Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2011

Nụ tầm xuân

Trèo lên cây bưởi, hái hoa,

Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em có chồng, anh tiếc lắm thay!

K

húc ca dao cổ truyền và quen thuộc ấy đầy đủ gồm 10 dòng, đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bản “dân ca mới” tại Sài Gòn vào năm 1956:

            – Trèo lên cây bưởi hái hoa,

            Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.

            Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

            Em có chồng, anh tiếc lắm thay!

            – Đắt gì một miếng trầu cay, (1)

            Sao anh không hỏi những ngày còn không?

            Bây giờ em đã có chồng,

            Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

            Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ?

            Chim vào lồng, biết thuở nào ra?

Người yêu văn nghệ còn biết những bài hát khác được sáng tác và biểu diễn thời gian gần đây, như Ôi nụ tầm xuân của Ngô Tùng Vân, Đánh thức tầm xuân của Dương Thụ. Cũng đã xuất hiện những áng thơ, truyện ngắn, tuỳ bút nhắc đến tầm xuân.

Đáng quan tâm là khá đông bạn đọc thắc mắc:

– Hoa tầm xuân ra sao? Có công dụng gì? Lẽ nào tầm xuân trổ hoa màu xanh?

Tầm xuân còn nhiều tên khác như hồng dại, hồng dây, hồng leo, thích hoa, bạch tán hoa, hoà thượng đầu, ngưu cúc, tường mi, dã tường vi, đa hoa tường vi, thất tỉ muội, thập tỉ muội. Tên khoa học của tầm xuân là Rosa multiflora Thumb., thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).

Tầm xuân là cây mọc hoang, cũng lắm khi được người ta trồng cảnh. Tầm xuân trổ lá kép lông chim, thân nhiều gai. Hoa tầm xuân khá đẹp, toả mùi thơm nhẹ, nở thành chùm với nhiều màu sắc khác nhau: hồng, đỏ, trắng, vàng. Thực tế, trong điều kiện tự nhiên, chưa thấy hoa tầm xuân nở những cánh màu xanh. Quả tầm xuân khi chín màu vàng, chứa nhiều vitamin C, A, D, B1, B2.

Tầm xuân hồng ở giáo đường Khoái Đồng, Nam Định. Ảnh: Phanxipăng

Bản thảo cương mục, bộ sách chuyên về dược vật học do Lý Thời Trân biên soạn vào đời Minh, ghi nhận: tầm xuân trổ hoa màu trắng được đánh giá tốt nhất đối với việc làm thuốc. Theo Đông y cổ truyền, tầm xuân vị đắng, chát, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, khu phong hoạt lạc, giải độc, sát khuẩn.

Hoa tầm xuân được dùng để chữa các bệnh cảm nắng, cảm nóng, chảy máu cam, nôn ra máu, sốt rét, u tuyến giáp, tiểu đường. Quả tầm xuân được dùng để chữa táo bón, tiểu tiện khó khăn, đau bụng khi hành kinh, phù do viêm thận. Lá tầm xuân được dùng để chữa ung nhọt, viêm loét. Rễ tầm xuân được dùng để chữa đau răng, lở miệng, vàng da (hoàng đản), rong huyết, kinh nguyệt không đều, khí hư, tiểu tiện không tự chủ, liệt mặt và di chứng liệt nửa người do tăng huyết áp.

Có kẻ sao vàng các cánh hoa tầm xuân để pha nước uống, hoặc tô điểm như gia vị vào một số món ăn thích hợp. Tầm xuân còn được khéo léo cắm thành những bình hoa xinh xắn.

Cắm hoa tầm xuân

Chưa rõ do vô tình hoặc cố ý, người ta gọi một vài loài hoa khác bằng tên tầm xuân. Chẳng hạn đào tuyết / đào Tàu / đào Singapore, trổ những bông hoa trắng ngần và thường được nhuộm nhiều màu để chưng cho bắt mắt. Hoặc đậu biếc / đậu thơm, tên khoa học Lathyrus Odoratus L. thuộc họ Đậu cánh bướm (Fabaceae), loài dây leo nở những đoá hoa nhiều màu khác nhau – trắng, đỏ, hồng, tím – mà ở Việt Nam phổ biến nhất là giống trổ hoa tím phớt trắng và vàng. Màu tím của hoa đậu biếc thiên về xanh. ♥

Đào tuyết / đào Tàu / đào Singapore. Ảnh: Phanxipăng

_________________

(1)   Dị bản: Ba đồng một mớ trầu cay.

Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 773 (3-3-2008)

Read Full Post »

Đập vỡ cây đàn

Khoả thân với hoa và guitar. Tranh sơn dầu: Hajós Imre László

 

 

*  Trích nhật ký của một thiếu nữ                       

 

Chẳng dại gì em đập vỡ cây đàn

Dẫu giận đến bầm gan tím ruột

Lỡ yêu anh – gã con trai tuổi chuột

Moi tim em làm cà rốt gặm chơi

 

Anh thoải mái lang thang khắp sông bể núi đồi

Tìm củ kiệu tôm cua mà khề khà xơi tái

Tìm múi mít Hồ Xuân Hương tồn lại

Tìm whisky cognac nhậu lai rai

 

Để guitar nằm một xó trêu ngươi

Đâu Für Elise thuở đầu đưa đón?

Đâu Phiên chợ Ba Tư tưng bừng vui nhộn?

Đâu La Cumparsita như hoà trộn đôi lòng?

 

Kể từ nay em đóng kín cửa phòng

Luyện ngón luyện gamme hòng viên thành… chánh quả

Trái tim anh ví bằng đồng bằng đá

Tiếng lòng em sẽ quật ngã tác tan

 

Ừm, ngốc ngếch gì lại phá huỷ cây đàn?

 

       

            

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Tuổi Muời Tám – chuyên đề của Tây Ninh nguyệt san – số 13 (7-1996)
  • Sinh Viên Việt Nam số đặc biệt Xuân Kỷ Mão 1999

Read Full Post »

Bất lập hoàng hậu chẳng phải là thông lệ xuất hiện từ thời Nguyễn mà đã có sẵn trước đấy. Ngay cả vương triều Nguyễn, lệ này cũng chưa điển chế hoá. 

