Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín, 2011

Sâm Việt Nam – từ lý thuyết đến thực tiễn

            Ngày 13-4-1985, Trung tâm Sâm Việt Nam được thành lập trên cơ sở nâng cấp Đơn vị nghiên cứu chuyên đề sâm K5, tiếp tục đảm trách chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp quốc gia về cây sâm Ngọc Linh. Đến giai đoạn này, bên cạnh mối liên kết làm việc với nhiều cơ quan trong nước, Trung tâm còn được phép mở rộng hợp tác quốc tế nên kết quả đạt được mang tính chất và mức độ sâu rộng hơn, toàn diện hơn.

            Một chuyên gia nổi tiếng về sâm là GS.TS. Osamu Tanaka (Đại học Hiroshima, Nhật Bản) căn cứ vào kết quả phân tích và định lượng saponin của tất cả loài Panax được phát hiện trên toàn cầu, đã đánh giá vào năm 1989: sâm Cao Ly, sâm Mỹ, sâm ba lá Canada và sâm Việt Nam đều thuộc nhóm chứa saponin damarane hàm lượng cao, nếu tính thêm sâm tam thất Trung Hoa nữa thì nhân loại đang có 5 loài sâm đạt phẩm chất đáng quý nhất. Đồng nghiệp của Osamu Tanaka là GS.TS. Kozuo Yamasaki còn chứng minh: sâm Việt Nam có thành phần và hàm lượng saponin cao hơn hẳn sâm Cao Ly, kể cả chất quan trọng là ginsenoside Rg1 và Rb1; ngoài ra chỉ sâm Việt Nam chứa thêm hoạt chất Majonoside R2. Hoạt chất này mang tác dụng đặc thù là sát khuẩn cực mạnh, độc đáo nhất là khả năng kháng cả ung thư. Tóm lại, sâm Ngọc Linh chẳng những tương đương mà còn ưu việt hơn sâm Cao Ly. Quả là điều ít ai lường!

Sâm Ngọc Linh trong điều kiện tự nhiên

            Nhiều kết quả bất ngờ lần lượt được khoa học công bố, thu hút sự chú ý của dư luận về đệ nhất thần dược của Việt Nam. Với các thành tích trong nghiên cứu thực vật học, hoá học, nhân giống và trồng trọt, sản xuất chế phẩm sinh học từ sâm Ngọc Linh, TS. Nguyễn Thới Nhâm đã được Đại học Dược khoa Warszawa (Ba Lan) cấp bằng TSKH (Dr Habil) năm 1990. Năm 1991, tại Đại học Y số 2 Matxkva (Nga), Đào Đại Cường bảo vệ thành công luận án TS với nội dung chứng minh khả năng khử độc ở màng tế bào của sâm Việt Nam. Giai đoạn 1992 – 1994, tại Đại học Hiroshima (Nhật Bản), Nguyễn Minh Đức tiếp tục gây tiếng vang nhờ dùng thiết bị tối tân phân lập thêm 14 saponin damarane chỉ tồn tại trong sâm Việt Nam, do đó hoạt chất đươc đặt tên Vinaginsenoside R1 – R14. Cũng tại Nhật, năm 1996, nữ nghiên cứu sinh Nguyễn Thu Hương được trao học vị TS bởi phát hiện một tác dụng khác của sâm ViệtNam: chống stress tâm lý.

            Từ điển bách khoa dược học (sđd, tr. 559) tổng kết: “Trên cơ sở kết quả nghiên cứu hoá học và tác dụng dược lý, lâm sàng, thân rễ và rễ củ sâm Việt Nam có công dụng chủ yếu sau đây: tăng lực, chống nhược sức, hồi phục sức lực bị suy giảm, kích thích nội tiết sinh dục, đặc biệt trong trường hợp suy nhược sinh dục, tác động thích nghi, chống lão hoá tế bào, giải độc và bảo vệ gan, điều hoà thần kinh trung ương, điều hoà tim mạch, chống xơ vữa động mạch, giảm đường huyết. Riệng tác dụng kháng khuẩn, đặc biệt vi khuẩn Streptococcus gây viêm họng, là tác dụng đặc thù của sâm Việt Nam so với loài sâm khác”.

            Tháng 5-2001, trong Hội nghị khoa học công nghệ lần IX do Viện Dược liệu tổ chức tại Hà Nội, báo cáo Những nghiên cứu về hoá học và tác dụng dược lý của sâm Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2000 của tập thể tác giả Việt Nam, Ba Lan và Nhật Bản tiếp tục khẳng định một số phát hiện mới của sâm Ngọc Linh: chống stress và trầm cảm, phòng chống ung thư.

            Trong các hội nghị, hội thảo quốc tế thường niên về sâm được tổ chức thời gian qua tại Nhật Bản, Thái Lan, Canada, Hoa Kỳ, nhiều chuyên gia đã nhất trí rằng cây Panax vietnamensis chính là “Super Panax”, tức siêu nhân sâm.

            Vậy chúng ta có thể tự hào rằng sâm ViệtNamlà “sâm của các loài sâm”, là “đệ nhất trong hàng đệ nhất thần dược”. Vấn đề thiết yếu đặt ra: cây thuốc tót vời giá trị ấy được giữ gìn, phát triển để khai thác, chế biến nhằm phục vụ cộng đồng ra sao?

            Một giáo viên ở Kontum lắc đầu, thở dài. Mở cuốn Sách đỏ Việt Nam do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường biên soạn (Phần Thực vật – NXB Khoa Học & Kỹ Thuật, Hà Nội, 1996), anh trỏ tôi xem đoạn nhận định về cây sâm Ngọc Linh: đó là “loài đặc hữu của miền Nam Việt Nam” và hiện đặt trong tình trạng E (Endangered: đang nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng). Hỡi ôi!

            Anh nói:

            – Báo động vậy, chậm quá không? Dân Xơđăng quanh núi Ngọc Linh có tục lệ đâm trâu. Hồi trước, cứ 10kg sâm thì đổi được 1 con trâu. Nay làm gì còn giá đó. Sâm Ngọc Linh bây giờ phải quy đổi thành… vàng. Bà con địa phương gọi nó là “củ vàng” mà lị.

            Quả thật, bây giờ ai tới xã Mang Xang, huyện Đăktô, tỉnh Kontum, sẽ chứng kiến cảnh đồng bào miền sơn cước đổ xô nhau lùng sục khắp núi rừng Ngọc Linh để tìm kiếm từng mẩu sâm bé tẹo. Thương lái chờ sẵn ngoài bìa rừng, sẵn sàng thu mua theo “barem” cực kỳ hấp dẫn: sâm tươi mỗi ký bét nhất cũng 1 triệu đồng, sâm khô thì mỗi ký 3 triệu đồng (4). Một thương lái cho hay:

            – Ấy là giá đổ đồng. Riêng củ sâm to dài, cao tuổi, có củ đổi được cả… lượng vàng. Nói vậy thôi, chứ giờ sâm hiếm hơn vàng. Khối kẻ gùi gạo cơm vô ngàn cả tuần, lúc ra chỉ được… tay không, may lắm thì có dăm củ nhỏ xíu.

            Nằm trong dãy Trường Sơn Nam, núi Ngọc Linh không chỉ 1 ngọn mà có tới 50 ngọn cao 1.700m trở lên và ngọn cao nhất 2.598m quanh năm đội mây mù. Khu vực này có 151 nguồn nước. Đó chính là nơi sinh trưởng của sâm: cây mọc thành quần thể ven bờ khe suối, nơi độ ẩm luôn hơn 80% và tỉ lệ mùn hữu cơ trong đất rất lớn. Song, không phải cứ có suối là có sâm. Đợt điều tra thực vật chúng ở Ngọc Linh năm 1979 do TS. Lê Công Kiệt (Khoa Sinh học, Đại học Tổng hợp TP. HCM) dẫn đầu, đã cho thấy: sâm bắt đầu xuất hiện ở độ cao 1.500m, nhưng sum sê nhất ở khu vực 1.700 ~ 2.000m, dưới tán rừng thường xanh hỗn giao giữa cây lá rộng với cây lá kim. Một đặc điểm kỳ lạ nữa: hễ thấy rừng hiện hữu cây “chỉ thị” Strobilanthes pentatemoides T. Anders. var. (cao cỡ 2 ~ 3m), y như rằng sâm mọc chen chúc bên dưới. Thế nhưng nếu thấy cây “cạnh tranh” Strobilanthes pateriformis Lindau. thì bói quanh chẳng thấy sâm. Mấy năm qua, lâm dân tha hồ đẵn gỗ, đốt than, hạ gục cây “cạnh tranh” lẫn cây “chỉ thị”, đoạn dặm vá bằng cách trồng thông, thử hỏi đệ nhất thần dược còn đâu môi trường thích hợp để ngóc đầu?!

Sâm Ngọc Linh được gieo trồng

            Nữ TS. Nguyễn Ngọc Dung – người từng thực hiện đề tài nghiên cứu Nhân giống sâm Ngọc Linh và tạo nguyên liệu bằng con đường công nghệ sinh học – kể:

            – Năm 1984, len lỏi 120km đường rừng lên núi Ngọc Linh để khảo sát, chúng tôi thấy sâm mọc hoang lẫn sâm trồng còn nhiều lắm, tươi tốt lắm. Nhưng 10 năm sau, trở lại đấy lấy mẫu đất về phân tích, đoàn chúng tôi chứng kiến cảnh tượng: nguồn sâm biến mất! Trại trồng sâm ở xã Mang Xang chẳng còn gì! Sâm mọc hoang thì bị đào xới tơi bời, gần sạch!  Do đó, từ năm 1993, Viện Sinh học nhiệt đới tại TP. HCM đã quyết tìm tòi phương pháp tái sinh sâm Ngọc Linh bằng nuôi cấy mô nhằm mục tiêu cung cấp giống sâm, giữ gìn và phát triển gene quý cho đất nước.

