậu hũ, lẩu bắp bò giò heo, lẩu gà măng khô, lẩu vịt nấu chao, lẩu vịt xiêm nước dừa, v.v.

            Không ít món tiềm, món um, như lươn um nước dừa, rùa tiềm thuốc bắc, vịt tiềm tứ bửu, gà tiềm bát trân, ngày nay quán xá dọn trong cái cù lao để giữ nhiệt. Đến món cháo, bây giờ cũng lẩu hóa. Về miền Tây, tôi thấy cháo cá lóc rau đắng được nhiều hàng quán cho vào soong và đặt trên bếp gaz be bé.

Lẩu lươn. Ảnh: Trần Ngọc Đại Dương

            Lại có món kho cực kỳ giản dị nơi miệt quê, khoảng mấy thập niên nay vụt được “nâng cấp” thành lẩu đặc sản đậm đà chất Nam Bộ và được dân sành điệu tôn là “vua lẩu”. Đó là lẩu mắm. Bà con nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long quen kho mắm trong nhà, dùng chấm rau dại – như bông súng, lục bình, so đũa – để ăn cơm. Từ thập niên 1970, mắm kho được “cải biên” thành lẩu mắm. Món lẩu mắm ra trò phải thêm cá hú, cá bông lau, thịt bò, thịt heo ba rọi, mực, tôm, cà tím, đậu bắp, dùng kèm với bún và rau sống. Ngon vô cùng tận! Ai đã đi đầu trong việc thử nghiệm tuyệt vời kia?

            Qua tập bút ký Xa xôi mũi Cà Mau (NXB Văn Nghệ, 1997), nhà báo Ngô Hoàng Giang cho công lao ấy thuộc chị Đoàn Tiết Liệt – chủ quán lẩu mắm Dạ Lý ở Cần Thơ. Chị Liệt kể rằng khoảng sau năm 1975, hai vợ chồng chị bán lẩu dê, chợt một ông khách gợi ý bán lẩu mắm, thế là chị chuyển mắm kho ra lẩu và thành công mỹ mãn. Nếu vậy thì quán Dạ Lý còn đi sau. Bởi năm 1970, tại Sài Gòn, lẩu mắm đã xuất hiện trong một số quán, như quán Ba Thưa ở Cầu Muối, quán Ba Cây Dừa ở Khánh Hội.

            Vấn đề đặt ra hãy còn để lửng, chưa tìm được câu trả lời chắc chắn. Chỉ biết hiện thời, đặc sản lẩu mắm đang lừng “hương gây mùi nhớ” đối với đông người, kể cả khách ngoại quốc. Một số hộ nhờ kinh doanh lẩu mắm mà liên tục “lên hương”. Trên đường Trần Huy Liệu, quận Phú Nhuận, có ngôi lầu trưng biển rõ to: Nhà hàng lẩu mắm. Trên đường 26-3, quận Gò Vấp, quán Lẩu mắm 186 với mặt bằng rộng 300m², song lắm đêm tới đấy, tôi và bạn bè phải đợi khá lâu mới sà vào bàn trống.

Lẩu mắm. Ảnh: Phanxipăng

            Biên soạn giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM ấn hành, 1997), tiến sĩ Trần Ngọc Thêm bước đầu đúc kết các đặc điểm văn hóa ẩm thực của người Việt, bao gồm: tính tổng hợp, tính cộng đồng và mực thước, tính biện chứng và linh hoạt. Món ăn nào thỏa mãn đầy đủ loạt yếu tính vừa nêu như lẩu? ♥

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Tài Hoa Trẻ 190 – 191 (2002)
  • Thế Giới Mới 747 (10-5-2011)
  • Doanh Nhân 1 (9-2013)

Read Full Post »

Older Posts »