Phanxipăng thăm cung Diên Thọ trong Hoàng Thành Huế. Ảnh: Tôn Nữ Cẩm Nhung

 “Tứ bất” là gì?

“Tứ bất” ghi chữ Hán thì 四不, gọi nôm na là “4 không”. Song nội dung cụ thể của lệ “tứ bất” bao gồm các điều khoản gì thì các tài liệu lâu nay ghi nhận thiếu thống nhất.

Tập 1 bộ Lịch sử Việt Nam của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1971; trang 370) viết: “Nhà Nguyễn củng cố nền thống trị bằng cách tăng cường chế độ chuyên chế. Các vua nhà Nguyễn muốn thâu tóm vào tay tất cả quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, giám sát…, không muốn cho một ai chia sẻ quyền hành hoặc lấn át uy quyền của mình. Vì mục đích đó, Gia Long đặt ra lệ “bốn không” là không đặt tể tướng, không lấy đỗ trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong tước vương cho người ngoài hoàng tộc (mà đối với người trong hoàng tộc cũng chỉ phong tước danh dự mà thôi)”.

Đoạn vừa dẫn cần được khảo chứng. Bởi qua hệ thống văn bản triều Nguyễn hiện vẫn bảo lưu, không thấy vua Gia Long phán truyền lệ “tứ bất” bao giờ. Trái lại, Đại Nam thực lục chính biên (NXB Sử Học, Hà Nội, 1963) cũng như Đại Nam chính biên liệt truyện (NXB Thuận Hoá, Huế, 1993) của Quốc sử quán triều Nguyễn còn ghi chép sự kiện: bà Tống Thị Lan, tự Liên, quê Tống Sơn (Thanh Hoá), được đức Thế Tổ tức vua Gia Long lập làm vương hậu vào năm Bính Thìn 1796, đến năm Bính Dần 1806 thì lập làm Thừa Thiên Cao hoàng hậu. Cạnh đó, vua Gia Long còn lập bà Trần Thị Đang, huý Kính, quê Hương Trà (Thừa Thiên), làm Thuận Thiên Cao hoàng hậu.

Phía trong Bửu Thành của lăng Thiên Thọ có tẩm song táng vua Gia Long bên cạnh Thừa Thiên Cao hoàng hậu qua bưu ảnh Pháp. Hiện lăng này tại xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế.

Căn cứ diễn biến thực tế từ đời Minh Mạng đến đời Khải Định, hậu thế mới tổng kết cái lệ “tứ bất” của triều Nguyễn: bất thiết tể tướng, bất thủ trạng nguyên, bất lập hoàng hậu, bất phong đông cung. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng triều Nguyễn không hề ban hành một văn bản chính thức nào quy định “4 không” là điển chế buộc mọi vị vua phải tuân thủ nghiêm cẩn. Vả lại, cái lệ kia – nếu có thể gọi như thế – cón chứa đựng lắm “mối manh” đòi hỏi hậu thế lần tìm thấu đáo, ví muốn rút kết luận chắc chắn, giàu sức thuyết phục.

Chẳng hạn trong khoa cử, lẽ nào triều Nguyễn không chấm đỗ trạng nguyên? Đây là một đề tài lý thú, tôi sẽ đề cập khi gặp dịp thuận tiện. Chỉ xin dẫn lời vua Thiệu Trị từ sách Đại Nam thực lục chính biên để thấy rằng triều đình Huế vẫn có danh hiệu trạng nguyên trên nguyên tắc: “Văn lý mà làm vẹn cả mười phần, thật không phải dễ. Đức Hoàng khảo ta (tức vua Minh Mạng) mở giáp khoa, ý để cầu người có học, nhưng về nhất giáp (trạng nguyên) vẫn còn để trống. Đó cũng là để đợi người có tài cao, lạ, chứ không phải câu nệ về mực thước đâu”.

Còn chức tể tướng, cũng gọi thừa tướng hoặc tướng quốc, quả thật không có trong bộ máy triều đình nhà Nguyễn. Vị trí và trọng trách ấy được triều Nguyễn trao cho cả tập thể đại thần thân tín, gồm Hội đồng Nội các và Viện Cơ mật. Song, xem lại sử liệu, chúng ta thấy từ thời Lê trung hưng đã không có tể tướng rồi.

Thế chuyện bất lập hoàng hậu thì sao?

Bất lập hoàng hậu: nhà Nguyễn hay nhà Lê?

Sách lập hoàng hậu và sách phong đông cung thường quan hệ chặt chẽ. Con trai là thái tử, đương nhiên mẹ ruột là hoàng hậu – trừ những trường hợp quá đặc biệt. Đó là điều kiện cần chứ chưa đủ. Bởi trong lịch sử, số vị vua lập nhiều hoàng hậu cũng không hiếm.

Lê Quý Đôn (1726 – 1784) biên soạn Đại Việt thông sử có đoạn: “Quốc thống ta nếu vẫn theo như ngày xưa, phong tục cũ chưa thay đổi thì có vua Đinh Tiên Hoàng lập 5 hoàng hậu, vua Lý Thái Tổ lập 6 hoàng hậu, lại lập thêm 3 hoàng hậu nữa, vua Lý Thái Tông lập 7 hoàng hậu.” (Bản dịch của Ngô Thế Long – NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1978; tr.115).

Sau này, vua Quang Trung có Chính cung hoàng hậu họ Phạm (sinh Quang Toản), lại thêm Bắc cung hoàng hậu Ngọc Hân.

Vua Gia Long sáng lập vương triều Nguyễn, như đã nói trên, từng lập Thừa Thiên Cao hoàng hậu bên cạnh Thuận Thiên Cao hoàng hậu. Vua Minh Mạng kế vị cũng muốn lập hoàng hậu và chọn thái tử, nhưng do cung cấm tồn tại lắm chuyện “tế toái mè nheo” khiến đấng thiên tử đắn đo, tới phút se mình chỉ kịp quyết định hoàng trưởng tử Miên Tông nối ngôi làm vua Thiệu Trị. Rồi vua Thiệu Trị lúc sắp mất mới trăn trối với quý phi Phạm Thị Hằng tức Từ Dụ trước mặt quần thần: “Quý phi là nguyên phối của trẫm, phúc đức hiền minh giúp việc nội cung cho trẫm đã 7 năm. Ý trẫm muốn sách lập hoàng hậu chính ngôi trong cung, tiếc thay bận việc mà chưa kịp làm.” Di ngôn ấy được ghi chép vào Đại Nam thực lục chính biên, về sau được dẫn trong Nguyễn Phúc tộc thế phả (NXB Thuận Hoá, Huế, 1995; tr. 281). Qua đó đủ thấy rằng nhà Nguyễn hoàn toàn không chủ trương bất lập hoàng hậu.