            Sâm Ngọc Linh được gieo trồng từ hạt thường tăng trưởng chậm, sau hơn năm trời mới nẩy mầm, mỗi năm nhích được 1 ~ 1,5g và phải mất 5 ~ 7 năm mới đâm củ có hoạt lực dược học. Còn tạo phôi soma và nuôi cấy in vitro (trong phòng thí nghiệm) thì cây con cho sinh khối mang đặc điểm di truyền cùng hoạt chất như cây mẹ, cứ 25 ngày có khả năng cung cấp một đợt giống. Cây con ra bầu đất, trồng 5 năm là có thể thu hoạch. Lý thuyết thế, song thực tế thì tỉ lệ cây sống quá thấp, trồng nghìn cây chỉ sống được… dăm cây! Lại nẩy ý kiến nghi ngại: chưa thử lâm sàng, làm sao đảm bảo sâm tái sinh in vitro đạt giá trị khoa học và kinh tế cần thiết? Vả, sâm là cây thuốc quá đặc biệt, trồng sai môi trường thì chưa chắc còn đúng là… sâm!

            Hiện nay, theo tôi biết, Trại Dược liệu Trà Linh (huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam) (5) còn giữ vườn sâm trồng bằng gieo hạt và ươm mầm theo phương pháp cổ điển bên sườn đông của núi Ngọc Linh, trên độ cao 1.350m. Phải nói rằng trồng sâm là nghề “nuôi con mọn”, đòi hỏi chăm bẵm ngày đêm, che nắng, chắn gió, nhổ cỏ, bón phân, đề phòng sâu bệnh, thường xuyên canh gác chim chuột và… kẻ gian. Mỗi cây sâm trồng, ít nhất phải sau 5 năm mới cho rễ củ 300 ~ 400g. Thế thì 13 công nhân ở Trại hưởng lương bình quân đầu người bao nhiêu? 150.000 đồng/tháng! Đình Phương – phóng viên Đài Truyền hình Quảng Nam – lúc thực hiện bộ phim tài liệu Vùng cao Trà Linh – thực trạng và tiềm năng vào cuối năm 1998, phải ngao ngán thốt lên:

            – Lương hướng vậy, ai dám bảo họ có thể yên tâm làm việc hết mình trong điều kiện núi non xa cách?

            TS. Trần Công Luận bình:

            – Núi Ngọc Linh, phần thuộc Quảng Nam, sở dĩ giữ được cây sâm là nhờ nhiều yếu tố… bất lợi! Triền quá dốc, diện tích vùng sâm nhỏ hẹp, đường sá đi lại khó khăn và hoàn toàn bị ách tắc vào mùa mưa, do đó rất ít người lạ lai vãng. Trại Dược liệu Trà Linh (trực thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Nam) có trách nhiệm bảo vệ và phát triển cây sâm, thực sự đã góp vai trò quan trọng trong việc giữ gìn nguồn dược liệu quý. Nhưng điều kiện sống và làm việc khó khăn, khắc khổ, liệu Trại trụ vững bao lâu? Trong khi đó, phần núi Ngọc Linh thuộc tỉnh Kontum thuận lợi hơn về diện tích, trữ lượng, điều kiện sinh thái lẫn phương tiện giao thông, vậy mà chịu thất bại nặng! Đó là bài học về phân cấp quản lý: tỉnh giao Sở Y tế, Sở giao Công ty Dược, rồi giao lâm trường, rồi giao xuống huyện, xuống xã. Cha chung, ai thèm khóc? Kết quả tất yếu: Kontum mất trắng cây sâm! Hiện giá sâm Ngọc Linh cao vọt vì nguyên nhân chính là quá khan hiếm!

Củ sâm Ngọc Linh từ 2 đến 6 tuổi. Ảnh: Nguyễn Minh Đức

            Một số chế phẩm từ sâm Ngọc Linh cũng đã thử sản xuất, liền được thị trường trong lẫn ngoài nước hào hứng đón nhận. Trung tâm Sâm Việt Nam tung loạt mặt hàng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế G. Rg1 như viên ngậm Vinaginseng pastilleVinapanax, ống uống Vina Ginseng, chai tinh sâm Vina Panax, trà túi lọc Vinaginseng tea, rượu mùi Vina Honey-GinsengSâm quy dưỡng lực. Cơ sở mỹ phẩm Thorakao mạnh dạn chào bán kem sâm Ngọc Linh dưỡng da Crème Ginseng. Trung tâm Giống cây thuốc cấp I Lâm Đồng chế biến Trà sâm quy dạng túi lọc 2g gồm sâm Ngọc Linh phối hợp đương quy, tam thất, bạch truật, thục địa, cam thảo. Tất cả chế phẩm nọ, giờ đây người tiêu dùng tìm mỏi mắt cũng khó thấy. Vì sao?

            – Nguồn sâm Ngọc Linh cạn kiệt đến mức báo động đỏ, lấy nguyên liệu đâu để sản xuất tiếp cơ chứ?

            TSKH. Nguyễn Thới Nhân nhăn mặt nói vậy. Tôi đặt vấn đề:

            – Liệu sâm Ngọc Linh rồi đây phải chịu thảm hoạ diệt vong như số phận sâm Lào Cai ư?

            Ông Nhân lắc đầu:

            – Sâm Lào Cai đến nay chỉ còn hình vẽ mô tả, chứ chẳng thấy ảnh chụp lẫn mẫu vật! Còn sâm Ngọc Linh thì tôi cam đoan chẳng đời nào tuyệt chủng, nếu – xin nhấn mạnh chữ nếu – không tàn sát núi Ngọc Linh. Phá rừng núi, tùng xẻo môi trường sinh thái, làm thay đổi khí hậu, đến con người cũng… thăng, huống hồ cây sâm!

Rượu sâm Ngọc Linh. Ảnh: Phanxipăng

            Lật lại tập báo cáo về sâm đốt trúc năm 1973 của dược sĩ Đào Kim Long, tôi vừa bâng khuâng, vừa băn khoăn. Vùng rừng núi được mệnh danh đất Ngọc cây Linh giá sớm trở thành Vườn quốc gia, do trung ương đầu tư quản lý chặt chẽ, thì hiện trạng đệ nhất thần dược của Việt Nam đâu ra nông nỗi? ♥

_________________

(4)   Giá sâm Ngọc Linh tính theo kg tại huyện Đăktô, tỉnh Kontum, tháng 2-2007: sâm tươi 15 triệu đồng, sâm khô 50 triệu đồng.

(5)   Theo Nghị định số 72/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 20-6-2003 thì huyện Trà My thuộc tỉnh QuảngNamtách thành 2 huyện Bắc Trà My và Nam Trà My. Trại Dược liệu Trà Linh hiện nằm trên địa bàn huyện Nam Trà My.

Ngày giỗ phụ thân

21 tháng 5 Tân Tị

(11-7-2001)

Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới từ số 446 (23-7-2001) đến số 451 (27-8-2001)

Read Full Post »

Việt Nam có sâm “thứ thiệt” chăng?

            Sâm “thứ thiệt” – như tôi đã trình bày – phải là cây thuốc quý thuộc chi thực vật Panax, họ Araliacea, mà tiêu chuẩn chính để xác định giá trị là thành phần và hàm lượng saponin damarane với hoạt chất quan trọng ginsenoside Rg1 (G. Rg1) được chọn làm chuẩn quy chiếu. Liệu Việt Nam có được cây sâm “thứ thiệt” nào chăng?

            Trước kia, ở các tỉnh miền núi phía Bắc, không kể sâm Tàu tức sâm tam thất Trung Quốc (Panax notoginseng) được đồng bào trồng lẻ tẻ tại Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, thì nước ta sở hữu 2 loài Panax tương đối giá trị. Một là sâm vũ diệp có tên khoa học Panax bipinnatifidus Seem. thường mọc hoang trên độ cao 1.000 ~ 1.500m nơi vùng đất mùn ẩm, sum sê nhất tại Sapa nên còn được gọi sâm Sapa. Cây kia là sâm Lào Cai tức sâm tam thất Việt Nam có tên khoa học Panax pseudoginseng Wall. Về hình thái thực vật cũng như dược tính, sâm tam thất Việt Nam có nhiều ưu điểm nổi trội so với sâm tam thất Trung Quốc. Đáng tiếc xiết bao! Các nhà khoa học chưa kịp bắt tay nghiên cứu kỹ loài sâm này thì cây thuốc quý hầu như bị… tiệt giống vì nạn khai thác ào ạt bừa bãi! Hiện ở Sapa chỉ còn ít sâm vũ diệp chứa các saponin triterpen olean, tác dụng bổ dưỡng và chữa các chứng thiếu máu, xanh xao, gầy yếu. Y học cũng nhận thấy khả năng kích thích tình dục của sâm vũ diệp nên đã dùng điều trị vô sinh.

            Bấy lâu, các chuyên gia quốc tế công nhận 11 loài sâm “thứ thiệt”. Ấy là sâm Cao Ly (Panax ginseng) cùng các cây sâm Mỹ, sâm Tàu, sâm Nhật mà quý bạn đọc đã nắm thông tin. Quan sát bản đồ thế giới, người ta nhận thấy phạm vi phân bố tất cả loài sâm chính thức khởi phát từ Himalaya, kéo dài khắp miền đông bắc Trung Hoa và vùng Viễn Đông nước Nga, qua Triều Tiên – Đại Hàn, Nhật Bản, đến Bắc Mỹ. Quy luật được đúc rút: sâm “chính cống” chỉ hiện hữu trong khu vực ôn đới của Bắc bán cầu. Quy luật kia bị phá vỡ lúc loài sâm đặc sắc thứ 12 được phát hiện nơi xứ nhiệt đới, ngay tại miền Trung nước Việt.

            Đó là thời gian chiến tranh diễn ra cực kỳ khốc liệt. Hai dược sĩ Đào Kim Long và Nguyễn Châu Giang công tác tại phòng Dược liệu, ban Y tế miền Trung Trung bộ – thường được gọi ban Dân y khu 5 – thường lặn lội săn tìm bao vị thuốc nhằm đáp ứng nhu cầu cần kíp của chiến trường. Ngày 19-3-1973 trở thành một mốc son đáng nhớ với lịch sử ngành dược liệu Việt Nam: hai ông hết sức mừng rỡ bắt gặp cây thuốc rất lạ trên núi Ngọc Linh thuộc huyện Đăktô, tỉnh Kontum.