Vua Tự Đức thiếu khả năng truyền chủng nên có lẽ chẳng quan tâm việc sách lập hoàng hậu, đến khi ngã bệnh mới ban di chiếu chọn dưỡng tử Nguyễn Phúc Ưng Chân (con ruột của Thuỵ Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y) lên nối ngôi. Hơn nữa, từ thời Tự Đức trở đi, vận nước vô cùng khó khăn, xã tắc gặp hoạ ngoại xâm, chính sự rối ren liên tục, thậm chí có phen lâm tình cảnh “tứ nguyệt tam vương” (4 tháng thay 3 vua Dục Dức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc) hoặc vua phải xuất bôn, hoặc vua bị bắt đi “an trí”, nên triều đình Huế suốt thời gian dài không có hoàng hậu là điều dễ lý giải.

Đến Bảo Đại – vị hoàng đế cuối cùng – đăng quang năm Ất Sửu 1926, thì năm Giáp Tuất 1934 cưới Nguyễn Hữu Thị Lan và tấn phong ngay cho tân giai nhân là Nam Phương hoàng hậu. Việc tấn phong nhanh chóng ấy tất có lý do, song chẳng phạm điển chế triều đình.

Hoàng hậu Nam Phương

Bất lập hoàng hậu rõ ràng không được triều đình nhà Nguyễn quy định và cũng không phải là thông lệ. Nếu xem đây là thông lệ “bất thành văn” thì chuyện đang xét càng không đúng với thực tế cầm quyền của vương triều Nguyễn, mà lại phù hợp với… nhà Lê. Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn (sđd; tr.116) phản ánh: “Từ vua Thái Tổ (tức Lê Lợi) không lập vương hậu, lại trải 5 đời vua, quen lấy đó làm phép thường. Các bà Cung Từ, Tuyên Từ, Quang Thục, Huy Gia đều do các vị tự quân lên nối ngôi rồi mới dâng tôn hiệu (hoàng thái hậu), chứ chưa có ngôi vị (hoàng hậu) trong cung từ trước.”

Mãi tới nay, đâu chỉ vấn đề “tứ bất” mà không ít sự kiện và nhân vật lịch sử khác vẫn bị nhận định hoặc phiến diện hoặc sai lệch vì vô số nguyên nhân. Nhìn lại quá khứ với sự thận trọng đối chiếu tư liệu khả tín nhằm tái hiện đầy đủ sự thật khách quan đang là yêu cầu bức thiết. ♥

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Thế Giới Mới 516 (9-12-2002)
  • Kiến Thức Ngày Nay 756 (10-8-2011)

Read Full Post »

Ô kìa! Bánh hỏi

Tình cờ lướt qua trang báo điện tử Vietnamnet ngày 29-2-2004 http://vietnamnet.vn/vanhoa/nghexemdocchoi/2004/02/53112/, tôi hơi ngạc nhiên khi đọc bài Bánh hỏi quê bạn… của Túc Hạnh. Bài kia mở đầu bằng mấy dòng chữ đậm thế này: “Một lần về Bình Định được bạn đãi món bánh hỏi mà nhớ hoài… Bánh hỏi không giống như bún, cũng không giống bánh cuốn. Nó mang cái vị vùng quê miền Trung rất lạ. Ăn một bữa mà mê, vào Sài Gòn cứ đi tìm quán bánh hỏi, tìm hoài chẳng thấy…”

T

hú thật, bản thân tôi thuộc “týp” (1) khoái xơi bánh hỏi. Cái món thơm ngon hấp dẫn ấy, tôi được thưởng thức lần đầu từ thập niên 1960. Và không phải ở Bình Định, mà ở Huế.

Hồi đó, một ông cậu ruột dạy học trong thị xã Tam Kỳ nhân kỳ nghỉ hè đã về thăm miền Hương Ngự. Cả gia đình vui mừng đưa cậu đi “kéo ghế” (2) tại Quốc Tế Tửu Gia, quãng giữa Ngã Giữa (3). Suốt bữa, cậu cứ tấm tắc:

– Chà chà… Xa quê từ nhỏ, tới chừ mới hay Huế mình có đặc sản bánh hỏi thịt nướng ngon tuyệt!

Chú bé học trò vốn sẵn “tâm hồn ăn uống” là tôi thuở nọ không thể thủ thỉ, mà ngay sau miếng đầu liền vô tư kêu toáng:

– Hết sẩy! Bánh hỏi ngon hết sẩy!

Thân mẫu tôi bật cười, đoạn nghiêm mặt quở:

– Ừ, thì ngon. Nhưng vô nhà hàng nhà họ, khen hay chê chớ ầm ĩ. Đó, con thấy bánh hỏi không? Là bún đó thôi. Một dạng bún lọn, bún khoanh, chỗ mô cũng có, nhưng dân Huế làm nhỏ sợi, tạo thành từng miếng, khéo léo thêm rau, thêm thịt, tạo nên hương vị đặc biệt.

Sau, tôi biết rằng tuy chẳng phổ biến như bún các kiểu, bánh hỏi vẫn là món “ăn khách” của mấy hàng quán tại cố đô. Giai đoạn bấy giờ, tính riêng phố Ngã Giữa có ít nhất ba cửa hiệu bán bánh hỏi, chủ yếu là bánh hỏi thịt heo nướng và bánh hỏi thịt heo quay.

Bánh hỏi thịt nướng & nem nướng kiểu Huế. Ảnh: Phanxipăng

Hoàng Thị Kim Cúc, nhà giáo đảm trách môn nữ công gia chánh ở trường trung học Đồng Khánh, từng chỉ bày quy cách chế biến bánh hỏi trong sách Món ăn nấu lối Huế (NXB Khai Trí, Sài Gòn, 1970): “1 chén bột gạo. 1,5 chén nước. Lường bột và nước rồi rưới nước vào bột, nhồi cho tan, đổ vào soong, bắc lên lò áo, bột hơi đặc nhắc xuống, gắp bột bỏ vào cái khuôn bằng thiếc tròn có dùi từng lỗ nhỏ (hoặc lon sữa bò xoi từng lỗ nhỏ như cái bàn mài), lấy cái chày nghiền bột ra lá chuối, bột xuống từng tia nhỏ như sợi bún, để cả về bột lên ngăn xửng hấp chín, lấy ra cắt miếng nhỏ. Hành lá hoặc lá hẹ xắt thật nhỏ xào với mỡ chín chầy lên bánh, rắc tôm chấy lên trên dọn với thịt quay, nước mắm, tương ớt và rau sống.”

Nếu thay thịt quay bằng thịt nướng, thực khách được thưởng thức món bánh hỏi thịt nướng. Trường hợp không dùng thịt quay hay thịt nướng, mà dọn nem, chả và lạp xưởng, đảm bảo vẫn đáo khẩu. Nên lưu ý nước chấm: phải chọn nước mắm thượng hảo hạng rồi pha chế thế nào với gia vị để đừng quá mặn, đừng quá ngọt, đừng quá chua; cuối cùng phải tùy khẩu vị của người dùng mà rắc thêm tiêu, thả thêm ớt cho vừa miệng.

Bánh hỏi thịt heo quay. Ảnh: Suy Min

Những tưởng bánh hỏi cầu kỳ và ngon đáo ngon để là món xuất phát từ chốn Thần Kinh. Lớn lên, được “giang hồ không bờ không bến, đẹp như kiếp Bohémien” (4), tôi dần điều chỉnh nhận thức của mình.

Món phổ biến ở duyên hải Trung phần

Lần nọ, ghé Đà Nẵng, tôi được một người anh họ trú ngụ gần bãi biển Thanh Bình mời xơi bánh tráng cuốn. Chẳng phải “bánh tráng thịt heo” ở Khuê Trung mà tôi từng đề cập qua phóng sự Đặc sản Quảng Đà (5) đâu. Bánh tráng mỏng, tức bánh đa nem, cũng cuốn thịt heo phay và rau sống, nhưng có thêm lát bánh hỏi nữa, rồi quệt nước mắm chanh tỏi ớt mà nhai. Hết bánh hỏi, thế bún vào. Nói chung là chưa thấy gì cần chú ý.

Tiếp tục vào Bình Định, Khánh Hòa, tôi bắt đầu thấy… vấn đề. Rõ ràng bánh hỏi vô cùng thông dụng tại thành phố Quy Nhơn – tỉnh lị Bình Định – và thành phố Nha Trang – tỉnh lị Khánh Hòa. Hầu như dân chúng  ở hai đô thị duyên hải miền Trung này có thể ăn bánh hỏi “mọi lúc, mọi nơi” với cách thức cực kỳ giản dị: chan hoặc chấm nước mắm để điểm tâm sáng sớm, lót dạ buổi xế, dằn bụng đêm khuya. Vài hàng quán – chẳng hạn ở các thị trấn An Thái, Phù Mỹ hay Ninh Hòa – còn biểu diễn dăm “khúc biến tấu” từ bánh hỏi. Ngoài bánh hỏi thịt heo nướng và bánh hỏi thịt heo quay, đầu bếp mấy nơi ấy tha hồ phối hợp bánh hỏi với lắm sơn hào hải vị, cho ra: bánh hỏi thịt thưng (thịt bò dầm nước mắm), bánh hỏi thịt gà, bành hỏi chả giò (nem rán), bánh hỏi chả cá, bánh hỏi mực, bánh hỏi tôm, v.v. Đôi món hiếm gặp là bánh hỏi kèm chim mía nướng và chình mun um, ví có dịp nếm sơ qua, khách khó tính cũng đủ xuýt xoa:

– Ngon chi ngon lạ ngon lùng!

Lẽ tất nhiên, tùy nguyên vật liệu “kẹp díu” mà mỗi món bánh hỏi mang màu sắc và hương vị riêng. Nói chính xác hơn thì đối với các món bánh hỏi, nguyên vật liệu đính kèm lại quyết định chất lượng thực phẩm.

Bánh hỏi tôm chấy. Ảnh: Phanxipăng

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thuần nhận xét:

– Hình như bất kỳ thứ gì, hễ ăn được đều có thể ghép chung với bánh hỏi. Thì bánh hỏi cũng giống bún, giống mì. Nhưng theo mình biết, tại tỉnh Bình Định lẫn Khánh Hòa, bánh hỏi nước mắm vẫn là món đơn giản mà phổ biến nhất của đại đa số quần chúng.

Kỹ sư Hoàng Trọng Cư – giám đốc công ty tư vấn xây dựng tổng hợp Hoàng Lê – đặt câu hỏi thú vị:

– Tớ thắc mắc mãi, song chả ai giải đáp nổi. Rằng bánh hỏi vốn từ Huế truyền vào Bình Định và Khánh Hòa hay ngược lại?

Bánh hỏi thịt nướng & nem nướng Ninh Hoà, Khánh Hoà. Ảnh: Phanxipăng

Đến tỉnh Bình Thuận, ghé huyện Hàm Thuận Bắc, cách thành phố Phan Thiết chừng 7km, tôi ăn bánh hỏi kẹp với lòng heo ở thị trấn Phú Long và nghe thiên hạ vần vè quảng bá:

     Ai về Bình Thuận cho theo,

Phú Long bánh hỏi lòng heo: nhớ hoài!

Vừa nhâm nhi miếng ngon, tôi vừa ngẫm nghĩ sự vụ mà Hoàng Trọng Cư đặt. Trả lời thỏa đáng câu hỏi đó là điều hoàn toàn chẳng dễ. Tư liệu ẩm thực học lịch sử của Việt Nam bị khiếm khuyết nghiêm trọng. Vậy biết căn cứ vào đâu để khẳng quyết hoặc phán đoán địa bàn mà bánh hỏi đã khai sinh?