Ngọc Linh Liên Sơn là khối núi có nhiều ngọn, trong đó đỉnh Ngọc Linh cao nhất với 2.598m

            Cây có gì đặc biệt? Cây thảo, cao cỡ 40 ~ 60cm, số ít cá thể cao hơn 1m; lá kép hình chân vịt; thân rễ nạc với đường kính 1 ~ 3,5cm, màu vàng, mang nhiều vết nhăn dọc cùng nhiều rễ con, cuối thân rễ là rễ củ dạng con quay, dạng củ cà rốt, đôi khi cả dạng hình người. Rễ dễ bị bẻ gãy, mùi thơm nhẹ, vị đắng hơi ngọt. Quan sát hình thái, hai ông xác định ngay: đích thị họ Nhân sâm (Araliaceae), chi Panax, còn tên loài chưa rõ. Thấy rễ chia từng đốt hao hao tre trúc (thực chất là sẹo do thân khí sinh để lại mà mỗi đốt tương ứng 1 năm tuổi), nên bấy giờ hai ông tạm gọi nhân sâm đốt trúc tức trúc tiết nhân sâm và tạm định danh khoa học là Panax articulatus.

            Ngày 7-6-1973, dược sĩ Đào Kim Long đánh máy báo cáo cây thuốc quý mới phát hiện, kèm hình vẽ, ảnh chụp, và 250g mẫu vật thân rễ. Toàn bộ hồ sơ được bọc nilon cẩn thận, kịp thời chuyển ra Hà Nội cho Bộ Y tế. Tập báo cáo gồm 6 trang giấy pelure được xếp vào “tài liệu mật”, nên cho đến phút này rất hiếm người trông thấy. Vì thiếu thông tin chính xác nên câu chuyện phát hiện cây sâm quý đã bị thêu dệt thành nhiều giai thoại lưu truyền trong dân chúng, chứa đựng lắm chi tiết mâu thuẫn nhau!

            Hơn ¼ thế kỷ trôi qua với dập dồn biến động, liệu tập báo cáo kia còn được bảo lưu?

            Sau thời gian dài bỏ công dò hỏi, kiếm tìm, tôi thực sự xúc động cầm trên tay nguyên bản báo cáo kia vào một chiều đầu tháng 7-2001 tại… Sài Gòn, bên bờ kênh Nhiêu Lộc. Tư liệu đã trở thành độc bản, dường vẫn vướng theo nó hơi hám lửa đạn và xương máu một thời!

Bản gốc tập báo cáo phát hiện sâm tại miền Trung nước Việt năm 1973. Ảnh: Phanxipăng

            Xin sao lục đoạn đầu tập báo cáo:

            9h ngày 19-3-1973, chúng tôi gặp cây Panax đầu tiên. Đây là nhân sâm đốt trúc (trúc tiết nhân sâm) ở độ cao 1.500m. Song ở đây chúng tôi chỉ tìm thấy 2 cây, một cây 9 tuổi, một cây 11 tuổi, bên cạnh đó có 2 mẩu thân rễ bị gãy đã nẩy mầm tái sinh, đồng thời có một số cây con mới nẩy mầm từ hạt. Chúng tôi đã ở lại 3 giờ liền để khảo sát các điều kiện liên quan và nhận thấy địa điểm này chưa phải là thích hợp nhất để nhân sâm đốt trúc sinh trưởng và phát triển (…). 16h ngày 19-3-1973, chúng tôi bước vào giữa một vùng nhân sâm đốt trúc rộng lớn. Chúng tôi ở lại 20 ngày để thu thập mọi dữ liệu về sinh lý, sinh thái, thổ nhưỡng, khí hậu, cũng như các điều kiện về quần thể, quần lạc, các điều kiện trong cân bằng sinh vật học…

            Vụ trưởng Vụ 1 (phụ trách miền Nam) của Bộ Y tế thuở đó là bác sĩ Võ Tố tiếp nhận bản báo cáo, liền đệ trình Bộ trưởng Vũ Văn Cẩn. Và nhiệm vụ nghiên cứu được giao một dược sĩ vừa từ chiến trường miền Nam ra Bắc chưa bao lâu. Người đó nay là TSKH Nguyễn Thới Nhâm.

            Ông Nhâm hồi tưởng:

            – Tôi quê gốc Quảng Ngãi, nhưng chào đời tại Phú Yên, sau hiệp định Genève 1954 thì tập kết ra Bắc. Năm 1964, cấp trên điều tôi đi B (vào Nam) lập xưởng dược miền Trung Trung bộ, phiên hiệu K25. Năm 1971, tôi quay ra Hà Nội chữa bệnh, đồng thời  luyện tiếng Anh và bổ túc kiến thức chuyên môn để chuẩn bị sang Ba Lan làm thực tập sinh khoa học với đề tài nghiên cứu các cây thuốc họ Nhân sâm. Nhận hồ sơ về sâm đốt trúc do Bộ Y tế giao năm 1974, tôi liền vào Viện dược liệu bắt tay phân tích bước đầu về thành phần hoá học và thử so sánh với sâm Cao Ly và sâm tam thất Trung Quốc.

            Tôi hỏi:

            – Kết quả sơ khởi thế nào ạ?

            Ông Nhâm vỗ tay đánh bốp:

            – Thật bất ngờ! Sắc ký đồ cho thấy: sao sâm đốt trúc giống sâm Cao Ly đến thế! Chắc chắn đây là dược liệu quý, tốt. Còn xác định rõ quý và tốt đến mức nào thì cần nghiên cứu thật sâu, thật kỹ, thật toàn diện, mới kết luận được. Tôi vội báo cáo kết quả nghiên cứu sơ bộ với mấy đề nghị: 1. Trước mắt, khu uỷ 5 cần có biện pháp bảo vệ ngay sâm đốt trúc; 2. Để tránh nạn khai thác tự do, tạm thời không nên dùng tên “sâm” mà hãy gọi “cây có đốt”, và tạm đổi công dụng của nó khi giao dịch, không nói thuốc bổ mà cứ bảo thuốc… ngủ! Dù trong thời chiến, khu uỷ 5 đã thực hiện tốt điều đó.

            Lục lại chồng công trình nghiên cứu đề tài liên quan, ông Nhâm tiếp:

            – Trước khi sang Ba Lan du học, tôi được lãnh đạo Bộ Y tế đồng ý cho mang theo mẫu vật sâm đốt trúc để tiếp tục khảo sát với lời dặn: “Đây là bí mật quốc gia, tuyệt đối chưa thể công bố rộng rãi!”. Năm 1976, tôi hoàn tất luận án phó tiến sĩ về sâm Mãn Châu Lý, đồng thời tôi thực hiện thêm công trình nghiên cứu: thử đối chiếu hoạt chất saponin triterpen của sâm đốt trúc và sâm Cao Ly.

            Tôi thắc mắc:

            – Lúc đó, phải gọi cây sâm của ta bằng tên gì cho phù hợp?

            Ông Nhâm cười:

            – Ở trong nước, người ta chưa đồng ý cách định danh khoa học Panax articulatus của anh Đào Kim Long. Lại có người đề xuất gọi Panax japonicus (!?). Nhằm đảm bảo bí mật, tôi tạm đặt tên Panax k5vn trong bài viết đăng trên tờ Herba Polonica số 1/1976. Đó là bài báo đầu tiên về sâm đốt trúc. Sau này, mọi người hỏi rằng k5vn là gì, tôi giải thích: “Khu 5 Việt Nam”. Cái tên sâm khu 5 bắt nguồn từ đó. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, bấy giờ là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, chỉ thị: “Cây sâm này, vùng sâm này cần phải giữ bí mật một thời gian, gọi như thế lộ liễu quá”. Bèn gọi lại là sâm K5.

TSKH Nguyễn Thới Nhâm. Ảnh: Phanxipăng

            Trao tôi xem những tấm hình tư liệu, ông Nhâm thêm:

            – Đơn vị nghiên cứu chuyên đề sâm K5 trực thuộc Bộ Y tế được thành lập năm 1978, do tôi chủ trì, với nhiệm vụ điều tra nguồn gốc, sinh thái, trữ lượng và khoanh vùng bảo vệ cây Panax quý báu. Nhân lực tham gia gồm 85 người (30 dược sĩ và 55 công nhân), tiến hành 3 đợt điều tra ròng rã 3 năm trên địa bàn 13 xã thuộc 3 huyện Đăktô, Đăkglay (tỉnh Kontum) và Trà My (tỉnh Quảng Nam). Tới năm 1980, hoàn tất chương trình, tìm thấy được 108 vùng sâm mọc tập trung với trữ lượng lớn và độ tuổi rất cao (cây 10 ~ 70 năm chiếm 70%). Đã đo vẽ 136 bản đồ, rồi dựa theo địa hình mà khoanh 11 “chốt” để lập kế hoạch bảo vệ, khai thác và phát triển cây sâm. Tháng 4-1980, Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định quan trọng: khoanh vùng sâm vừa điều tra ở khu vực rừng núi Ngọc Linh thành “vùng cấm quốc gia”, nhưng lại giao địa phương quản lý…

            Đợt điều tra quy mô ấy làm sáng tỏ thêm nhiều điều. Chẳng hạn người ta biết được dân tộc Xơđăng (3) quanh rừng núi Ngọc tự xửa xưa từng lưu truyền bí quyết “ngậm ngãi tìm trầm”. Ngãi đây, gọi đầy đủ là ngãi rọm con, chính là rễ củ sâm K5. Sơn nhân băng ngàn, vượt thác, tìm quế, tìm trầm, hoặc săn bắn dài ngày, khi nào cảm thấy kiệt sức thì nhá chút ngãi nhằm tăng lực. Chỉ ít “già làng” mới biết và cung cấp ngãi, nên dược liệu này còn mang tên thuốc giấu. Nhiều người Xơđăng rất quý thuốc giấu, luôn mang kè kè bên mình, hễ gặp bất kỳ bệnh hoạn gì –  từ bệnh thông thường đến tai nạn nguy cấp –  thảy đều dùng để trị liệu nên ngãi lại được gọi thuốc hộ thân.

            Kết quả đợt điều tra còn phủ nhận giả thuyết sâm K5 là sâm Nhật, do đội quân của Thiên Hoàng mang sang trồng hồi đệ nhị thế chiến. Bằng chứng phản biện là năm 1978, đoàn đã thu được cây sâm K5 có thân rễ và rễ củ dài tổng cộng 90cm, nặng 710g, độ tuổi được xác định 62 năm, nghĩa là trước thời điểm quân đội Nhật đổ bộ vào Đông Dương rất lâu. Đến năm 1984, tại chốt 11 mang tên “sâm voi”, lại phát hiện thêm một cây sâm 72 tuổi.