Bánh hỏi lòng heo Phú Long, Bình Thuận. Ảnh: Phanxipăng

Xuất xừ từ phương Nam

Từng sống ở miền Bắc mấy năm, tôi chưa hề gặp bánh hỏi. Rong ruổi miền Nam, thấy sao? Gì chứ bánh hỏi luôn hiện hữu “trên từng cây số”. Ê hề!

Không biết Túc Hạnh – tác giả bài Bánh hỏi quê bạn… – đã “bát phố” Sài Gòn để “thâm nhập thực tế” chưa? Chứ trình bày đúng, ắt xin thưa rằng mọi quận huyện của “Hòn ngọc Viễn Đông” bấy lâu nay đều có hàng quán bánh hỏi. Chỉ xin kể sơ dăm quán trong phạm vi nội thành mà tôi vừa đích thân ghé xơi dịp đầu tháng 3-2004. Đó là các quán trên đường Kỳ Đồng (quận 3), đường Nguyễn Trãi (quận 5), đường Trần Huy Liệu (quận Phú Nhuận), đường Lê Quang Định (quận Bình Thạnh). Một số quán, như quán trên đường Nguyễn Tri Phương (quận 10), còn treo biển kẻ hai chữ “bánh hỏi” to đùng đoàng. Đấy là chưa kể vô số điểm kinh doanh các món lẩu và món cuốn, người ta vẫn dọn dĩa bánh hỏi thay cho dĩa bún hoặc mì sợi. Nhiều đầu bếp còn dùng lá dứa và lá cẩm nhằm nhuộm màu lục và màu tím cho bánh hỏi nữa.

Nem nướng Thủ Đức cũng ăn kèm bánh hỏi. Ảnh: Phanxipăng

Một số thực khách thường nhắc bánh hỏi Bà Rịa. Thực tế, đó là sản phẩm nổi tiếng ở xã An Nhứt, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Các tỉnh khác thuộc miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, nơi nào cũng sẵn bánh hỏi.

Nếu rảo gót về miền Tây Nam Bộ, từ Long An, Tiền Giang, xuống Kiên Giang, Cà Mau, khách viễn phương thấy bánh hỏi xuất hiện khắp chợ cùng quê. Cũng miếng bánh hỏi như nhau, song tùy từng địa phương, thậm chí từng đầu bếp, mà cách trình bày thành phẩm tồn tại ít nhiều dị biệt. Chẳng hạn quán xá gần bến Ninh Kiều (Cần Thơ) hoặc ở Long Xuyên (An Giang), món bánh hỏi thịt nướng ít khi bày ra dĩa mà lại dọn trong tô, lát bánh cũng chẳng để nguyên mà được cắt vụn cho dễ trộn, dễ và. Còn ở Tân Hiệp (Tiền Giang) và Trà Ôn (Vĩnh Long), ăn cháo lòng vẫn đính kèm bánh hỏi.

Chạo tôm cũng ăn kèm bánh hỏi. Ảnh: Phanxipăng

Thật tình, tôi viết bài này hoàn toàn không phải cốt chứng minh cái điều Túc Hạnh đinh ninh “vào Sài Gòn cứ đi tìm quán bánh hỏi, tìm hoài chẳng thấy” là quá sai lầm. Điều đáng quan tâm nằm ở chỗ khác. Ấy là nhờ “lang bạt kỳ hồ” qua nhiều địa phương, gặp cơ hội khảo nếm miếng ăn thức uống, gần đây tôi thu thập được thông tin liên quan đến gốc gác món bánh hỏi truyền thống, có khả năng giải quyết thắc mắc mà kỹ sư Hoàng Trọng Cư từng nêu.

Nhớ lại năm 1996, lúc thực hiện phóng sự Nghệ thuật ẩm thực kiểu Huế (6), tôi sửng sốt biết loạt món lừng danh “Huế rặt” thực sự chuyển từ Nam Bộ về kinh thành Phú Xuân vào thế kỷ XIX. Ví dụ: mè xửng, tôm chua, chả cá phác lác / thác lác. Ai có công du nhập? Chính là bà Phạm Thị Hằng (1810 – 1901), thường được gọi là đức Từ Dụ / Từ Dũ (7) – hoàng hậu của vua Thiệu Trị và thân mẫu của vua Tự Đức.

Bây giờ, tôi phân vân: liệu bánh hỏi thuộc “kênh” ấy chăng?

– Bánh hỏi í à? Cũng do đức Từ Dũ đưa từ quê nhà Gò Công ra Huế.

Đó là lời khẳng định của cụ Ích Thiện – phu nhân của quan Khâm mạng Ưng An (1902 – 1978). Ông Ưng An là em ruột của nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị, là con của Hiệp Tá Tiểu Thảo Hường Thiết, là cháu nội của Tuy Lý Vương Miên Trinh, dòng dõi vua Minh Mạng. Dưỡng lão tại tư thất nằm sâu trong một hẻm nhỏ ở Sài Gòn, thuộc quận 3, gần kênh Nhiêu Lộc, cụ bà Ích Thiện nói với tôi như thế không chỉ một lần.

Bánh hỏi từ đất phương Nam về Huế, được nâng cấp, được quý tộc hóa, cung đình hóa. Rồi từ Huế, bánh hỏi lại phổ biến tới bao tỉnh thành khác theo hướng… đại chúng hóa, bình dân hóa. Đạo hữu của một số tôn giáo kiêng cữ thức ăn nguồn gốc động vật thì tìm cách trai hóa / chay hóa món bánh hỏi.

Tôi trân trọng ghi nhận ý kiến khả tín của cụ Ích Thiện để làm tư liệu tham khảo cho những ai hằng thích thú tìm hiểu văn hóa ẩm thực Việt Nam. ♥

_________________

(1)   Phiên âm danh từ tiếng Pháp type có nghĩa kiểu, loại hình, tình nhân.

(2)   Phương ngữ Huế có nghĩa ăn quán / tiệm / nhà hàng.

(3)   Ngã Giữa là tên dân gian thường dùng để gọi phố Cửa Đông hình thành từ cuối thế kỷ XIX. Trước năm 1955, Pháp gọi là rue Gia Long. Giai đoạn 1955 – 1976 là đường Phan Bội Châu. Từ năm 1977 đến nay là đường Phan Đăng Lưu.

(4)   Trích ca khúc Con đường vui – nhạc của Lê Vy, lời của Phạm Duy và Mai Hạnh.

(5)   Phóng sự Đặc sản Quảng Đà của Phanxipăng đã đăng các tạp chí Tài Hoa Trẻ 31 (10-1997), Du Lịch Đà Nẵng 11 (1-2005), rồi truyền vào weblog này.

(6)   Phóng sự Nghệ thuật ẩm thực kiểu Huế của Phanxipăng đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 222 (số đặc biệt Xuân Đinh Sửu 1997), đoạn in trong sách Huế chừ (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2000), sẽ truyền vào weblog này sau.

(7)   慈裕 chính âm Từ Dụ, song bấy lâu nay nhiều người quen viết và đọc Từ Dũ.

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Tài Hoa Trẻ số 310 (7-4-2004)
  • Phong Cách số ra mắt (tháng 10-2006)
  • Chuyên đề 3 Thực Đơn Khoẻ Đẹp của tạp chí Văn Hoá Nghệ Thuật Ẩm Thực (tháng 4-2010)

Read Full Post »

Chơi Bà Nà

Lên khu nghỉ dưỡng Bà Nà ở ngoại ô thành phố Đà Nẵng, du khách dễ dàng cảm nhận 4 mùa luân chuyển trong 1 ngày đêm: sáng xuân, trưa hạ, chiều thu, tối đông. Và còn gì nữa?

Phong cảnh Bà Nà. Ảnh: Anh Tuấn

   M

ùa hè 2003, gặp tôi ở khách sạn Sông Hàn, nhà báo Phạm Phúc – thư ký toà soạn tạp chí Du lịch thành phố Đà Nẵng – vồn vã:

– Anh Phanxipăng chơi Bà Nà lần nào chưa? Chưa hả? Vậy hãy đi đi. Mùa hè, khi nhiệt độ tại trung tâm Đà thành nóng bức 320C thì trên Bà Nà ban ngày chỉ xê xích 20 ~ 250C và ban đêm còn 170C.

Xuôi quốc lộ 1A, chúng tôi tới cầu An Lợi. Từ đó, ô tô vượt thêm 39km đèo dốc nữa là đến đèo Vọng Nguyệt. Bước vào cabin cáp treo, chúng tôi “bay” 800m trong 3 phút để đặt chân lên đỉnh Bà Nà có độ cao 1.478m so với mặt biển. Hệ thống cáp treo này do Công ty Doppelmayr của Áo thực hiện với tổng kinh phí 22,5 tỉ đồng, khánh thành cuối tháng 3-2000. Vé đi cáp treo một lượt giá 25.000đ. Vé khứ hồi chỉ trả 35.000đ.

Xuất hiện, khuất bóng, rồi hồi sinh

Từ tháng 2-1900, đại uý bộ binh Marine Debay được Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer giao nhiệm vụ: thám sát dãy Trường Sơn trong vòng bán kính 150km tính từ Đà Nẵng ra Huế nhằm tìm điểm nghỉ mát, dưỡng sức và chữa bệnh tại chỗ cho Pháp kiều thay phải về chính quốc nghỉ phép hằng năm vừa xa xôi, vừa khó khăn, vừa tốn kém. Sau nhiều đợt thăm dò thực địa đầy gian nan, đến tháng 11-1901, Debay báo cáo đã xác định được vị trí thích hợp tại vùng cao Tuý Loan. Đó là núi Lô Đông, tức Bà Nà – tên gọi theo tiếng dân tộc Bana.

Công cuộc kiếm tìm và tiến trình xây dựng Bà Nà thành nơi nghỉ dưỡng ở miền Trung nước Việt, cùng những đặc điểm của khu vực này về khoáng sản lẫn lâm sản, về khí hậu – thời tiết, về vệ sinh – y tế, về địa chất và động thực vật, v.v., từng được Henri Cosserat, A. Sallet, L. Gaide trình bày chi tiết trong bài La montagne de Bana, station d’altitude de l’Annam central (1) trên tờ Bulletin des Amis du Vieux Hué (2) năm 1924. Bác sĩ Sallet cũng ghi nhận rằng thuở xa xưa, Nguyễn Ánh – tức vua Gia Long về sau – từng đến đây hạ trại thâu nạp những người dân tộc thiểu số trung thành và một bà phi của Nguyễn Ánh đã khai khẩn 50ha đất canh tác tại đây trong giai đoạn chống chọi quân Tây Sơn. Còn bác sĩ Gaide nêu nhận định: “Bà Nà thật sự không thua kém gì các nơi an dưỡng khác về sự mát mẻ của khí hậu, sự tốt tươi của cảnh sắc, sự thích thú của vui chơi, và nhất là nó rất cần thiết cho sự nghỉ ngơi khoan khoái của người Âu châu tại Huế, Đà Nẵng, lẫn các địa phương lân cận”.

Núi Bà Nà được nhìn từ vịnh Đà Nẵng. Nguồn: BAVH 1924

Huỳnh Thị Bảo Hoà (1896 – 1992; họ tên Huỳnh Thị Thái, quê xã Hoà Minh, huyện Hoà Vang) là một trong những phụ nữ Việt Nam đầu tiên sáng tác tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ – cuốn Tây phương mỹ nhơn xuất bản năm 1927. Sau chuyến nghỉ mát cùng gia đình tại Bà Nà, Huỳnh Thị Bảo Hoà đã viết Bà Nà du ký đăng tạp chí Nam Phong số 163 phát hành tháng 6-1931. Du ký nọ ghi nhận thêm chi tiết: hồi bấy giờ, thực dân Pháp còn xây dựng cả “nhà giam tù quốc phạm” tại vùng núi cao này.

Ngày 28-7-1932, kỹ sư Girald phát hiện một điểm cao lý tưởng kế bên Bà Nà: núi Bạch Mã thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên. Những năm 1942 – 1946, trên mặt bằng 900ha ở Bạch Mã đã liên tiếp mọc lên 139 lâu đài sang trọng của các quan chức người Pháp cùng các danh gia vọng tộc Nam triều. Bấy giờ, tuy nhỏ thua Bạch Mã, Bà Nà cũng đã trở nên thị tứ đảm bảo tiện nghi cho du khách như điện, nước, đường sá, trạm y tế, nhà bưu chính, sân vận động. Tập đoàn Grand Hôtel – có khách sạn cao nhất thế giới ở Las Vegas (Hoa Kỳ) đã được ghi vào sách kỷ lục Guiness – bấy giờ cũng đầu tư xây dựng khách sạn tại Bà Nà mà dấu tích hiện vẫn còn.  Ngoài khách sạn phía đầu cầu Trường Tiền ở Huế, anh em Morin còn tạo lập thêm khách sạn trên Bạch Mã và Bà Nà.