            Sau những khảo sát khá toàn diện, cây sâm K5 bộc lộ nhiều phẩm chất ưu việt tương tự sâm Cao Ly. Nhưng rõ ràng sâm K5 là loài riêng, không phải sâm Cao Ly. Vậy đã đến lúc cần định danh khoa học theo quy ước quốc tế cho loài Panax độc đáo này. Còn tên phổ thông tiếng Việt, theo nhiều người đề nghị, nên lấy đúng tên núi là địa bàn sinh trưởng của cây thuốc quý: sâm Ngọc Linh.

            Năm 1985, mang tiêu bản sâm Ngọc Linh do dược sĩ Phan Văn Đệ thu thập, TS. Hà Thị Dụng (Viện Sinh vật học Việt Nam) bay sang Liên Xô để cùng một chuyên gia về các cây họ Nhân sâm là GS. viện sĩ hàn lâm I. V. Grushvisky (Viện Thực vật học Komarov) khảo sát rồi cẩn thận phân loại và chính thức công bố trên toàn thế giới: sâm Ngọc Linh là một loài mới và đặc hữu với tên khoa học Panax vietnamensis Ha et Grushv. Danh mục sâm “thứ thiệt” khắp hoàn vũ từ ấy xuất hiện thêm loài Panax thứ 12: sâm Việt Nam (Vietnamese ginseng).

Tiêu bản sâm Ngọc Linh Panax vietnamensis

            Sự kiện đó gây “rúng động năm châu” vì làm đảo lộn nhận thức truyền thống của cả nhân loại về sâm! Cây sâm chính cống (le vrai ginseng) đâu chỉ phân bố tự nhiên ở miền ôn đới, mà còn hiện hữu tại vùng nhiệt đới. Tính tới bây giờ, sâm Ngọc Linh là loài sâm “thứ thiệt” duy nhất được phát hiện và công nhận tại khu vực khí hậu “ngoại lệ”. Không những vậy, sâm Ngọc Linh còn khiến giới khoa học sửng sốt khi phân tích cấu trúc hoá học, định lượng thành phần hoạt chất saponin và thử nghiệm tác dụng dược lý – lâm sàng.

_________________

(3)   Xơđăng còn gọi Xơđeng, Xêđăng, Càdong, Mơnăng, Konlang. Tên người Xơđăng không có họ kèm theo, nhưng có từ chỉ giới tính, nam là A, nữ là Y. Ví dụ: A Nhong, Y Hên. 2 sản phẩm tiêu biểu của người Xơđăng là nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xơđăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xơđăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum (104.759 người, chiếm 24,4 % dân số toàn tỉnh và 61,8 % tổng số người Xơđăng tại Việt Nam), Quảng Nam (37.900 người, chiếm 22,4 % tổng số người Xơđăng tại Việt Nam), Quảng Ngãi (17.713 người), Đắklắk (8.041 người), Gia Lai (705 người).

(Còn nữa)

Read Full Post »

Sâm Mỹ, Tàu, Nhật, Nga, Gia Nã Đại

            Nhân sâm Cao Ly được người Triều Tiên bắt đầu trồng từ năm 1757. Hiện thời, diện tích canh tác sâm thương mại của bán đảo này tập trung chủ yếu tại miệt Khai Thành và các địa phương lân cận ở quanh vĩ tuyến 38, ước chừng hơn 4.000ha.

            Tuy nhiên, nơi trồng sâm Cao Ly sớm nhất lại là… Nhật Bản. Dân xứ Phù Tang rất chuộng đệ nhất thần dược và bao lâu vẫn phải nhập mặt hàng này từ Triều Tiên qua đường biển. Họ tự đặt câu hỏi: đất nước Nhật với Triều cũng gần nhau; vĩ tuyến 38 đều chạy qua các vùng Sado, Yamagata, Niigata, Sendai, Fukushima của xứ Phù Tang; vậy cớ sao không thử lấy giống nhân sâm mà trồng? Công việc được tiến hành từ năm 1713, sau một thời gian thì gặt hái thành công: cây sâm Cao Ly hoàn toàn thích nghi thủy thổ Nhật Bản, cho củ đạt yêu cầu về hình thái thực vật cũng như tác dụng dược lý. Ngày nay, Nhật Bản đã quy hoạch 725ha chuyên trồng sâm Cao Ly.

            Nước hiện canh tác sâm Cao Ly với diện tích lớn nhất thế giới lại là… Trung Hoa, tập trung ở hai tỉnh Liêu Ninh và Cát Lâm, gồm khoảng 7.000ha, bình quân mỗi năm thu hoạch 750 tấn củ. Khu vực Hoành Đạo Xuyên thuộc huyện Hoàn Nhân, tỉnh Liêu Ninh, được xem là nơi thích hợp nhất, nhưng trồng cho được sâm Cao Ly cũng quá đỗi công phu vì cây mọc rất chậm, sau 6 năm mới ra củ nhỏ xíu nên thường phải mất 10 năm chăm sóc thì dùng được. Các địa phương khác còn tốn thời gian hơn, như ở Thạch Trụ thuộc huyện Khoan Diện mỗi vụ sâm kéo dài những 18 ~ 20 năm.

Sản phẩm nhân sâm Trung Hoa

            Nga cũng trồng sâm Cao Ly từ năm 1910 với quy mô đồn điền nơi miền Viễn Đông. Nhân sâm là cây ưa bóng râm nên được trồng dưới các lán che nắng. Ngày nay, tại Nga, các nông trường chuyên canh nhân sâm Cao Ly vẫn tiếp tục “ăn nên, làm ra” ở Primorie và Khabarovsk.

Cao Ly, Nhật Bản, Trung Hoa, Nga: xứ sâm

            Tít tận bên kia Thái Bình Dương, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ cũng có vĩ tuyến 38 vắt ngang. Người Mỹ bèn khảo sát thổ nhưỡng và khí hậu một số khu vực, tìm địa điểm tương tự miệt Khai Thành của Triều Tiên để di thực nhân sâm về trồng. Chẳng ngờ ở “tân thế giới”, sâm Cao Ly phát triển rất tốt, nhất là tại bang California. Tiếp tục chuyển giống sâm lên quá vĩ tuyến 40, thử trồng ở các bang Minnesota và Wisconsin quanh vùng Hồ Lớn (Great Lakes), cũng thành công. Hiện nay, riêng bang Wisconsin có 2.100ha nhân sâm.

            Hoa Kỳ trồng được sâm Cao Ly, thì láng giềng Canada cũng áp dụng. Quốc gia này hiện có 756ha ở tỉnh British Colombia và 1.260ha ở tỉnh Ontario chuyên trồng sâm Cao Ly, tạo nguồn thu nhập đáng kể.

            Một số nước khác như Ấn Độ, Nepal, Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Ba Lan từng thử nghiệm trồng sâm Cao Ly, song diện tích quá bé.

Thu hoạch nhân sâm ở Đức

            Toàn bộ nhân sâm trồng ở các nước, sau khi thu hoạch rồi chế biến, phần lớn đều được dán nhãn sâm Cao Ly. Do đó, nếu không xem kỹ nơi sản xuất, người tiêu dùng dễ bị mua hớ. Sâm Cao Ly “chính hiệu” Triều Tiên luôn đắt giá nhất, kế đó là nhân sâm “ra lò” tại Hoa Kỳ và Trung Hoa. Theo tờ The Straits Times thì có những người thích sâm Cao Ly của Mỹ hơn vì tính “mát”, chứ sâm Cao Ly của Triều Tiên tính “nóng”. Thảo luận vấn đề này với lương y Đinh Công Bảy, thì tôi nghe:

            – Nhân sâm, có sách viết là viên sâm. Hầu hết tài liệu đều ghi nhận về nhân sâm: vị ngọt, hơi đắng, tính ôn. Vậy nhưng không ít người vẫn nghĩ “nhân sâm Mỹ mềm mại, êm dịu và mát mẻ hơn nhân sâm Triều Tiên” có lẽ chịu ảnh hưởng bởi… quảng cáo! Nhưng chính nhờ tiếp thị giỏi, phần khác nhờ bao bì đẹp, sâm Cao Ly “made in USA” bán được giá và khá chạy mà khách hàng là đông đảo người gốc Á sinh sống tại châu Mỹ và châu Âu. Sâm Cao Ly “made in USA” còn chiếm thị phần tại Đài Loan, Hong Kong, Singapore. Ở Việt Nam, sâm Cao Ly sản xuất bên Mỹ cũng thấy bán dưới nhiều dạng.

            Đinh Công Bảy đề nghị:

            – Đã phân biệt sâm Cao Ly trồng ở Triều Tiên với ở Mỹ, thì trong bài viết, Phanxipăng nên phân biệt giúp bạn đọc: sâm Cao Ly trồng ở Mỹ với sâm Mỹ.

            Sâm Mỹ (American ginseng) có tên khoa học Panax quinquefolium L. Rễ củ sâm này hao hao củ cà rốt, cũng có củ gần giống dạng người. Đặc điểm dễ nhận là ngoài da thường xuất hiện rãnh song song và trên thân rễ ngắn mang những vết sẹo rõ rệt do thân khí sinh những năm trước tàn lụi để lại. Thành phần saponin triterpen của sâm Mỹ gần giống sâm Cao Ly, chủ yếu là saponin damarane, song hàm lượng cao hơn. Ngoài ra, sâm Mỹ còn thêm 7 hợp chất polyacetylen đã được phân lập và xác định. Về tác dụng, sâm Mỹ tương tự sâm Cao Ly nên nhiều nước chọn dùng thay nhân sâm khi điều trị. Cây thuốc này phân bố rộng trong rừng ôn đới, phía nam từ bang Oklahoma đến bang Georgia giáp Đại Tây Dương, phía bắc từ các bang Wincosin và Minnesota kéo sang tận Quebec của Canada. Vì thế, sâm Mỹ còn mang tên sâm Hoa Kỳsâm Gia Nã Đại / sâm Canada (Canadian ginseng).