Nhà gỗ Thuỵ Sĩ tại Bà Nà. Nguồn: BAVH 1924

Sau Cách mạng tháng 8-1945, Pháp rút khỏi Đông Dương, Bà Nà vắng bóng người. Khi thực dân Pháp lăm le tái chiếm Việt Nam, quân dân các huyện Đại Lộc và Hoà Vang theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến đã triệt hạ thị trấn Bà Nà. Từ đấy, khu nghỉ mát này biến thành bình địa hoang phế, rồi dần bị cây rừng trùm lấp suốt thời gian dài.

Mãi tới năm 1992, Công ty Du lịch – dịch vụ Đà Nẵng (Danatours) đề xuất dự án khôi phục khu nghỉ mát Bà Nà nhưng bất thành vì thiếu nguồn tài chính. Tháng 4-1997, Sở Du lịch Đà Nẵng trình dự án tương tự, kêu gọi đầu tư xấp xỉ 60 triệu USD. Ngày 11-10-1997, UBND TP Đà Nẵng ban hành quyết định số 3754 phê duyệt dự án đầu tư tái thiết tuyến đường lên núi Bà Nà, cắm mốc hồi sinh cho một điểm du lịch đầy triển vọng. Đầu năm 1998, UBND TP Đà Nẵng ra tiếp quyết định xây dựng lại khu nghỉ mát Bà Nà và giao Danatour quản lý, khai thác. Ngày 1-9-1998, khu nghỉ mát Bà Nà tiến hành lễ khai trương.

Ông Nguyễn Hồng Duy Phượng – Giám đốc Trung tâm du lịch Bà Nà trực thuộc Danatours – cung cấp cho tôi vài số liệu:

– Hiện nay, Danatours thường xuyên đón khách lên chơi Bà Nà theo 2 chương trình. Chương trình gói trọn trong ngày với giá 150.000đ/khách nội địa, hoặc 15USD/khách nước ngoài. Chương trình 2 ngày 1 đêm với giá 265.000đ/khách nội địa, hoặc 30USD/khách nước ngoài. Thời gian qua, lượng du khách tới Bà Nà không ngừng tăng. Năm 2000, đón 20.000 lượt khách. Năm 2001, đón 35.000 lượt khách. Năm 2002, số khách tăng gấp bội năm trước: 70.000 lượt khách.

Hôm nay & ngày  mai

Là người nhiều chuyến “ăn dầm, nằm dề” trên ngọn Bà Nà để săn hình, nhiếp ảnh gia Nguyễn Đình Lạc cười nói với tôi:

– Đã lên Bà Nà mà theo tour đi về trong ngày, cầm bằng ở nhà quách! Chơi Bà Nà, bét nhất cũng phải sống trọn vẹn 2 ngày 1 đêm. Lâu hơn càng “phê”. Rứa mới cảm nhận đủ đầy lắm thứ tê mê chánh hiệu Bà Nà chớ.

Du hí Bà Nà. Phải qua: Trương Công Ánh, Nguyễn Đình Lạc, Phạm Phúc, Phanxipăng, Trần Minh Trị

Trên đỉnh Bà Nà giờ đây có những cơ sở lưu trú được tạo lập theo nhiều dạng thức: biệt thự (villa), khách sạn (hotel), nhà nghỉ (rest houses), nhà sàn (bungalow). Nếu thích, du khách cũng có thể tự tay căng bạt cắm trại để ngả lưng ven rừng. Thức ăn cùng các loại nước giải khát đã có nhà hàng cùng quầy bar gần bên cầu treo sẵn sàng phục vụ bất cứ lúc nào. Câu lạc bộ ở đây cũng bố trí một số phương tiện để khách giải trí sau những giờ băng ngàn lội suối: billard, roton, karaoke, trò chơi điện tử, v.v.

Đối tượng khiến tôi chú ý đầu tiên khi đặt chân lên đỉnh Bà Nà là loài hoa đặc hữu nơi này: những đoá hoa hình dạng tợ quả chuông, nở thành chùm màu hồng, thoải mái đong đưa giữa gió và sương mù, nom đẹp lạ!

Giám đốc Nguyễn Hồng Duy Phượng cho biết:

– Hoa đào chuông đó. Hầu như chỉ Bà Nà mới có loài hoa đào độc đáo đó. Đã tốn công đưa giống xuống chân núi trồng thử, vẫn không sống nổi. Hoa đào chuông trổ bông rộ nhất vào dịp Tết Nguyên đán, ai nhìn cũng… ngẩn ngơ.

Tôi reo vang:

– Ồ! Thế thì tại sao khu nghỉ mát Bà Nà không chọn hình ảnh hoa đào chuông làm biểu tượng riêng nhỉ?

Loài thực vật này được định danh khoa học Enkianthus quinqueflorus Lour. thuộc họ Đỗ quyên (Ericaceae) (3). Do đó, gọi đỗ quyên chuông ắt phù hợp hơn đào chuông. Nhiều người gọn hoá nên hoa chuông. Tên khác là trợ hoa. Kỳ thực, Bạch Mã ở tỉnh Thừa Thiên – Huế cùng một số địa phương khác trên toàn quốc cũng có loài hoa này sinh sống. Đất nước Trung Hoa cũng có nhiều cây này, với tên 吊鐘–bính âm phát diào zhōng, âm Hán Việt phát điếu chung.

Hoa chuông. Ảnh: Thế Vũ

Chiều buông. Sương giăng mỗi lúc một đậm đặc. Không khí dần se lạnh, khiến mọi người phải quàng thêm áo ấm. Chúng tôi quây quần trên vuông sân trước bungalow, đốt lửa, chuẩn bị đêm rượu cần. Ngước nhìn xa xa về hướng đông, thấy một quầng sáng lấp lánh: phố phường Đà Nẵng vừa lên đèn.