Sâm Mỹ / Hoa Kỳ / Gia Nã Đại / Canada

            Nhiều nơi đã trồng sâm Mỹ với quy mô lớn. Qua chế biến, dược liệu này được tung ra thị trường khá đa dạng về chủng loại: nào sâm đỏ và sâm trắng (như hồng sâm và bạch sâm của Triều Tiên), nào tinh sâm, cao sâm, bột sâm, nước sâm, viên nang, trà sâm, kẹo sâm, kem sâm, rượu sâm, xirô sâm, nước giải khát pha sâm, v.v. Một số Việt kiều ở Hoa Kỳ cho tôi hay:

            – Dân Hoa Kỳ cũng chuộng sâm Hoa Kỳ. Một lượng (37g) sâm vụn (sâm tu) được bán 3 đô la để nấu nước uống tăng lực. Một ly coctail có củ sâm tươi bằng ngón chân cái thì 5 đô la.

            Cùng với cây sâm vừa kể, phần lục địa Bắc Mỹ bao gồm Hoa Kỳ và Canada còn phát hiện một loài sâm hoang dại gọi là sâm lùn (Dwarf ginseng), tên khoa học Panax trifolius L.

Sâm lùn

            Ở Trung Hoa, ngoài nhân sâm di thực từ Triều Tiên sang, còn có cây thuốc đặc hữu được định danh khoa học Panax notoginseng (Burk.) F. H. Chen. Dân Việt thường gọi đấy là sâm tam thất Trung Quốc, vắn gọn thì tam thất hoặc sâm Tàu. Người Hoa rất quý dược liệu này nên đặt tên kim bất hoán (vàng không đổi). Theo Đông y, tam thất vị ngọt, hơi đắng, tính ôn, vào 2 kinh can và vị; chủ trị cầm máu, tiêu thũng, thổ huyết, bị chấn thương có máu bầm.

           Ngay tại nước ta trước kia, tam thất được trồng với số lượng ít trên cao nguyên Đồng Văn (Hà Giang) và các huyện Mường Khương, Bát Xát (Lào Cai). Đầu thập niên 1980, ghé Lạng Sơn, tôi cũng nghe dân địa phương kể chuyện leo núi đào sâm tam thất.

          Bác sĩ Nguyễn Văn Dương – nguyên giám đốc Bệnh viện Y học dân tộc TP.HCM – cho biết:

            – Tam thất chỉ thích hợp ở vùng cao 1.200 ~ 1.500m, phía sườn núi ít gió mạnh. Trồng, phải có giàn che nắng, và rào bảo vệ để chống chuột với sóc ăn củ. Bên Trung Quốc, tam thất được trồng ở các tỉnh Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, nhưng nhiều nhất và được xem đạt chất lượng tốt nhất là tam thất tại tỉnh Vân Nam. Giai đoạn 1937 – 1941, các giáo sư Triệu Thừa Cổ và Chu Nhiệm Hoàng đã chiết xuất được 2 saponin trong củ tam thất. Đó là arasaponin A (C30H52O10) và arasaponin B (C22H38O10). Năm 1950, Hứa Thục Phương phân lập thêm saponin thứ ba. Tới nay, các nhà khoa học đã phát hiện tam thất chứa cả loạt hoạt chất saponin, toàn bộ đều thuộc khung damarane đạt hàm lượng cao. Dân gian vẫn lưu truyền bài Thập bổn thang gia giảm dùng tam thất chữa phụ nữ băng huyết. Bệnh viện đã thử lâm sàng, thấy bài thuốc này công hiệu lắm.

            Trung Hoa rất phong phú thực vật chi Panax, họ Araliceae. Ngoài tam thất, đất nước ấy còn có thêm ít nhất 2 loài được thế giới công nhận “sâm thứ thiệt”: cây Panax zingiberensis C. Y. Wu et K. M. Feng và cây Panax stipuleanatus H. T. Tsai. Tất cả đều được gọi sâm Tàu (Chinese ginseng), do đó khi mua để sử dụng cần phân biệt.

Sâm Tàu Panax zingiberenis

            Sâm Nhật (Japanese ginseng) tồn tại khá nhiều loài. Không tính nhân sâm Cao Ly di thực, xứ sở hoa anh đào có 4 loài Panax japonicus (viết tắt P.j. ) được xếp vào danh mục sâm chính thức: cây P.j.C.A.Meyer, cây P.j.C.A.Mey.var.major (Burk.) C.Y.Wu et K.M.Feng, cây P.j.C.A.Mey.var.angustifolius (Burk.) Cheng et Chu, cây P.j.C.A.Mey.var.bipinnatifidus (Seem.) C.Y.Wu et K.M.Feng. Theo kết quả phân tích hóa học của giáo sư tiến sĩ Osamu Tanaka (Đại học Hiroshima, Nhật Bản) thì toàn bộ các cây sâm vừa kể chủ yếu chứa sapononolean, chứ saponin damarane lại chẳng đáng bao lăm.

Sâm Nhật Panax japonicus

            Du học sinh cùng một số viên chức Việt Nam qua Liên bang Nga học tập, công tác, đã đưa về quê nhà nhiều loại sâm Nga (Russian ginseng). Thực chất, sâm Nga thế nào?

            Mở bản đồ nước Nga, ai cũng thấy một phần lãnh thổ quốc gia này trải rộng từ sông Ural ở phía tây đến các dãy núi ven bờ biển Ohotskoe ở phía đông, giáp giới Kazakhstan, Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên. Đó là Siberia / Sibir, vùng đất mà dân Nga mệnh danh “hiệu thuốc xanh Viễn Đông” vì nơi ấy có lắm cây thuốc giá trị mà tiêu biểu nhất là sâm. Như đã nói, sâm Cao Ly được trồng nhiều tại khu vực đông nam Siberia. Không chỉ nhân sâm trồng, người ta còn tìm thấy nhân sâm mọc tự nhiên trong các cánh rừng taiga. Tuy nhiên, bên cạnh loài sâm “thứ thiệt” ấy, có những cây sâm chỉ mang giá trị thay thế sâm (Ginseng substitudes). Sâm Liên Xô, còn được gọi sâm Xibêri (Siberian ginseng), nằm trong số đó. Tờ hoạ báo Liên Xô số 4 (421) phát hành năm 1985 đăng bài viết ngắn về cây sâm này. Hồi ấy, người ta dịch là cây thổ đương quy kèm tên Latinh Eleutherococus. Hiện tại, nó được định danh khoa học là Acanthopanax senticocus, họ Nhân sâm. Hoá tính cùng tác dụng của nó được xác nhận: bổ dưỡng, tăng lực, ngoài giá trị làm thuốc còn có thể làm gia vị cho thức ăn.

Sâm Nga / sâm Xibêri

            Một cây sâm Nga nữa được nhiều người biết đến là sâm Mãn Châu Lý (Manzhoulian ginseng), tên khoa học Aralia mandshurica. Điều buồn cười là địa danh Mãn Châu Lý (Manzhouli / Manchourie / Mandshuri) chỉ một thành phố thuộc tỉnh Hắc Long Giang ở Trung Hoa, còn sâm Mãn Châu Lý lại được xem là sâm Nga.

            TSKH Nguyễn Thới Nhâm cho biết:

            – Luận án phó tiến sĩ của tôi bảo vệ năm 1976 tại Warszava (Ba Lan) chính là nghiên cứu cây sâm Mãn Châu Lý của Nga đấy. Sâm ấy chứa saponin nhưng toàn thuộc khung olean, có tác dụng sinh thích nghi (adaptogen) tương tự nhân sâm, nên chỉ được xếp vào loài thay thế sâm.

Sâm Mãn Châu Lý

            Một học trò của TSKH Nguyễn Thới Nhâm là TS Trần Công Luận – đương kim Giám đốc Trung tâm Sâm và dược liệu TP.HCM – cung cấp thêm cho tôi một chi tiết thú vị:

            – Điều kỳ lạ là nhiều cây sâm Nga, sâm Nhật, sâm Tàu, sâm Mỹ, kể cả sâm Cao Ly nữa, thỉnh thoảng vẫn được các chuyên gia phát hiện mọc hoang dại trên dãy Himalaya hùng vĩ. Do đó, có giả thuyết cho rằng chính “mái nhà thế giới” ở Ấn Độ – Tây Tạng chính là “thánh địa” phát tích mọi loài sâm. Có loài sâm đôi khi được các nhà phân loại học thực vật gắn đuôi himalaicus khi định danh Latinh đó.

            Tưởng cũng nên biết rằng cây sâm tam thất Việt Nam tức sâm Lào Cai có tên khoa học Panax pseudogindeng Wall. còn được vài tài liệu gọi sâm Hy Mã Lạp Sơn (Himalayan ginseng). Song, cây sâm Việt Nam gây “rúng động năm châu” lại là loài khác.

 (Còn nữa)

Read Full Post »

Sâm Cao Ly: tốt xấu khó phân

            Củ sâm kia cũng có ba bảy loài. Tuy nhiên, trong hàng chục loài sâm mà tôi đã nêu, đại đa số đều mang tên “sâm” song không được giới chuyên môn công nhận là “sâm thứ thiệt”. Từ điển bách khoa dược học (NXB Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 1999; tr.555) minh định: “Trong y học cổ truyền và y học dân gian Việt Nam và ở một vài nước phương Đông khác có nhiều cây thuốc mang tên “sâm” nhưng lại rất khác xa những cây sâm chính thức về mặt thực vật, về hoạt chất và tác dụng sinh học. Sơ bộ thống kê ở Việt Nam có trên 40 vị thuốc loại này. Sở dĩ chúng mang tên “sâm” là vì củ rễ có hình dáng giống củ sâm hoặc có một số tác dụng bổ dưỡng nào đó, cũng không loại trừ lý do vì mục đích giả mạo. Vì vậy, việc hiểu biết đúng đắn về sâm, nhận rõ loại nào là sâm chính thức, loài nào có thể thay thế sâm, và loài nào không phải là sâm mặc dù có mang tên sâm, là điều cần thiết giúp cho việc dùng thuốc chính xác và đạt hiệu quả mong muốn”. 