Khuya. Rét cóng. Nhiệt độ nơi đây lúc thấp nhất đo được 110C. Phạm Phúc giục:

– Vô bungalow trùm mền nằm ngủ thôi. Giành sức để mai còn trèo núi Chúa mí lị tắm thác Tóc Tiên.

Sớm tinh mơ. Chúng tôi hào hứng rẽ sương mù, đạp mây, vạch cỏ cây, leo lên núi Chúa ngắm bình minh. Trong Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, núi Chúa được ghi bằng các tên Chủ Sơn, Giáo Lao và Giáo Đao, kèm dòng giải thích: “Vì hình núi nhọn như ngọn giáo mác nên gọi thế”.

Đứng trên đỉnh núi Chúa, tha hồ phóng tầm mắt quan sát toàn cảnh bức tranh thiên nhiên cực kỳ hoành tráng: từ cù lao Ré (huyện đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi), cù lao Chàm (xã đảo Tân Hiệp ngoài khơi Hội An của tỉnh Quảng Nam), Ngũ Hành Sơn (Non Nước), Vũng Thùng (vịnh Đà Nẵng), đến các cánh đồng, cồn cát, cùng đầm phá duyên hải Thừa Thiên – Huế. Ngoái sang hướng tây, du khách có thể trông thấy đỉnh A Tuất cao nhất vùng (2.500m) nhô lên trên rặng Trường Sơn, giữa biên giới Việt – Lào.

Phanxipăng tại nơi từng là Grand hôtel / Đại khách sạn trên núi Bà Nà. Ảnh: Phạm Phúc

Ông Nguyễn Văn Đến – Trưởng ban quản lý khu du lịch Bà Nà – gợi ý:

– Khu du lịch này, hồi trước gọi Bà Nà – núi Chúa, nhưng nay đổi thành Bà Nà – suối Mơ. Quý vị đã cất công tới Bà Nà, đương nhiên gặp núi Chúa. Phải quay ngược một đoạn kể từ cầu An Lợi để tham quan suối Mơ, kẻo bỏ qua thì… tiếc lắm!

Tuyến suối Mơ mới mở, bao gồm chuỗi suối Mơ – hồ Thuỳ Dương – thác Kim Hiền – thác Tóc Tiên trải dài quanh co giữa đại ngàn hoang dã, thu hút khá đông học sinh và sinh viên đến du ngoạn cuối tuần. Dưới chân thác Tóc Tiên, mặc dầu có bảng cảnh báo “Khu vực nguy hiểm – Xin đừng leo lên thác”, nhưng tôi vẫn thấy mấy đôi nam nữ bám gờ đá, leo lên cao tít.

Một nhân viên bảo vệ ở đây lắc đầu bực dọc:

– Nói mỏi miệng, họ vẫn không thèm nghe! Chỉ sơ sểnh tí ti là trượt chân, cả đôi lôi nhau từ đỉnh thác lao tuột xuống… chín suối. Phút đó mà hối, e quá muộn!

Suối Mơ. Ảnh: Thế Vũ

Giám đốc Nguyễn Hồng Duy Phượng trưng mấy phép so sánh (mà bác sĩ Sallet từng nêu trong BAVH 1924) cốt làm nổi bật những ưu thế của khu nghỉ mát Bà Nà:

– So với những nơi nghỉ mát nổi tiếng khác ở nước ta, như Đà Lạt hoặc Tam Đảo, thì Bà Nà có điểm thú vị được nhiều người khen ngợi: tầm nhìn bao quát cả một vùng không gian rộng lớn. Bà Nà cách trung tâm thành phố Đà Nẵng không xa, chỉ 40km, trong khi điều kiên giao thông hiện nay khá nhanh chóng và tiện lợi.

Tôi hỏi:

– Vậy so Bà Nà với Vườn quốc gia Bạch Mã kề bên thì sao?

Ông Phượng đáp:

– Bạch Mã cách trung tâm cố đô Huế cũng chỉ 40km, nhưng do độ dốc cao nên đường ô tô từ Cầu Hai lên núi khúc khuỷu, phức tạp hơn. Nếu xét về cảnh quan, môi trường, nhiệt độ, khí hậu, đặc biệt là hệ thống động vật cùng thảm thực vật, quả thật Bạch Mã phong phú và đa dạng vượt trội. Năm 1991, Bạch Mã được công nhận là Vườn quốc gia với tổng diện tích 22.031ha, có nhiệm vụ chính là bảo tồn hệ sinh thái, bảo tồn nguồn gène thiên nhiên. Tuy rất giàu tiềm năng, Bạch Mã cũng chỉ khai thác du lịch xanh (4) trong giới hạn nhất định. Còn Bà Nà đây lại là khu nghỉ mát, tổng diện tích 8.425ha thôi, chức năng chủ yếu là thoả mãn nhu cầu nghỉ dưỡng, giải lao, giải trí cho các tầng lớp nhân dân và góp phần phát triển kinh tế du lịch – dịch vụ bằng nhiều loại hình hấp dẫn phù hợp.

Xem xét thực địa cũng như nghiên cứu bản đồ địa lý tự nhiên, dễ nhận ra rằng Bà Nà với Bạch Mã là một quần thể gắn bó chặt chẽ, bất khả phân ly. Hướng tới tương lai xa rộng, thiển nghĩ Bạch Mã – Bà Nà cần phối hợp xây dựng kế hoạch hành động đồng bộ, làm sao để vừa phát huy những giá trị thiên nhiên và văn hoá bản địa, vừa quản lý bền vững môi trường sinh thái, vừa thúc đẩy “nền công nghiệp không khói” tiến triển đạt hiệu quả tối ưu. ♥

_________________

(1)   Núi Bà Nà, khu nghỉ mát trên cao ở Trung Trung Kỳ.

(2)   Tập san của Hội Những người bạn cố đô Huế, thường được gọi Đô thành hiếu cổ, viết tắt BAVH.

(3)   Cây đào trổ hoa vào dịp Tết Nguyên đán có tên khoa học Prunus persica (L.) Batsch thuộc họ Hoa hồng (Rosaseae).

(4)   Green tourism.

Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 535 (12-5-2003)

Read Full Post »

Older Posts »