            Cây thay thế sâm (Ginseng substitudes), theo từ điển vừa dẫn, phải nằm trong họ Nhân sâm (Araliaceae) và thuộc chi khác Panax, chẳng hạn các chi Acanthopanax, Aralia, Polyscias, Schefflera, v.v. Cây nam sâm (Schefflara octophylla) mà bạn đã gặp là một ví dụ. Ngoài ra, ở nước ta cón có các cây đinh lăng (Polyscias fruiticosa), đơn châu chấu (Aralia amata), ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), ngũ gia bì hương (Acanthopanax gracilistylus) được xem là những cây thay thế nhân sâm với mức độ nhất định.

Đinh lăng. Ảnh: Phanxipăng

            Như vậy, những cây sâm “thứ thiệt” dứt khoát phải cùng chi Panax, họ Nhân sâm. Đấy là xét về mặt phân loại thực vật. Còn xét về phương diện phân tích hóa học, tiêu chí chính để xác định sâm là gì? Là thành phần và hàm lượng các hoạt chất saponin tritecpen đặc thù, bao gồm saponin olean và saponin damarane. Lưu ý rằng saponin damarane là thước đo cơ bản vì có tác dụng sinh học cao. Trong khung damarane, quan trọng nhất là ginsenoside Rg1 và Rb1. Riêng G.Rg1 được chọn làm chất chuẩn quy chiếu để xác định lượng saponin toàn phần. Do đó, khi mua sâm củ hoặc các chế phẩm có sâm, khách hàng nên xem kỹ thành phần G.Rg1 được in trên bao bì. Thông thường, các dược hãng chỉ công bố hàm lượng Ginseng Extract (nhân sâm chiết xuất) bằng đơn vị mg khá chung chung ngoài vỏ hộp.

            Trên phạm vi toàn cầu, nổi tiếng lâu đời nhất và tiêu biểu nhất cho những cây sâm chính thức, đầu tiên phải kể nhân sâm Cao Ly Panax ginseng C. A. Meyer. Song chẳng phải sâm Cao Ly nào cũng quý, cũng đắt. Bởi sâm Cao Ly còn được phân rất nhiều đẳng, nhiều cấp.

Nhân sâm Cao Ly

            Cao Ly vốn là âm Hán-Việt, nguyên ngữ là Kolye, tiếng Anh là Korea, tiếng Pháp là Corée. Đây là quốc hiệu chung cả hai miền đất nước Triều Tiên – Hàn Quốc, một bán đảo ở Đông Bắc Á, nằm giữa Hoàng Hải, biển Nhật Bản và biển Đông. Với các thương phẩm sâm Cao Ly, nhãn hiệu được ghi 高麗人參 và Korean ginseng hoặc Panax ginseng rất rõ.

Một số thương phẩm sâm Cao Ly

            Đại thể, sâm Cao Ly gồm sâm mọc hoang (forma sylvestre) và sâm trồng (forma savitum). Sâm mọc hoang còn được gọi dã nhân sâmdã sơn sâm, thuộc hàng “siêu quý”, càng lâu năm càng quý. Ngay ở xứ Cao Ly hiện tại, sâm mọc hoang trên núi Ma Thiên Lĩnh đã cực hiếm. Phổ biến xưa nay vẫn là sâm trồng. Vùng trồng thích hợp nhất nằm quanh vĩ tuyến 38 – ranh giới chia cắt tạm thời Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên với Đại Hàn dân quốc. Địa phương lừng danh nhờ tập trung khai thác nhân sâm là khu vực 開城 / Kaesŏng / Khai Thành thuộc Triều Tiên. Thời gian 1 vụ, từ ươm giống đến đào củ, bình quân phải mất 6 năm. Toàn bộ quy trình gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến và phân phối mặt hàng đặc biệt này thảy do Cơ quan Quản lý nhân sâm quốc gia Triều Tiên giám sát chặt chẽ.

Đền thờ thần nhân sâm ở Khai Thành

            Sâm Cao Ly, dù mọc hoang hay trồng, lại được phân loại thành hồng sâmbạch sâm. Hồng sâm tốt nhất: mỗi củ đều có 2 ~ 3 nhánh phụ, đầu củ sâm vừa tròn lại vừa to, cả củ nặng tối thiểu phải 1 lượng (lạng = 37g). Theo quy đinh cổ truyền của Triều Tiên, cứ 750g là 1 thước. Sâm còn tươi mà 20 củ mới đủ 1 thước thì chưa đạt tiêu chuẩn hồng sâm.

            Hồng sâm được chọn lựa ngay sau thu hoạch và đem rửa sạch quá công phu. Phải rửa cẩn thận từng củ bằng bàn chải nhỏ mềm, sao cho đất cát chẳng còn tí xíu nào mà rễ vẫn giữ nguyên, kể cả rễ nhỏ li ti. Rửa đến lúc củ sâm trắng ngà thì đặt vào thùng gỗ rồi đưa vô nồi hấp một tiếng rưỡi đồng hồ với áp lực hơi nước 2 asmosphères, nhiệt độ 80 ~ 900C. Xong, vớt ra và sấy làm sao phải giữ nguyên màu củ sâm chín. Sau khi sấy khô thì mới dùng tay bứt những rễ bé tí để riêng và gọi là sâm tu (râu sâm). Hầu hết thực phẩm bổ dưỡng mang “mác” Korean ginseng như trà sâm, mứt sâm, kẹo sâm, kem sâm, bia sâm, xirô sâm, nước giải khát nhân sâm đều được chế biến từ nguyên liệu chính là sâm tu.

            Công đoạn tiếp theo là đưa củ sâm ra phơi nắng. Củ nhỏ phơi 7 ngày. Củ to phơi 15 ngày. Phơi trở thế nào để lượng nước trong củ còn khoảng 10% thì đạt yêu cầu. Kế đó là sửa sang và tạo dáng củ sâm do đội ngũ thợ khéo tay và trải nhiều năm kinh nghiệm đảm trách. Họ cẩn thận kiểm tra xem da sâm có bị chấm đen, chấm tía không, hoặc trong kẽ rễ còn sót đất cát không; nếu có thì dùng dao tre bén nhọn nhẹ nhàng nạy bỏ. Rồi họ dùng các thiết bị đặc dụng tỉa tót các rễ con cùng nhánh phụ, làm sao trông củ sâm càng giống hình người càng “ăn tiền”.

            Chuẩn bị đóng gói, hồng sâm được phân loại lần nữa. Củ nào màu sắc đẹp, hình dáng cân đối, giống cơ thể người, được xếp vào cấp thiên (trời). Những củ còn lại thuộc cấp địa (đất). Ấy là nói tổng quát, chứ trong thực tế thì người ta chia củ sâm thành nhiều tiểu cấp cực kỳ tỉ mỉ.

            Hồng sâm được đóng gói theo đơn vị cân ta (tương đương 600g) và chia 7 loại. Đầu bảng: 15 củ nặng 1 cân. Kém nhất: 70 củ nặng 1 cân. Vậy những củ to nặng ngoại cỡ thì sao? Đó là mặt hàng “tuyệt hảo”, phải đóng gói riêng từng củ một vào hộp vải nhung sang trọng, và gọi độc sâm.

Hồng sâm

            Các củ sâm không được tuyển vào đẳng cấp hồng sâm, đều dùng làm bạch sâm. Sâm này còn mang tên sâm khô trắng, được chế biến cũng tốn công không ít: rửa thật sạch trong nước rồi dùng dùng cật tre cạo bỏ vỏ mỏng, tránh cạo phạm “thịt”, đoạn mang phơi nắng thật khô, xong đem sửa sang và tạo dáng. Bạch sâm cũng được phân loại kỹ trước khi đóng gói theo quy cách tương tự hồng sâm. Mỗi đơn vị (1 cân ta = 600g) bạch sâm gồm 50 củ, 60 củ, 90 củ, 120 củ và hơn 120 củ. Cố nhiên, đơn vị nào càng nhiều củ càng hạ giá.

Bạch sâm. Ảnh: Phanxipăng

            Đóng gói xong, bạch sâm được xếp vào thùng giấy, hồng sâm vào thùng gỗ. Tất cả phải được bảo quản kỹ lưỡng, tuyệt đối tránh thất thoát mùi vị, tránh những yếu tố bất lợi bên ngoài có thể gây suy giảm chất lượng thành phẩm.

            Toàn bộ thông tin mà tôi vừa trình bày về độc sâm, hồng sâm, bạch sâm, sâm tu, cơ bản dựa theo lời kể của Đông y sĩ Nguyên Lương, kết hợp tham khảo một số tài liệu do các công ty sâm của Triều Tiên – Đại Hàn cung cấp. Vốn là kỹ sư nông nghiệp, Nguyên Lương từng theo đoàn nghiên cứu do nước ta cử sang Triều Tiên để khảo sát kinh nghiệm tăng sản lúa vào thập niên 1960. Nhân dịp tham quan vùng cao Khai Thành nổi tiếng canh tác nhân sâm hơn 2 thế kỷ, sẵn kiến thức Đông y gia truyền, ông liền chú tâm tìm hiểu thêm về đệ nhất thần dược. Nguyên Lương bảo:

            – Chỉ nhân sâm ở Khai Thành và các địa phương lân cận vĩ tuyến 38 thì mới được xem đạt phẩm chất tối ưu. Chứ khắp hai miền Nam Bắc Triều, rất nhiều nơi trồng sâm như trồng cải, giá rẻ mạt. Dân họ khoái mua ăn vì quan niệm không bổ ngang cũng bổ dọc. Đội tuyển bóng đá Hàn Quốc mỗi lần tham gia thi đấu, hễ cầu thủ nào khát thì tu ừng ực nước sâm hầu tăng lực.

            Tôi thắc mắc:

            – Hiện sâm Triều Tiên, sâm Hàn Quốc tràn ngập thị trường nước ta. Mà nhân sâm thì đủ loại tốt xấu, làm sao chọn mua khỏi nhầm lẫn?

            Nguyên Lương trình bày:

            – Quả thật, nếu thiếu hiểu biết, thiếu kinh nghiệm, thì nhầm lẫn khi mua sâm là chuyện dễ xảy ra! Xem quy cách đóng gói, đủ để phân định độc sâm, hồng sâm, bạch sâm. Đấy mới chỉ là hình thức. Chứ ai lường được quân gian đã rút lấy tinh chất bổ dưỡng từ đời tám hoánh, còn trơ cái bã? Muốn kiểm tra đơn giản, cần ngửi và nếm. Trong hỗn hợp tinh dầu khiến nhân sâm mang mùi riêng biệt, có panaxen C15H24 chiếm vị trí thiết yếu. Chất này rất hữu ích đối với sức khỏe, lại là chất rất dễ bay hơi trong không khí. Vị của sâm Cao Ly khá đặc thù: tiền cam, hậu khổ, hậu cam cam. Nghĩa là thoạt đầu thấy ngọt, tiếp theo là đắng, dư vị thì ngòn ngọt dễ chịu. Ôi! Thế mà bạn tớ vừa rồi cũng bị mắc lừa nhé. Lão sang Seoul du lịch, khuân về mấy hộp Korean Red Ginseng (hồng sâm Cao Ly). Ngờ đâu gặp đồ giả. Ngâm thử vào nước, sâm hiện nguyên hình… củ cải khô!

            Sâm củ đã khó phân biệt tốt xấu, thật giả. Do đó, bao chế phẩm của sâm Cao Ly – từ tinh sâm, cao sâm, bột sâm, đến viên nang, viên nén – càng dễ khiến quý vị “thượng đế”… xâm xoàng! Năm 1992, trên tạp chí Thuốc và sức khỏe số 3, tiến sĩ khoa học (TSKH) Nguyễn Thới Nhâm (lúc bấy giờ làm giám đốc Trung tâm Sâm Việt Nam) lên tiếng cảnh báo: “Đặc biệt cần lưu ý người tiêu dùng là hiện nay trên thị trường nước ta có nhiều chế phẩm mang tên sâm, thậm chí cả tên Ginseng, mà thuốc thì được chế từ phòng Đảng sâm (Codonopsis sp.). Nhân sâm và phòng Đảng sâm là hai cây khác nhau hoàn toàn về thực vật học, về hoạt chất và về tính năng tác dụng. Thế nhưng, một số nhà sản xuất lợi dụng sự tín nhiệm nhân sâm để bán được hàng nên trên bao bì đã vẽ hình cây nhân sâm với đầy đủ rễ củ hình dáng con người, với lá kép có 5 lá nhỏ xòe như bàn tay, với tán hoa hay tán trái chín đỏ, đồng thời ghi luôn cả tính năng tác dụng của nhân sâm. Một số chế phẩm thì vẽ ‘lơ lớ’ củ, hoa, lá nhân sâm. Đó là điều làm sai trái, đánh lừa người tiêu dùng. Có nhiều chế phẩm chế từ sâm thật nhưng hàm lượng quá thấp, thậm chí có chế phẩm không có tí sâm nào cả mà chỉ có… rượu!”.

Rượu sâm Cao Ly nè

            Ông Nguyễn Thới Nhâm giờ đây làm giám đốc Công ty chế biến dược liệu NCT, đồng thời tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy chuyên đề sâm ở Đại học Y Dược TP.HCM. Gặp ông Nhâm, tôi hỏi:

            – Tình hình sâm trên thị trường Việt Nam hiện nay có gì chuyển biến so với trước?

            Ông Nhâm cười:

            – Thời gian qua, chế phẩm từ sâm xuất hiện trên thị trường nước ta có lẽ nhiều hơn bao giờ hết. Trung tâm Sâm Việt Nam đã tích cực kiểm tra thẩm định về mặt khoa học để báo cáo với Bộ Y tế. Dựa vào kết quả này, Bộ kiên quyết áp dụng nhiều biện pháp quản lý và phân phối nguồn dược phẩm khá chặt chẽ. Do đó, có thể nói rằng tình hình sâm hiện tại tương đối khả quan. Ấy là nói các chế phẩm, chứ sâm nguyên liệu thì rất khó giám sát chất liệu lẫn giá cả. Mỗi lượng nhân sâm, nơi này bán chỉ vài chục nghìn đồng, nơi nọ lại hét giá bạc triệu. Người tiêu dùng bình thường khó phân biệt đâu là sâm tốt, đâu là sâm xấu, đâu là sâm Cao Ly, đâu là sâm Mỹ, sâm Tàu…

 (Còn nữa)

Read Full Post »

Củ sâm kia cũng có ba bảy loài

            Mở đầu sách Sâm và các bài thuốc cổ truyền (NXB Y Học, Hà Nội, 1999; tr. 3), TS. Dương Trọng Hiếu nhấn mạnh: “Nhiều người đã biết đến vị thuốc có tên là sâm. Nhưng cũng có nhiều người chưa có thời gian, chưa có điều kiện để tìm hiểu những kiến thức tối thiểu về sâm nên đã dùng nhầm, mua nhầm, hay bị lừa, do đó không đạt tác dụng mong muốn mà có khi lại phiền toái!”.

            Đúng thời điểm cuốn sách ấy ấn hành, phòng Cảnh sát hình sự thuộc Sở Công an TP.HCM tổ chức phá án “sâm tuyết” sau thời gian dài theo dõi 5 đối tượng Trần Phú Chính, Trần Mạnh Hùng, Nguyễn Thị Kim Thắng, Nguyễn Thị Lượt và Đoàn Thị Miên tự Duyên. Ngày 11-11-1999, cả băng lừa đảo sa lưới pháp luật. Chúng khai rằng hơn một năm qua, lởn vởn khắp các chợ nội ngoại thành, chúng nhắm vào những phụ nữ vẻ ngoài hiền lành nhưng “có vấn đề” về nhan sắc để “tung chiêu”. Gặp chị Phan Thị T. L. (37 tuổi, ngụ tại quận Tân Bình) bị bạc tóc, chúng giới thiệu “sâm tuyết Triều Tiên”, chỉ cần mua 2kg đem về sắc uống thì tóc sẽ xanh mướt. Gặp chị Nguyễn Thị N. (39 tuổi, ngụ tại quận 6) bị tàn nhang, chúng cũng dụ khị bằng “sâm tuyết Đại Hàn”. Lắm bà lắm cô bị béo phì hoặc gầy nhom, mụn nhọt, nám mặt, kể cả bướu cổ và… lé mắt, đã nhẹ dạ cả tin giọng lưỡi đường mật của chúng, dốc tiền mua “sâm tuyết” theo cái giá “nhượng lại rất hữu nghị” là 600.000đ/kg. Quý vị khổ chủ hoàn toàn không ngờ rằng đấy chỉ là củ tam thất vẫn được bán nhan nhãn ở bao tiệm thuốc bắc, hoặc các vựa Đông dược, với giá rẻ rề: 20.000đ/kg.

            Thật ra, tam thất cũng là một loài sâm. Chẳng phải “sâm tuyết” như bọn bịp bợm bịa đặt, mà là sâm tam thất hoặc nhân sâm tam thất. Sách vở bấy lâu vẫn ghi nhận hai tên gọi này, cùng tên kim bất hoán nghĩa là “vàng không đổi được”.

Cây tam thất

            Lương y Nguyễn Đức Nghĩa – phụ trách phòng khám Tuệ Lãn ở quận 3 – nói với tôi:

            – Kinh nghiệm cho thấy bên cạnh khả năng chữa trị một số bệnh, tam thất còn là vị thuốc bổ. Thậm chí có người coi tam thất bổ không kém nhân sâm hoặc thay được nhân sâm trong nhiều trường hợp, do đó mới đặt tên nhân sâm tam thất. Hiện nay, trên thị trường nước ta, tam thất được nhập chủ yếu từ Trung Quốc, nên dân chúng thường gọi là sâm Tàu.

Củ tam thất

            Tam thất có tên khoa học Panax notoginseng (Burk.) T. H. Chen thuộc họ Nhân sâm. Một vài tài liệu còn ghi tam thất bằng tên nhân sâm Tiên Chi (Tienchi ginseng / Sanchi ginseng) và sâm tam thất Trung Hoa nhằm phân biệt với các cây khác cũng mang tên thất, như thtam thấtkhương tam thất, nhất là sâm Lào Cai tức sâm tam thất Việt Nam. Tôi sẽ trở lại vấn đề này sau.

            Giờ đây, xin điểm qua một số vị thuốc cùng mang tên “sâm” thường gặp ở nước ta, nhằm giúp bạn tránh lầm lẫn khi mua bán và sử dụng.

            Trước tiên là sa sâm. Do mọc trên cát và chứa nhiều chất bổ nên mang tên vậy. Ngay sa sâm cũng tồn tại lắm loại thuộc họ thực vật khác hẳn nhau. Thông dụng nhất là sa sâm có tên khoa học Launa pinnatifida Cass., họ Cúc (Compositae), mọc hoang khá nhiều ở bờ biển Việt Nam. Đây là loại cỏ sống lâu năm, lá xây tròn quanh gốc, mép lá răng cưa trông từa tựa lá tần ô / cải cúc hoặc bồ công anh. Có lẽ vì thế mà người Pháp gọi sa sâm là pissenlit maritime (bồ công anh biển). Vài nơi, dân hái lá sa sâm để ăn sống hoặc trộn dầu dấm mà xơi như xà lách. Lá sa sâm được dùng chữa bệnh bạch huyết (lymphatisme), nhưng bộ phận chủ yếu là củ rễ: phơi khô, sao vàng, sắc đặc, uống để giải nhiệt, thông tiểu. Ngư dân tỉnh Khánh Hòa còn có kinh nghiệm giã nhỏ sa sâm đắp lên da, chỗ bị mực cắn, để giải độc. Các địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình lâu nay khai thác sa sâm bán cho cơ sở dược bào chế thuốc chữa ho, hạ sốt, trừ đờm. Giá thu mua rất rẻ: mỗi ký củ rễ sa sâm phơi khô chỉ vài nghìn đồng.

            Hai loại sa sâm khác mà Việt Nam thường nhập từ Trung Hoa là bắc sa sâmnam sa sâm. Còn được gọi hải sa sâm hoặc liêu sa sâm, bắc sa sâm có tên khoa học Glehnia littoralis F. Schmidt, họ Hoa tán (Umbeliferae). Nam sa sâm còn được gọi luân diệp sa sâm (sa sâm lá vòng) hoặc Cát sâm (sâm mọc ở tỉnh Cát Lâm), tên khoa học Adenophora vertollata Fisch, họ Hoa chuông (Campanulaceae). Cả hai có dược tính gần như nhau, song theo nhiều vị lương y thì bắc sa sâm có tác dụng dinh dưỡng tốt hơn, còn nam sa sâm khử đờm mạnh hơn.

            Thêm một loài sa sâm khác nữa là tế diệp sa sâm tức sâm lá nh hoặc sâm ruộng, tên khoa học Wahlenbergia gracilis A. DC., cũng họ Hoa chuông. Cây này từng được A. Peletot phát hiện trong các thửa ruộng bỏ hoang ở Đông Dương thời thuộc Pháp.

Tế diệp sa sâm

            Nên phân biệt nam sa sâm với hai loại sâm khác mang tên hao hao là nam sâm sâm nam.

            Nam sâm còn gọi là cây chân chim, lá đắng, lằng, ngũ chỉ thống, áp cước mộc, nga chưởng sà, tên khoa học Schefflera octophylla (Lour.) Harms., họ Nhân sâm. Nam sâm mọc rải rác khắp nơi tại nước ta, nhiều nhất ở Ninh Bình, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai. Vỏ của rễ nam sâm, qua thí nghiệm đã thấy rõ tác dụng tăng lực và hạ đường huyết. Phối hợp với một số vị thuốc khác, nam sâm có thêm khả năng bồi dưỡng thể lực, thanh nhiệt, lợi tiểu.

Nam sâm

            Còn sâm nam, tên khác là rễ kế tục đoạn, được định danh khoa học Dipsacus japonicus Miq., họ Tục đoạn (Dipsacaceae). Tiếng Hán-Việt, tục là đứt, đoạn là nối. Cây thuốc này được người xưa cho rằng có thể làm liền gân xương bị đứt gãy. Ngoài ra, nó còn được dùng làm thuốc bổ gan thận, giảm đau, an thai và trị đau lưng. Cũng lưu ý rằng nam sâm còn là tên gọi của một cây khác, đó là cây sâm rừng, sâm đất, sâm quy bầu, tên khoa học Boerhaavia repens L., họ Hoa phấn (Nyctagienaceae), thứ cỏ mọc hoang, được người ta đào củ rễ làm thuốc lợi tiểu, nhuận tràng, chữa viêm gan, trị viêm phế quản mạn tính.

Sâm nam

            Rõ ràng dân gian gọi các cây sâm không thống nhất và có trùng lặp. Nhiều cây khác biệt song đều mang tên “sâm rừng” hoặc “sâm đất”. Phải hết sức chú tâm tránh nhầm lẫn và cần xác định tên khoa học để tiện tra cứu.

            Đan sâm là sâm màu đỏ, nên còn gọi xích sâm hoặc huyết sâm, tên khoa học Salvia multiorrhizae Bunge, họ Hoa môi (Labitae). Có thể nói đây là củ sâm trời ban cho phái đẹp. Bởi, ngoài tác dụng bổ dưỡng, đan sâm là vị thuốc chữa chứng vàng da và ăn uống thất thường của các nàng chưa chồng, lại giúp phụ nữ chữa tử cung xuất huyết, điều kinh, ung thũng, mẩn ngứa, an thai. Đặc biệt, nếu biết phối hợp đan sâm với Đảng sâm và huyền sâm theo liều lượng thích hợp thì lại tạo được “linh dược” giúp các đấng mày râu bị yếu sinh lý – còn gọi yếu dương sự / rối loạn cương / liệt dương – lấy lại phong độ.

Đan sâm

            Đảng sâm còn gọi là phòng Đảng sâm, lộ Đảng sâm, xuyên Đảng sâm, đông Đảng sâm, sâm leo, sâm đùi gà, tên khoa học Codonopsis sp., họ Hoa chuông. Thiên hạ bảo đây là “nhân sâm của người nghèo” vì Đảng sâm có công dụng gần giống nhân sâm nhưng lại rẻ tiền và dễ kiếm. Nhiều tỉnh miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số mỗi lần phát rẫy làm nương thường kết hợp đào nhặt Đảng sâm. Từ năm 1961, ngành dược liệu nước ta triển khai kế hoạch thu mua Đảng sâm của bà con người Thái và Hmông ở các tỉnh vùng cao phía bắc. Do khai thác tự nhiên không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nên việc trồng Đảng sâm đã được thử nghiệm.

Đảng sâm

            Trong nhiều phương thuốc, trường hợp khan hiếm Đảng sâm thì có thể thay bằng sâm Bố Chính còn gọi là sâm Báo, sâm Thổ Hào, nhân sâm Phú Yên, tên khoa học Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr., họ Bông (Malvaceae).

            Mấy tên gọi kèm sau chữ “sâm” vừa nêu đều viết hoa vì đấy là địa danh: Đảng – huyện Thượng Đảng ở Trung Hoa; Bố Chính – tên cũ của huyện Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình; Báo – một ngọn núi tại Thanh Hóa; Thổ Hào – xã cũ tại huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

            Huyền sâm là sâm màu đen, còn gọi hắc sâm hoặc nguyên sâm, tên khoa học Scrophularia buergeriana Miq., họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae). Các thí nghiệm cho thấy huyền sâm làm tăng sức bóp của tim, gây giãn mạch máu, giảm sốt và hạ đường huyết. Trước kia, Việt Nam nhập huyền sâm từ Trung Hoa, song nay đã di thực về trồng nhiều nơi đạt năng suất cao: mỗi hecta có thể thu hoạch 5 tấn rễ tươi.

Huyền sâm

            Một loại sâm khá phổ biến là sâm đại hành còn gọi sâm cau, kiệu đỏ, hành đỏ, tỏi đỏ, tỏi mọi, tỏi Lào, hành Lào, tên khoa học Eleutherine subaphylla Gagn., họ Ladơn (Iridaceae). Củ sâm đại hành thường được thu hái khi cây đã tàn lụi, đem thái mỏng để dùng tươi hoặc sấy khô. Theo Đông y, sâm đại hành vị đắng, tính bình, vào 3 kinh can, tì, phế; tác dụng tư âm, dưỡng huyết, chỉ khái, trị thiếu máu, vàng da, hoa mắt, váng đầu, mệt mỏi, băng huyết, ho ra máu, ho gà, viêm họng, đinh nhọt, lở ngứa, bị thương tích lưu huyết, tê bại vì thiếu dinh dưỡng. Sâm đại hành thường được ngâm rượu, hoặc nấu thành cao, hoặc tán bột vo viên (tễ). Hiện nay ngành dược còn bào chế sâm đại hành thành thuốc mỡ (pomade) nhằm bôi ngoài da.

Sâm đại hành

            Ngang đây, hẳn tạm đủ để bạn nhất trí với tôi rằng: củ sâm kia cũng có ba bảy loài. “Ba bảy” chẳng phải con số tượng trưng, mà chính là… băm bảy (37). Thật thế, lật Từ điển cây thuốc Việt Nam do TS. Võ Văn Chi biên soạn (NXB Y Học, Hà Nội, 1999), tôi thống kê sơ bộ được 37 cây sâm cả thảy, trong đó có nhiều tên gần giống nhau, thậm chí trùng nhau. Quả thật, nếu không nhờ quý chuyên gia chỉ bày cặn kẽ thì bản thân tôi nhận dạng sâm nọ sâm kia cũng… rối tinh rối mù!

            Nhắc tới sâm, ai nấy đều nghĩ đến vị thuốc mang nguồn gốc thực vật mà quên rằng có cả sâm động vật: hải sâm. Đó là con đĩa nước mặn, ngư dân Phú Quốc quen gọi con đồn đột, còn người Hoa gọi dưa chuột biển, người Pháp gọi holothurie, người Anh – Mỹ gọi sea-seug. Tên khoa học của hải sâm là Stichopus japonicus Selenka. Động vật này thuộc ngành Da gai, có 3 lớp phụ và 6 bộ, gồm hơn 900 loài khác nhau nhưng chỉ khoảng 40 loài được các quốc gia đánh bắt làm thực phẩm cao cấp và dược liệu quý. Tại Đại học Y khoa Vladivostok ở Nga, P. M. Manasova đã thí nghiệm đưa lipid tổng hợp từ hải sâm Viễn Đông vào dạ dày những con thỏ bị xơ vữa động mạch thì thu được kết quả: bệnh xơ vữa động mạch thuyên giảm rõ rệt.

Hải sâm ở biển

             Đưa mắt nhìn Cầu Giấy (Hà Nội), Đông y sĩ Nguyên Lương tủm tỉm:

            – Trong hải sâm có 41,45% protein, 0,27% lipid, 1,37% glucid, cùng nhiều nguyên tố vi lượng rất cần cho cơ thể chúng ta như calci, phosphore, kali, sắt, v.v. Hải sâm được dùng chữa lị, viêm phế quản, thần kinh suy nhược, cầm máu, đặc biệt là bổ thận, ích tinh, bổ âm, tráng dương.

            Tôi chất vấn:

            – Thiên hạ cho rằng hải sâm là một thứ… Viagra tự nhiên vô cùng hiệu nghiệm. Đúng chứ ạ?

            Nguyên Lương gật:

            – Ý kiến này rất có cơ sở, và lần nữa được củng cố khi khoa học vừa phát hiện hormone nam giới của hải sâm đạt hàm lượng cao gấp 45 lần so với nhiều loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhất mà mọi người quen dùng.

Hải sâm trong tủ thuốc

            Đặc tính độc đáo ấy của hải sâm được GS.TSKH. Nguyễn Tài Lương tình cờ tìm thấy lúc nghiên cứu về thức ăn. Đầu tháng 6-2001, giáo sư Lương cùng các cộng sự ở Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia Việt Nam tiếp tục gây phấn khích dư luận khi công bố: mới bào chế thành công viên nang Hasaton – loại thuốc tăng lực thần diệu, được ví “doping mà không phải doping”, cực kỳ giá trị đối với vận động viên thể thao cùng như những người lao động nặng. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học tạo các chế phẩm “functional food” (thức ăn chức năng) được tiến hành suốt 3 năm trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nước, rồi lập thủ tục xin sản xuất đại trà.

            Hasaton, bản chất là gì? Tên biệt dược đã chỉ rõ nguyên liệu chủ chốt: hải sâm.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »