Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai, 2011

Đại hạ giá

Chân dung Phanxipăng. Ký hoạ sơn dầu: Lưu Đức Dũng

 

H

ạ giá! Hạ giá! Đại hạ giá!

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử: hạ giá! Tôi, cầm mảnh bằng đại học cạy cục mãi chưa tìm được việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoi, Dostoievski đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

– Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh do Trường Thi tái bản tại Sài Gòn năm 1957. Cuốn kia là Petit Larousse Illustré in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này bày đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột mỗi cuốn đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque – Đỗ Bi – Professeur”. A, té ra ông lão từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu – tài sản phải rứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần, đoạn ông mới dắt chiếc xe cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Cạnh các danh tác, tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai hay, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi bặm thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

– Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chú mục vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia, lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai.

Ngần ngừ lúc lâu, chị hỏi:

– Anh có bán… trả góp không?

Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách xôn, sách đại hạ giá, ai đời bán trả góp? Vả, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

– Tôi cần mua cả – chị tiếp – xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đỗ Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao lăm, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

– Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết thầy. Tôi cũng xin lại đúng vốn mà thôi, chị à.

– Nhưng…

– Đừng ngại, chị góp dần sau cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.

– Chao, quý hoá quá! Cảm ơn… Cảm ơn… anh nhá!

Mai, chị Tám góp tiếp. Chị kể:

– Thầy Bi thảm lắm… Gần Tết, cô lại ngã bệnh… Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi, tội ghê, anh à! Thầy cũ, trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét tướng:

“Ông Vic, ông Lev, ông Dos ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng sẵn những kiệt tác không hạ giá nổi: Tấm Lòng!”

Xa xa đì đoàng phào nổ. Tiếng cười của mùa xuân?

 

Phanxipăng

Giải nhất cuộc thi truyện mini lần thứ nhất của tủ sách Áo Trắng NXB Trẻ (1992)

Đã đăng Áo Trắng 17 (Xuân Nhâm Thân 1992)

In trong sách 160 truyện ngắn mini (NXB Mũi Cà Mau, 1998)

Read Full Post »

Bêlem bất ngờ kỳ thú

Noël chẳng những là đại lễ của tín đồ đạo Kitô (bao gồm Công giáo, Chính Thống giáo, Anh giáo, đạo Tin Lành, v.v.) mà đã trở thành dịp vui lớn của hầu hết nhân loại. Tuy nhiên, ngoại trừ một số tu sĩ Kitô giáo thì quá đông người, kể cả không ít Kitô hữu, chưa biết rõ về một nơi chốn rất gắn bó với mùa Giáng sinh: Bêlem.

B

êlem / Bê lem / Bê-lem được các ngôn ngữ ghi ra sao? Tiếng Latinh: Bethleem. Tiếng Anh và tiếng Hà Lan: Bethlehem. Tiếng Đức và tiếng Đan Mạch lẫn tiếng Na Uy: Betlehem. Tiếng Pháp: Bethléem. Tiếng Ý: Betlemme. Tiếng Bồ Đào Nha: Belém. Tiếng Ba Lan: Betlejem. Tiếng Tây Ban Nha: Belén. Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Beytüllahim. Tiếng Nga: Вифлеем. Tiếng Ukraina: Вифлеєм. Tiếng Mông Cổ: Витлеем. Tiếng Nhật: ベツレヘム. Tiếng Hoa  伯利恒 mà âm Bắc Kinh phát Bailiheng, phiên âm Hán-Việt thành Bá Lợi Hằng.

Bêlem trong tiếng Ả Rập mang nghĩa “Nhà thịt cừu non”, còn tiếng Do Thái lại có nghĩa “Nhà bánh mì”.

Bêlem không phải hang đá

Bêlem là tên thành phố của đất nước Palestine kể từ cuối năm 1995. Thuộc phần phía nam dãy núi Judea, Bêlem nằm trên độ cao 775m, cách thánh địa Jesusalem 10km, cách Địa Trung Hải 73km. Thành cổ ở trung tâm Bêlem gồm 8 khu phố, hiện có khoảng 5.000 dân; còn toàn thành phố Bêlem có 30.000 dân mà 23% theo đạo Hồi, 65% theo Kitô giáo (bao gồm Chính thống giáo Hy Lạp và Công giáo La Mã).

Thành phố Bêlem trên bản đồ

Đó là nơi Chúa Giêsu Kitô (1) chào đời. Lần giở Phúc âm thư do Gérard Gagnon phiên dịch (Thánh Tâm biệt thự, Đà Lạt, 1964) và Kinh Thánh trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước (Bản chuyển ngữ của nhóm phiên dịch Các giờ kinh phụng vụ, Toà Tổng Giám mục TP.HCM thực hiện – NXB TP.HCM, 1998), thấy Phúc âm theo thánh Mathêu / Tin mừng theo thánh Mát-thêu lẫn Phúc âm theo thánh Luca / Tin mừng theo thánh Lu-ca đều khẳng định thế.

Phúc âm Mathêu (2) ghi nhận rằng “có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông” theo ngôi sao đến Bêlem: “Họ vào nhà, thấy hài nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a (3), liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.” (Mt 2, 11; sđd, trang 1846). Phúc âm Luca (4) cho biết Giuse (5) từ Nadarét (6) đến thành Bêlem: “Ông lên đó khai tên cùng với người đã thành hôn với ông là bà Ma-ri-a, lúc ấy đang có thai. Khi hai người đang ở đó, thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.” (Lc 2, 5-7; sđd, trang 1941).

Vậy căn cứ vào Phúc âm thì Chúa Giêsu lọt lòng tại thành phố Bêlem, trên máng cỏ, trong nhà, hoặc trong chuồng bò cừu, chứ không phải trong hang đá.

Thành phố Bêlem ngày nay. Ảnh: Emily Kattan

Vương cung thánh đường Giáng Sinh

Những năm 132 – 135, quân La Mã chiếm đóng Bêlem và xây miếu thờ Adonis – một vị thần Hy Lạp. Giai đoạn 326 – 333, ngay tại vị trí đó, nhà thờ Giáng Sinh (7) được xây dựng. Năm 529, người Samaritan nổi dậy, phá tan nhà thờ Giáng Sinh, liền sau đó hoàng đế Justinian I cho tái thiết giáo đường ấy. Dưới thời cai trị của khalip Fatimid VI al-Hakim bi-Amr Allah, nhà thờ Giáng Sinh lần nữa bị phá huỷ vào năm 1009. Người kế vị là Aliaz-Zahir cho xây cất lại. Suốt thời gian dài, việc trông nom nhà thờ Giáng sinh trở thành đề tài tranh cãi giữa Chính Thống giáo và Công giáo.

Nhà thờ Giáng Sinh. Ảnh: Berthold Werner

Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở trung tâm thành phố Bêlem. Cạnh giáo đường là quảng trường Máng Cỏ (8). Nhà thờ này có Hầm Mộ Thánh (9), tương truyền là nơi Giêsu được sinh ra.

Hầm Mộ Thánh dưới giáo đường Giáng Sinh năm 1833. Tranh: Максим Никифорович Воробьёв / Maxim Nikiforovich Vorobiev

Từ điển Công giáo phổ thông của John A. Hardon (Phêrô Đặng Xuân Thành dịch sang tiếng Việt – NXB Phương Đông, Cà Mau, 2008; trang 63) ghi nhận: “Ở dưới Hầm có bàn thờ kính Chúa Giáng sinh được xây lùi vào trong tường. Nền nhà thờ bằng cẩm thạch, phía dưới bàn thờ được khoét thành hình 1 ngôi sao bạc: giữa ngôi sao đó là 1 mẩu đá của cái hang nguyên thuỷ. Chung quanh ngôi sao là dòng chữ Đây là nơi Đức Giêsu Kitô được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra. Ở đây có 53 ngọn nến cháy sáng cả ngày lẫn đêm. Tại đây, người ta cử hành lễ Giáng sinh mỗi ngày, các tín hữu quỳ trên nền nhà cẩm thạch”.

Ai từng viếng thăm nhà thờ Giáng sinh, hoặc đã xem phim ảnh đặc tả Hầm Mộ Thánh, ắt ngờ vực từ điển vừa dẫn. Nền giáo đường bằng cẩm thạch, song phía dưới bàn thờ không “khoét thành hình 1 ngôi sao bạc”, mà khoét 1 lỗ tròn. Ngôi sao 14 cánh bằng bạc có trổ vòng tròn từ tâm – với đường kính bằng lỗ tròn – được gia công riêng rồi ốp lên lỗ tròn đó bởi loạt ốc vít. Trên ngôi sao bạc, dòng chữ La Tinh chạy quanh vòng tròn: Hic de Virginia Maria Jesus Christus natus est. Giữa ngôi sao bạc chẳng phải “là 1 mẩu đá của cái hang nguyên thuỷ”, mà là lỗ tròn chứa chất lỏng như hình đính kèm.

Ngôi sao bạc 14 cánh. Ảnh: Jerychonka

Hang đá Bêlem xuất hiện ở Ý thế kỷ XIII

Sách St. Francis of Assisi: A Biography (10) của Omer Angleber (Ấn hành bởi Servant Ministries, Guatemala, 1979) viết rằng năm 1223, hai tuần trước lễ Noël, trên đường từ Roma về Assisi, Phanxicô đã dừng chân tại Greccio – một thị trấn của nước Ý. Gặp Jean Velita, một điền chủ giàu có vừa từ giã binh nghiệp để nhập dòng tu, Phanxicô thổ lộ:

– Ta mong ước cử hành lễ Giáng sinh để suy tôn Chúa ra đời ở Bêlem, nhưng làm sao thể hiện được nỗi cơ cực và khổ đau của Ngài ngay từ thuở còn thơ để cứu chuộc nhân loại. Vì vậy, ta xin con làm một hang đá giống như thật với cỏ khô. Con dẫn theo một con lừa và một con bò, giống như bò lừa đã chầu quanh Chúa hài đồng năm xưa.

Vậy là hơn 12 thế kỷ sau khi Chúa Giêsu lọt lòng, hang đá Bêlem mới xuất hiện nhờ sáng kiến của tu sĩ Phanxicô Assisi (11) (1181 – 1226) – người sáng lập dòng Anh em hèn mọn, còn được gọi dòng Phan Sinh. Từ đó, hang đá Bêlem được phổ biến toàn thế giới, nhất là dịp lễ Noël thường niên.

Đền thờ thánh Phanxicô Assisi tại Grecco. Ảnh: Florixc

Chính sự phổ biến rộng khắp kia khiến quá đông người nhầm lẫn về nơi chốn cụ thể của Chúa Giêsu lúc chào đời. Hàng loạt tác phẩm văn nghệ liên tục thể hiện chi tiết hang đá một cách ngộ nhận, chẳng hạn loạt ca khúc Hang Bêlem của Hải Linh và Minh Châu, Giáng sinh xanh của Từ Công Phụng, Đồng dao Noël của Lê Quốc Thắng, v.v. Lạ lùng là linh mục Phaolô Đoàn Quang Đạt (1877 – 1956) vào năm 1907 soạn thánh ca Nửa đêm mừng Chúa ra đời mà lại viết ca từ mang nội dung trái sự thật:

Ớ chứng nhân tới xem điềm lạ

Kìa trong hang đá nọ trước lều tranh

Rằng tình tình tinh

Thánh tiểu hài sinh thật

Ngôi linh tính tang tình là tình

Thiên Chúa nằm trong máng cỏ bỏ bức khăn đơn.

Bêlem từ cổ điển đến hiện đại

Bấy lâu, hang đá Bêlem do giáo đường, nhà nguyện, quán tiệm, thương xá, tư gia trưng bày theo quy cách phổ biến như sau:

* Ngoài hang thường là tuyết (giả) phủ trắng, treo ngôi sao lấp lánh trên cao, thêm các dòng chữ như Merry Christmas / Joyeux Noël / 聖誕快樂 / Giáng sinh vui vẻ.

* Trong hang gồm bộ tượng Giáng sinh đơn hoặc kép. Bộ tượng đơn thường gồm Chúa hài đồng, Maria, Giuse; lắm khi thêm bò, lừa; có trường hợp chỉ một mình Giêsu. Bộ tượng kép gồm Chúa hài đồng, Maria, Giuse, bò, lừa, 3 vị vua hoặc 3 đạo sĩ; lắm khi thêm mục tử, thiên thần, v.v.

Hang Bêlem. Ảnh: Phanxipăng

Tượng Chúa hài đồng cũng nhiều dạng: bọc tã, mặc áo liền quần, đắp chăn mền. Maria và Giuse thì tư thế khác nhau: cùng quỳ, cùng đứng, hoặc kẻ đứng với người quỳ, v.v. Những tượng đó có kích cỡ từ bé tí xíu đến khổng lồ, được tạo tác bằng muôn chất liệu: đất sét, thạch cao, gốm, sành, sứ, thuỷ tinh, gỗ, nhôm, đồng, đá, v.v. Trong lẫn ngoài hang được gắn các bóng điện màu nhằm phát ánh sáng tuỳ ý.

Thời hiện đại, mô hình tái hiện Chúa Giêsu chào đời đã được cách điệu triệt để, ước lệ tối đa. Không còn hang đá Bêlem mà là quả trứng, chòi cỏ, liếp tranh, hoặc túp lều lợp lá cọ hay lá dừa, hoặc nhà sàn ở khu vực nhiệt đới nên chẳng thấy tuyết. Với xu hướng dân tộc hoá và địa phương hoá, Chúa hài đồng cùng Maria và Giuse mang hình hài Việt Nam, trang phục Việt Nam. Máng cỏ chuyển thành dung vải, hoặc cánh võng, hoặc chiếc nôi tre, hoặc lớp rơm rạ.

Nhà Bêlem được Việt hoá. Ảnh: Phanxipăng

Đã thấy những bộ tượng Giáng sinh bằng gỗ tạc, mây đan, len bện, hoặc vải kết có nhân dạng vô cùng đơn giản, mang tính tượng trưng.

Ngày nay, vui lễ Noël, nếu không gian chật hẹp thì chỉ cần mảnh ván hình trái tim, chiếc hộp lập phương hay trụ tròn xoay, đôi vỏ sò gắn chặt vào nhau, v.v., cũng đủ trang trí thành vật thể xinh xắn để đặt bộ tượng Giáng sinh. ♥

Đôi mảnh vỏ sò cùng ít cát trắng đủ trở nên chốn xinh xắn để đặt bộ tượng Giáng sinh. Ảnh: Phanxipăng

_________________

(1)   Giêsu Kitô được tiếng Pháp ghi Jésus-Christ, tiếng Anh ghi Jesus Christ, tiếng Hoa ghi 耶穌基督 mà âm Hán-Việt phát Gia Tô Cơ Đốc.

(2)   Còn được ghi Mát-thêu và Ma-thi-ơ; tiếng Pháp: Matthieu; tiếng Anh: Matthew; tiếng Hoa: 馬太 mà âm Hán-Việt phát Mã Thái; viết tắt Mt.

(3)   Còn được ghi Maria; tiếng Pháp: Marie; tiếng Anh: Mary; tiếng Hoa: 馬利亞 mà âm Hán-Việt phát Mã Lợi Á.

(4)   Còn được ghi Lu-ca; tiếng Pháp: Luc; tiếng Anh: Luke; tiếng Hoa: 路加 mà âm Hán-Việt phát Lộ Gia; viết tắt Lc.

(5)   Tiếng Pháp lẫn tiếng Anh: Joseph; tiếng Hoa: 若瑟 mà âm Hán-Việt phát Nhược Sắt.

(6)   Tiếng Pháp lẫn tiếng Anh: Nazareth; tiếng Hoa: 拿撒勒 mà âm Hán-Việt phát Nã Tát Lặc.

(7)   Tiếng Pháp: Basilique de la Nativité; tiếng Anh: Church of the Nativity.

(8)   Tiếng Pháp: Place de la Crèche; tiếng Anh: Manger Square.

(9)   Tiếng Pháp: Saint Crypte; tiếng Anh: Holy Crypt.

(10)  Tiểu sử thánh Phanxicô Assisi.

(11)  Tiếng Pháp: François d’Assise; tiếng Anh: Francis of Assis; tiếng Ý: Francesco d’Assisi; tiếng Hoa: 亞西西的方濟各 mà âm Hán-Việt phát Á Tây Tây Đích Phương Tế Các. Phanxicô Assisi được Giáo hoàng Gregory IX phong thánh ngày 16-7-1228.

Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 865 (21-12-2009)

Read Full Post »

Điểm thơ Lưu Trường Khanh (II)

Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên

Nghiêm Sĩ Nguyên gốc đất Ngô, làm viên ngoại lang, là đối tượng khiến Lưu Trường Khanh sáng tác bài thơ Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên / 別嚴士元. Tác phẩm này còn mang các tiêu đề khác: Tống Nghiêm Sĩ Nguyên, Tống Nghiêm viên ngoại, Tặng biệt Nghiêm Sĩ Nguyên, Ngô Trung tặng biệt Nghiêm Sĩ Nguyên. Có tài liệu lại ghi rằng tiêu đề bài thơ này là Tống Lang Sỹ Nguyên với tác giả Lý Gia Hựu.

Tập 1 Toàn Đường thi (Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1986) in:

春風倚棹闔閭城
水國春寒陰復晴
細雨濕衣看不見
閒花落地聽無聲
日斜江上孤帆影
草綠湖南萬里情
東道若逢相識問
青袍今已誤儒生

Phiên âm:

Xuân phong ỷ trạo Hạp Lư thành,

Thuỷ quốc xuân hàn âm phục tình.

Tế vũ thấp y khan bất kiến,

Nhàn hoa lạc địa thính vô thanh.

Nhật tà gian thượng cô phàm ảnh,

Thảo lục Hồ Nam vạn lý tình.

Đông Đạo nhược phùng tương thức vấn,

Thanh bào kim nhật ngộ nho sinh.

Đây là bản dịch Tặng biệt Nghiêm Sĩ Nguyên do Bùi Khánh Đản thực hiện năm 1958:

Gác mái chèo xuân bến Hạp thành,

Lạnh lùng thuỷ quốc khí xuân thanh.

Không nghe hoa rụng rơi đầy đất,

Nào thấy mưa bay thấm ướt mình.

Trên nước buồm chiều giong một lá,

Bên hồ cỏ biếc gợi muôn tình.

Ai về Đông Đạo cho ta nhắn,

Đã lỡ nhà nho bởi chút danh.

Đây là bản dịch Chia tay tặng Nghiêm Sĩ Nguyên do Lê Nguyễn Lưu thực hiện năm 1990:

Gió xuân thành Hạp chống thuyền qua,

Lạnh lẽo sông xuân tỏ lại nhòa.

Mưa nhỏ mơ hồ vương ướt áo,

Đất đầy êm ái nhẹ rơi hoa.

Nắng tà trên nước buồm đơn chiếc,

Cỏ biếc nam ao nỗi cách xa.

Bạn cũ miền đông ai gặp hỏi:

Áo xanh lầm lỡ kiếp nho ta!

Và đây, bản dịch Tiễn Nghiêm Sĩ Nguyên do Nguyễn Tôn Nhan thực hiện năm 2007:

Gió xuân thành Hạp mái chèo đưa,

Lạnh buốt sông xuân nước tỏ mờ.

Mưa thưa ướt áo nào đâu biết,

Hoa rụng không vang một tiếng hờ.

Chiều tà sông nước buồn ghê gớm,

Cỏ biếc Hồ Nam vạn dặm lưa.

Nếu may có gặp người đâu đó,

Một kiếp nho sinh đã lỡ chưa?

Ba bản dịch trên giữ nguyên thể. Còn đây là bản dịch Tặng Nghiêm Sĩ Nguyên lúc chia tay do Đoàn Thuận chuyển sang lục bát năm 2007:

Gió nương chèo đến Hạp Lư,

Nước miền xuân lạnh thực hư tỏ mờ.

Mưa phùn ướt áo đâu ngờ,

Không nghe hoa rụng xuống bờ thong dong.

Chiều nghiêng buồm lẻ trên sông,

Hồ Nam cỏ biếc tình trong dặm dài.

Đường Đông nhắn: nếu gặp ai,

Áo xanh nay đã lỡ đời nho sinh.

Bài thơ “Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên” trong sách “Toàn Đường thi” (Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1986). Ảnh: Nguyễn Tôn Nhan

Thành Cô Tô còn được gọi thành Hạp Lư bởi vua Hạp Lư sai Ngũ Tử Tư dựng ở nước Ngô thời Xuân Thu vào năm 514 trước Công nguyên, nay thuộc huyện Ngô Môn, tỉnh Giang Tô.

Bài Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên của Lưu có thể giúp tao nhân mặc khách liên tưởng một số áng thơ Đường cùng chủ đề tống biệt, như bài Nam hành biệt đệ (Tiễn em đi nam) của Vi Thừa Khánh và Phù Dung lâu tống Tân Tiệm (Trên lầu Phù Dung, chia tay Tân Tiệm) của Vương Xương Linh.

Gặp gỡ

Những người có nhiều lần chia tay, chắc chắn trải lắm phen gặp gỡ. Bài thơ Mục Lăng Quan bắc phùng nhân quy Ngư Dương của Lưu Trường Khanh hình thành từ một cuộc kỳ ngộ:

Phùng quân Mục Lăng lộ,

Thất mã hướng Tang Càn.

Sở quốc thương sơn cổ,

U Châu bạch nhật hàn.

Thành trì bách chiến hậu,

Kỳ cựu kỷ gia tàn.

Xứ xứ bồng hao biến,

Quy nhân yểm lệ khan.

Bản dịch Phía bắc ải Mục Lăng, gặp người trở về Ngư Dương của Kim Thố Ty:

Gặp nhau ngoài Mục Lăng Quan,

Một con ngựa hướng Tang Càng lẻ loi.

Núi xanh đất Sở hôm xưa,

U Châu trở lại ngày chưa hết hàn.

Trải qua cuộc chiến nguy nan,

Thành trì sụp đổ, nhà tan nát rồi.

Khắp nơi ngải cú đâm chồi,

Người về nuốt lệ bồi hồi tủi đau.

Ngư Dương là thành ở U Châu, nay thuộc tỉnh Hà Bắc. Vào triều Đường Huyền Tông, An Lộc Sơn được phong Tiết độ sứ, quản lĩnh quân đội miền đông bắc Trung Hoa trú đóng tại thành Ngư Dương. Sau, An Lộc Sơn nổi loạn, đánh chiếm Trường An, buộc Đường Huyền Tông phải rời kinh đô để chạy vào Tứ Xuyên.

Bài thơ Bích Giản biệt thự hỉ Hoàng Phủ thị ngự tương phỏng của Lưu Trường Khanh dồn nén tâm trạng:

Hoang thôn đới vãn chiếu,

Lạc diệp loạn phân phân.

Cổ lộ vô hành khách,

Không sơn độc kiến quân.

Dã kiều kinh vũ đoạn,

Giản thuỷ hướng điền phân.

Bất vị liên đồng bệnh,

Hà nhân đáo bạch vân.

Bản dịch Mừng gặp quan thị ngự Hoàng Phủ thăm nhà riêng bên khe Bích Giản của Phanxipăng:

Nắng chiều soi thôn vắng,

Lá vàng tơi bời sa.

Lối xưa không kẻ bước,

Chợt thấy người hiện ra.

Chiếc cầu thô đã gãy,

Nước khe vụt vỡ oà.

Nếu chẳng vì đồng bệnh,

Ai lặn lội chốn xa?

Tranh vẽ Lưu Trường Khanh với bài thơ “Phùng tuyết, túc Phù Dung sơn chủ nhân”

Lưu Trường Khanh cũng bật thi hứng khi gặp tuyết rơi, bởi tránh tuyết thì gặp người. Bài thơ Phùng tuyết, túc Phù Dung quán chủ nhân chỉ bốn dòng:

Nhật mộ Thương sơn viễn,

Thiên hàn bạch ốc bần.

Sài môn văn khuyển phệ,

Phong tuyết dạ quy nhân.

Bản dịch Gặp tuyết, trọ lại nhà chủ nhân Phù Dung quán của Lê Nguyễn Lưu:

Chiều hôm hòn núi thẳm

Trời lạnh mái tranh nghèo

Chó sủa đâu ngoài ngõ

Người về đêm tuyết theo.

Có tài liệu ghi nhan đề bài thơ này là Phùng tuyết, túc Phù Dung sơn chủ nhân / Gặp tuyết, trọ lại nhà chủ núi Phù Dung. Núi Phù Dung và núi Thương đều ở huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây.

Bài thơ Tầm Nam Khê Thường đạo sĩ ghi lại một chuyến đi của Lưu Trường Khanh:

Nhất lộ kinh hành xứ,

Môi đài kiến kịch ngân.

Bạch vân y tình chử,

Phương thảo bế nhàn môn.

Quá vũ khan tùng sắc,

Tuỳ sơn đáo thuỷ nguyên.

Khê hoa dữ thiền ý,

Tương đối diệc vong ngôn.

Bản dịch Tìm Thường đạo sĩ ở Nam Khê của Trần Trọng Kim:

Con đường đi lại đã quen,

Trên rêu, dấu guốc thấy in rành rành.

Bãi êm mây trắng bao quanh,

Cửa vào che kín, cỏ xanh mịt mùng.

Mưa xong ngắm vẻ cây tùng,

Theo đường núi đến chỗ cùng thuỷ nguyên.

Hoa khe, thiền ý, đôi bên,

Trông nhau đứng sững cũng quên ngỏ lời.

Bút lực tài hoa

Sách báo xưa nay vẫn ngợi khen Lưu Trường Khanh giỏi thơ ngũ ngôn. Thật ra, Lưu thi sĩ còn chứng tỏ bút lực tài hoa qua một số thể thơ khác. Như bài Vô đề được Lưu gieo rất đúng niêm luật lục ngôn:

Tình xuyên vĩnh lộ hà cực,

Lạc nhật cô chu giải huề.

Điểu hướng bình vu viễn cận,

Nhân tuỳ lưu thuỷ đông tê.

Bạch vân thiên lý vạn lý,

Minh nguyệt tiền khê hậu khê.

Trù trướng Trường Sa trích khứ,

Giang đàm phương thảo thê thê.

Bản dịch Vô đề của Trần Trọng Kim:

Đường dài sông lặng xa tít,

Ác lặn, chiếc thuyền nhổ neo.

Xa gần chim tới hoang dã,

Đông tây nước chảy thuận chèo.

Mây trắng nghìn muôn dặm thẳm,

Trăng sáng trước sau khe reo.

Buồn bã Trường Sa bị trích,

Sông đầm cây cỏ xanh lèo.

Lưu ý thêm rằng cùng với mảng tống biệt, thơ Lưu còn phản ánh nhiều đề tài khác bằng các thể thơ khác. Chẳng hạn bài Vương Chiêu Quân ca với thể cổ phong nhạc phủ:

Tự căng kiều diễm sắc,
Bất cố đan thanh nhân.

Na tri phấn hội năng tương phụ,
Khước sử dung hoa phiên ngộ thân.
Thượng mã từ quân giá kiêu Lỗ,
Ngọc nhan đối nhân đề bất ngữ.
Bắc phong nhạn cấp phù vân thu,
Vạn lý độc kiến Hoàng Hà lưu.
Tiêm yêu bất phục Hán cung sủng,
Song nga trường hướng Hồ thiên sầu.
Tì bà huyền trung khổ điệu đa,
Tiêu tiêu Khương địch thanh tương hòa.
Thùy liên nhất khúc truyền nhạc phủ,
Năng sử thiên thu thương ỷ la.

Bản dịch Khúc ca Vương Chiêu Quân của Nguyễn Tôn Nhan:

Tiếc thay thân kiều diễm,

Không đoái người vẽ tranh.

Nào ngờ phấn son khéo phụ bạc,

Để khiến dung nhan thêm lỡ làng.

Lên ngựa chia tay, theo giặc dữ,

Mắt ngọc nhìn nhau khóc xa xứ.

Gió bắc cuốn, nhạn bay, mây ngàn nơi,

Muôn dặm Hoàng Hà nước chảy xuôi.

Eo thon không về cung Hán nữa,

Mày ngài ngóng đất Hồ sầu hoài.

Mãi mãi tì bà buông bi ai,

Vi vu hồn ru sáo rợ rên dài.

Nào vương một khúc nhạc phủ nọ,

Ngàn thu gấm lụa khóc vì ai.

Vương Chiêu Quân có họ tên Vương Tường – một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa – được quá nhiều văn nghệ sĩ thuộc nhiều thời đại ở nhiều nước đề cập qua thơ, văn, nhạc, tranh vẽ, phù điêu, tượng tròn, kịch, phim điện ảnh & truyền hình. Tạm liệt kê rất thiếu sót một số thi sĩ:  * Trung Hoa: Ngô Quân, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương An Thạch, Bạch Cư Dị, Lưu Trường Khanh, Lưu Vũ Tích, Thôi Quốc Phụ, Lý Thương Ẩn, Trương Nguyên Cán, Lý Viện, Lý Thiệp, Phùng Tiểu Thanh, v.v. * Việt Nam: Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hồ Dzếnh, Hoàng Cầm, Phạm Huy Thông, Thái Can, Ngân Giang, Bế Kiến Quốc, Đoàn Thị Lam Luyến, v.v. Tượng đá Vương Chiêu Quân tại khu lăng mộ nàng ở TP Hô Hoà Hạo Đặc / Hồi Hột / Hohhot, Nội Mông. Ảnh: Binh Nguyên

Vương Chiêu Quân có họ tên Vương Tường – một trong tứ đại mỹ nhân của Trung Hoa – được quá nhiều văn nghệ sĩ thuộc nhiều thời đại ở nhiều nước đề cập qua thơ, văn, nhạc, tranh vẽ, phù điêu, tượng tròn, kịch, phim điện ảnh & truyền hình. Tạm liệt kê rất thiếu sót một số thi sĩ:
* Trung Hoa: Ngô Quân, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Vương An Thạch, Bạch Cư Dị, Lưu Trường Khanh, Lưu Vũ Tích, Thôi Quốc Phụ, Lý Thương Ẩn, Trương Nguyên Cán, Lý Viện, Lý Thiệp, Phùng Tiểu Thanh, v.v.
* Việt Nam: Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Hồ Dzếnh, Hoàng Cầm, Phạm Huy Thông, Thái Can, Ngân Giang, Bế Kiến Quốc, Đoàn Thị Lam Luyến, v.v.
Tượng đá Vương Chiêu Quân tại khu lăng mộ nàng ở TP Hô Hoà Hạo Đặc / Hồi Hột / Hohhot, Nội Mông. Ảnh: Binh Nguyên

Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú, thất ngôn trường thiên cũng được Lưu Trường Khanh sử dụng điêu luyện. Có thể nêu bài Đăng Ngô cổ thành ca gồm 22 dòng. Bài Tự Hạ Khẩu chí Anh Vũ châu vọng Nhạc Dương ký Nguyên trung thừa là một ví dụ khác:

Đinh châu vô lãng phục vô yên,

Sở khách tương tư ích diểu nhiên.

Hán Khẩu tịch dương tà độ điểu,

Động Đình thu thuỷ viễn liên thiên.

Cô thành bội lĩnh hàn xuy giốc,

Độc thụ lâm giang dạ bạc thuyền.

Giả Nghị thướng thư ưu Hán thất,

Trường Sa trích khứ cổ kim liên.

Bản dịch Từ Hạ Khẩu đến bãi Anh Vũ, trông sang Nhạc Dương, gửi trung thừa họ Nguyên của Nguyễn Bích Ngô:

Sóng sông không vỗ, khói không bay,

Lòng nhớ ai mà nhớ chẳng khuây.

Hán Khẩu bóng tà chim ghé cánh,

Động Đình thu tới nước liền mây.

Tù và rét nổi thành bên núi,

Thuyền khách đêm neo bãi một cây.

Giả Nghị dâng thơ lo nghiệp Hán,

Trường Sa thương mãi cảnh đi đày.

Hoặc bài Quá Trịnh Sơn Nhân sở cư của Lưu:

Tịch tịch cô oanh đề hạnh viên,

Liêu liêu nhất khuyển phệ đào nguyên.

Lạc hoa phương thảo vô tầm xứ,

Vạn hác thiên phong độc bế môn.

Bản dịch Qua nhà ở của Trịnh Sơn Nhân của Bùi Khánh Đản:

Một chiếc oanh ca vườn hạnh vắng,

Nguồn đào chó sủa vẳng xa xa.

Cỏ thơm, hoa rụng, tìm đâu thấy,

Vạn suối nghìn non chắn lối qua.

Thấm đượm nỗi sầu thân thế, thơ Lưu Trường Khanh chất chứa cảm khái thâm trầm. Hoàng Phủ Thực từng than: “Ta làm thơ suốt đời mà chưa được câu nào như của Lưu Văn Phòng”.

Xét giai đoạn cuối thời Thịnh Đường, theo khá đông khách văn chương nhiều thế hệ, thơ Lưu Trường Khanh xứng đáng dẫn đầu. ♥

Phanxipăng

Đã đăng Tài Hoa Trẻ 738 (21-12-2011)

Read Full Post »

Điểm thơ Lưu Trường Khanh (I)

Báo Tuổi Trẻ thứ năm 21-6-2007 đăng bài Đề thi văn tốt nghiệp THPT ở Trung Quốc: đề tài lạ, dư luận khen do Lê Nga Linh viết. Bài ấy ghi rằng đề tập làm văn kỳ thi tú tài tại Bắc Kinh mùa hè 2007 sử dụng hai dòng trích từ áng thơ Biệt nghiêm sĩ Nguyên của Lý Trường Khanh, thi sĩ đời Đường. Kỳ thực, đó là áng thơ Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên của Lưu Trường Khanh.

L

ưu Trường Khanh / Liú​​​ Chángqīng ​​/ Liúzhǎngqīng ​​/ 劉長卿 (709 – 780) tự Văn Phòng, là người huyện Hà Gian, tỉnh Hà Bắc, Trung Hoa. Năm Quý Dậu 733, niên hiệu Khai Nguyên XXI, triều vua Đường Huyền Tông / Đường Minh Hoàng, Lưu Trường Khanh thi đỗ tiến sĩ. Đến triều vua Đường Đức Tông, Lưu làm Giám sát ngự sử kiểm hiệu từ bộ viên ngoại lang, rồi Chuyển vận sứ phán quan. Tính tình cương trực khiến Lưu bị vu cáo, bị giam trong ngục Cô Tô, bị biếm làm chức uý ở Nam Ba, Phàn Châu. Sau, Lưu Trường Khanh được đổi làm Tư mã Mục Châu, rốt cùng làm Thứ sử Tuỳ Châu.

Dẫu đời sống chịu muôn gập ghềnh trúc trắc, song tài năng thi ca của Lưu Trường Khanh vẫn lung linh triển chuyển làm xao động lòng người. Sở trường thể ngũ ngôn luật nên Lưu được văn giới gọi bằng biệt hiệu Ngũ Ngôn Trường Thành. Đề cập nhiều lĩnh vực, song nổi bật nhất trong thơ Lưu là mảng tống biệt, gửi gắm bao tình cảm bùi ngùi.

Lưu Trường Khanh / Liú Chángqīng / 劉長卿 (709 – 780)

Đáp ứng yêu cầu của quý bạn đọc, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ của Lưu Trường Khanh với bản phiên âm cùng bản Việt ngữ của nhiều dịch giả.

Ngũ Ngôn Trường Thành

“Thơ ngũ ngôn của Lưu như bức thành dài dằng dặc”. Quyền Đức Dư phát biểu lời khen ấy, tạo nên biệt hiệu Ngũ Ngôn Trường Thành cho Lưu Trường Khanh. Hãy đọc bài ngũ ngôn tuyệt cú Đàn cầm của Lưu:

Linh linh thất huyền thượng,

   Tĩnh thính tùng phong hàn.

   Cổ điệu tuy tự ái,

   Kim nhân đa bất đàn.

Bản dịch Gảy đàn của Trần Trọng San:

Bảy dây đàn lạnh lẽo,

   Nghe thoảng gió thông vang.

   Điệu cổ tuy mình thích,

   Người nay ít thấy đàn.

Bài thơ “Đàn cầm” của Lưu Trường Khanh được Trần Chí Hoành thể hiện thư pháp trên quạt năm 2003

Theo sách Uyên giám thì thấy chim phượng hoàng đậu mãi trên cội ngô đồng nên vua Phục Hy cho đẵn cây rồi chế ra đàn cầm, còn gọi điêu cầm. Bài thơ này đề cập đến cây đàn cầm 7 dây: cung, thương, giốc, chuỷ, vũ, văn, võ. Nhạc cụ nọ có loại 5 dây, loại 16 dây, loại 36 dây. Vấn đề chẳng phải số lượng dây, mà ở chỗ cây đàn cầm cổ truyền đang đối diện nguy cơ mai một vì thiếu người kế thừa và phát triển. Điều đó gợi nhớ bài ngũ ngôn bát cú U cầm cũng của Lưu Trường Khanh:

Nguyệt sắc mãn hiên bạch,

Cầm thanh nghi dạ lan.

Lưu lưu thanh ti thượng,

Tĩnh thính tùng phong hàn.

Cổ điệu tuy tự ái,

Kim nhân đa bất đàn.

Hướng quân đầu thử khúc,

Sở quý tri âm nan.                                                      

Bản dịch Đàn buồn của Phanxipăng:

Đầy hiên, trăng trắng xoá,

Tiếng đàn thơm đêm lan.

Ngân nga dây tơ mượt,

Gió rét lay thông ngàn.

Ta quý yêu điệu cũ,

Ngày nay hiếm kẻ đàn.

Gảy tặng người khúc nhạc,

Tri âm khó vô vàn. 

Bài thơ Thu nhật đăng Ngô Công đài viễn diểu của Lưu:

Cổ đài dao lạc hậu,

Thu nhập vọng hương tâm.

Dã tự lai nhân thiểu,

Vân phong cách thuỷ thâm.

Tịch dương y cựu luỹ,

Hàn khánh mãn không lâm.

Trù trướng Nam Triều sự,

Trường Giang độc chí câm.

Bản dịch Mùa thu lên đài Ngô Công trông xa của Bùi Khánh Đản:

Cổ đài trong cảnh hoang lương,

Thu sang, vào ngắm nhớ thương quê nhà.

Chùa đồng vắng kẻ lại qua,

Sông sâu, mây núi cách xa đôi đường.

Luỹ xưa dưới bóng tà dương,

Khánh ngân vẳng khắp rừng hoang lạnh lùng,

Nam Triều sự nghiệp buồn không,

Ngày nay còn lại một dòng Trường Giang.

Đài Ngô Công được xây ở tỉnh Giang Tô vào thời Nam Triều, do tướng nhà Trần là Ngô Minh Triệt. Trường Giang còn mang tên Dương Tử, dài 6.211km, là con sông dài nhất châu Á và dài thứ tư thế giới.

Bài thơ Tân niên tác của Lưu Trường Khanh gói ghém lắm nỗi niềm:

Hương tâm tân tuế thiết,

Thiên bạn độc san nhiên.

Lão chí cư nhân hạ,

Xuân quy tại khách tiên.

Lĩnh viên đồng đán mộ,

Giang liễu cộng phong yên.

Dĩ tự Trường Sa phó,

Tòng kim hựu kỷ niên.

Bản dịch Làm vào năm mới của Vương Hải Đà:

Năm mới quê càng nhớ,

Góc trời mắt lệ sa.

Già lê thân quán trọ,

Xuân đến người phương xa.                                                                                                             

Sớm chiều cùng vượn núi,

Sông gió liễu thướt tha.

Khác chi câu truyện cổ,

Còn lại bao năm qua?

Trường Sa / Chángshā / 長沙 / 长沙 nay là thủ phủ tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa. Còn quần đảo Trường Sa của Việt Nam giữa biển Đông thì người Hán gọi Nam Sa / Nanshā / 南沙, người Pháp gọi Spratley, người Anh gọi Spratlys.

Vùng đất Trường Sa ở Hồ Nam gắn liền với Giả Nghị (200 – 168 trước Công nguyên), cây bút mở đầu cho phú đời Hán với các bài tiêu biểu như Bằng điểu phú Điếu Khuất Nguyên phú. Giả Nghị từng được Hán Văn Đế cho làm Bác sĩ, rồi thăng Trung đại phu. Sau khi dâng kế hoạch Trị an xin cải cách chính trị, Giả bị tâu gièm nên bị biếm đi làm Thái phó cho Trường Sa Vương suốt 3 năm. Những tác phẩm của Giả Nghị được hậu thế sưu tập và xuất bản thành bộ Giả Trường Sa tập. Nhà cũ của Giả Nghị còn di tích ở phường Trạc Cẩm, phủ Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Giả Nghị là nhân vật mà Lưu Trường Khanh nhiều phen tưởng nhớ.

Tống biệt

Khá đông khách yêu thơ biết bài Tống Linh Triệt thượng nhân của Lưu Trường Khanh:

Thương thương Trúc Lâm tự,

Diểu diểu chung thanh vãn.

Hà lạp đới tà dương,

Thanh sơn độc quy viễn.

Áng thơ này được khá nhiều người dịch sang Việt ngữ. Đây là bản dịch Đưa tiễn Linh Triệt của Đoàn Thuận:

Trúc Lâm khuất giữa ngàn xanh,

Chuông chùa văng vẳng âm thanh trong chiều.

Ánh tà trên nón liêu xiêu,

Xa xăm núi biếc, quạnh hiu người về.

Trúc Lâm là ngôi chùa toạ lạc tại núi Lư, huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Linh Triệt là pháp hiệu của một tu sĩ Phật giáo. Lại gợi nhớ bài thơ Tống Phương Ngoại thượng nhân của cùng tác giả:

Cô vân tương dã hạc,

Khởi hướng nhân gian trú.

Mạc mãi Ốc Châu sơn,

Thời nhân dĩ tri xứ.

Bản dịch Đưa tiễn vị tăng của Trần Ngọc Hưởng:

Mây đơn theo hạc nội,

Há còn đến ở cõi người?

Ốc Châu, đừng mua núi,

Người đời biết cả rồi.

Ốc Châu là ngọn núi toạ lạc tại huyện Tân Xương, tỉnh Chiết Giang, Trung Hoa. Thời Đông Tấn, ẩn sĩ Chi Độn – nhà sư từng đưa ra mệnh đề Sắc tức vi không, sắc phục dị không (Sắc tức là không, sắc lại khác không) cấu tạo nên lý luận đặc sắc của Tức sắc tông, và cũng là đại biểu nổi tiếng với chủ trương “đốn ngộ” trong Thiền tông – từng thả chim hạc ở núi Ốc Châu. Theo Thế thuyết, đời Tấn Mục Đế, cao tăng Chi Đạo Lâm tu ở chùa Dư Hàng một hôm nói với bạn là Thâm Công: “Quá chán đời ô trọc, nên tớ muốn mua núi Ốc Châu để vào ẩn”. Thâm Công bật cười: “Ông Sào ông Do chưa từng mua núi để đi ẩn bao giờ!”. Vì chuyện nọ, từ mãi sơn (mua núi) được dùng để chỉ người ẩn dật.

Bài thơ Trùng tống Bùi lang trung biếm Cát Châu của Lưu Trường Khanh:

Viên đề khách tản mộ giang đầu,

Nhân tự thương tâm thuỷ tự lưu.

Đồng tác trục thần quân cánh viễn,

Thanh sơn vạn lý nhất cô châu.

Bản dịch Lại tiễn Bùi lang trung bị biếm đi Cát Châu của Lãng Tử:

Sông chiều, vượn hót, khách chia phôi,

Người tự đau lòng, nước tự trôi.

Cùng biếm, sao anh xa cách quá,

Non xanh muôn dặm bóng thuyền côi.

Bài thơ Tống Lưu tú tài lạc đệ quy Giang Nam của Lưu sũng buồn:

Nam khách hoài quy hương mộng tần,

Đông môn trướng biệt liễu điều tân.

Ân cần đấu tửu thành âm mộ,

Đãng dạng cô chu sở thuỷ xuân.

Tương trúc cựu ban tư đế tử,

Giang ly sơ lục oán tao nhân.

Lân quân thử khứ vị đắc ý,

Mạch thượng sầu khan lệ mãn cân.

Bản dịch Tiễn tú tài Lưu thi rớt trở về Giang Nam của Kim Thố Ty:

Mơ ngày trở lại cố hương,
Cửa đông ly biệt liễu dương xanh cành.
Rượu chia tay, bóng tường thành,
Thuyền con một chiếc bồng bềnh trên sông.
Bờ Tương trúc mãi nhớ nhung,
Giang ly mới chớm xanh hờn khách thơ.
Thương anh thi rớt, thẩn thờ,
Khăn tay ướt đẫm lệ mờ nhìn theo.

Bài thơ Tiễn biệt Vương thập nhất Nam du của Lưu:

Vọng quân yên thủy khoát,
Huy thủ lệ triêm cân.
Phi điểu một hà xứ,
Thanh sơn không hướng nhân.
Trường Giang nhất phàm viễn,
Lạc nhật Ngũ Hồ xuân.
Thùy kiến đình châu thượng,
Tương tư sầu bạch tần.

Vương là họ. Thập nhất là chức danh. Thật buồn cười khi có sách chuyển ngữ nhan đề bài thơ thành Tiễn bác mười một họ Vương đi chơi Nam. Một số trường hợp vô tình hoặc cố ý không biết Trường Giang và Ngũ Hồ là thuỷ danh nữa!

Bản dịch Tiễn biệt Vương thập nhất đi chơi phương Nam của Bùi Khánh Đản:

Ông nơi khói nước mông mênh,

Giơ tay lên vẫy mà mình lệ rơi.

Chim bay mù mịt phương trời,

Núi xanh gần mãi với ai lên đường.

Cánh buồm xa tít Trường Giang,

Ngũ Hồ chiều lộng nước gương một màu.

Kìa ai trên bãi sông sâu,

Càng như gợi nhớ trông rau bạch tần.

Tiễn biệt Vương thập nhất Nam du / Tiễn biệt Vương thập nhất đi chơi phương Nam

Tiễn biệt Vương thập nhất Nam du / Tiễn biệt Vương thập nhất đi chơi phương Nam

Bài Tống Nghiêm thị ngự sung đông kỳ quan sát phán quan của Lưu nhoẻn khoé cười rướm lệ:

Lạc Dương chinh chiến hậu,

Quân khứ vẫn điêu tàn.

Vân nguyệt lâm nam chí,

Phong sương hướng bắc hàn.

Cổ viên kinh loạn cửu,

Cô mộc cách lâm khan.

Thuỳ phỏng giang thành khách,

Niên niên thủ nhất quan.

Bản dịch Tiễn quan thị ngự họ Nghiêm sang đất đông giữ chức quan sát phán quan của Nguyễn Tôn Nhan:

Lạc Dương chinh chiến hết,

Bạn đi thăm điêu tàn.

Mây nổi về nam cả,

Gió sương lạnh bắc tràn.

Vườn xưa tan tành quá,

Cây cỏ vắng rừng hoang.

Ai đoái thương khách cũ,

Suốt đời một chức quan.

Nghiêm thị ngự có họ tên Nghiêm Duy, bạn thân của Lưu thi sĩ.

Trong mảng thơ tống biệt của Lưu Trường Khanh, bài Biệt Nghiêm Sĩ Nguyên là một tác phẩm đáng chú ý.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Độc đáo mì ăn liền

Đến nay, khắp thế giới, rất đông người quá quen thuộc mì ăn liền (1). Đó là thức ăn nhanh, ngon, gọn, rẻ, dễ vận chuyển, dự trữ thuận tiện. Nhưng, bạn có biết mặt hàng ngỡ chừng đơn giản ấy của ngành công nghệ thực phẩm vốn ra đời ở đâu, bao giờ, và từng trải qua đường đi nước bước thế nào chăng? Mì ăn liền xuất hiện tại Việt Nam năm mấy, đã phát triển ra sao?

      

Mì ăn liền. Ảnh: Carstor

Một phát minh giữa thế kỷ XX

Thiên hạ đều biết mì sợi được chế biến từ hạt lúa mì và lúa mạch (tiểu mạch và kiều mạch) tít tận thời cổ đại tại Trung Hoa. Ở châu Âu, người Ý lại tự hào với món mì ống cổ truyền spaghetti thường dọn khai vị. Đương nhiên, spaghetti đích thị “hậu duệ” của mì sợi Trung Hoa. Sử sách còn ghi nhận sự kiện nhà thám hiểm Marco Polo (1254 – 1324) sau chuyến du hành phương Đông, đã đem món mì sợi Trung Hoa về giới thiệu tại Ý và dân Ý phỏng theo để tạo nên mì ống. Rồi cách đây cỡ hai thế kỷ, người Ý qua Hoa Kỳ lập nghiệp, đưa theo cả nghề làm mì đặc sản. Chẳng bao lâu, mì ống của Ý lẫn mì sợi của Trung Hoa dần phổ biến tại nhiều quốc gia với lắm kiểu dáng. Riêng tính spaghetti đã có hơn 300 dạng khác nhau. Dù kiểu dáng gì, cả hai loại mì vừa kể thường được dùng tươi. Nghĩa là sau khi mì ra lò trong một thời gian ngắn, phải đun nấu chiên xào mà xơi, chứ mì để lâu thì hỏng. Muốn bảo quản nhiều ngày, mì được phơi sấy khô, và khi cần ăn cũng phải lỉnh kỉnh củi lửa soong nồi khá mất công.

Vậy có cách gì khi nằm ở nhà riêng, thậm chí lúc lang thang tận góc bể chân trời quạnh vắng, chỉ cần ngụm nước sôi là ngay lập tức, xuất hiện tô mì bốc khói giúp ta thưởng thức ngon lành?

Đó là suy nghĩ độc đáo của 安藤百福 / Andō Momofuku / An Đằng Bách Phúc (2). Nhân vật Nhật Bản gốc Trung Hoa này mày mò thử nghiệm: hấp chín ramen / mì sợi tươi, sau đó chiên (rán) giòn, đoạn cho vào thạp đậy kín, bao giờ thích thì vốc nắm mì và thả vô tô, châm nước sôi, nêm gia vị, lát sau có thể chén tì tì. Sau nhiều thử nghiệm, An Đằng Bách Phúc chính thức cho ra đời sản phẩm mì ăn liền lần đầu tiên vào ngày 25-8-1958.

安藤百福 / Andō Momofuku / An Đằng Bách Phúc (1910 -2007) – người sáng tạo mì ăn liền

Cái phát minh sáng chế tưởng dễ dàng và đơn giản kia thực sự tạo bước ngoặt lớn đối với ngành công nghệ thực phẩm, đầu tiên dĩ nhiên tại xứ sở hoa anh đào. Quy trình sản xuất mì ăn liền liên tục được đầu tư nghiên cứu cải tiến nhằm nâng cao chất lượng thành phẩm, đồng thời hạ thấp giá bán. Vậy mà có lúc, có nơi, mì ăn liền trở thành hàng khan hiếm!

Giải thích sự thành công vượt bậc của mì ăn liền ắt không khó. Sản phẩm này ra đời đúng giai đoạn mà thức ăn nhanh (3) ngày một trở thành nhu cầu phổ biến trong xã hội công nghiệp, con người rất ngại mất thời gian. Nó lại đáp ứng kịp thời “miếng khi đói” cho bao đối tượng lâm cảnh ngặt nghèo như thiên tai hay chiến sự.

Có gì trong mỗi gói mì?

Theo quy chuẩn quốc tế, mỗi gói mì ăn liền thông thường nặng 75 gam khối lượng tịnh – tức thành phẩm được cân không tính bao bì, thường ghi tắt bằng tiếng Anh là Net Wt (4). Cứ 30 gói thì xếp chung vào thùng bìa cứng (5).

Trong mỗi gói có một khối mì sợi được đóng hình chữ nhật, hình vuông, hình tròn, hoặc hình elip tùy hãng sản xuất. Kèm theo là túi bột nêm be bé. Ngoài ra, có thể còn thêm túi chứa ít dầu (thường là dầu mè / dầu vừng), cùng túi chứa dăm mẩu rau gia vị sấy khô (thường là hành hoa thái vụn). Cho tất cả các thứ vào tô, chế nước sôi vừa đủ (cỡ 400cc), đậy kín chừng 3 phút, sau đó hể hả xơi.

Từng khối mì như vừa nêu thường được cấu tạo bởi 79 sợi mì, mỗi sợi dài 65cm. Nếu khéo léo kết nối với nhau thì mỗi gói sẽ cung ứng một sợi mì dài 51m. Độ dài này sẽ tăng vọt nhiều lần khi sợi mì ngấm nước và trương nở.

Trong một gói mì ăn liền. Ảnh: Phúc Đường

Mỗi gói mì ăn liền đạt giá trị dinh dưỡng ra sao? Bình quân, nó cung cấp 300 ~ 350kcal, với 6 ~ 7 gam chất đạm, 12 gam chất béo và 50 gam carbohydrate. Quả là một cơ cấu dinh dưỡng thiếu hoàn chỉnh. Do đó, sách báo vẫn khuyến cáo mọi người chớ liên tục dùng mì ăn liền. Nếu dùng, cần lưu ý mấy điều:

1. Chỉ nên ăn tạm khi vội.

2. Gặp trường hợp phải dùng thường xuyên một thời gian, cần tìm cách bồi dưỡng thêm mỗi ngày ít nhất 100 gam thịt cá và 250 gam rau quả tươi.

3. Những bệnh nhân đường tiêu hóa cùng những người có tạng biếng ăn, tốt nhất nên tránh hẳn hoặc thỉnh thoảng mới dùng mì ăn liền.

Tuy nhiên, cần khẳng định rằng mì ăn liền đã xác lập riêng một khẩu vị đặc trưng mà thức khác rất khó thay thế nổi, dù đó là mì sợi Trung Hoa hay mì ống spaghetti Ý Đại Lợi. Quan trọng nhất là người tiêu dùng cần xem kỹ hạn sử dụng được in trên gói mì ăn liền trước khi sử dụng. Với điều kiện bình thường, kể từ thời điểm ra lò, mì ăn liền chỉ bảo quản được trong vòng 5 tháng.

Mì ăn liền Việt Nam

Mì ăn liền hiện hữu tại Việt Nam bao giờ? Mặc dù khởi phát từ Nhật Bản, song những gói mì ăn liền lần đầu nhập cảng vào miền Nam nước ta lại đóng “mác” Taiwan (Đài Loan). Ấy là năm 1971.

Sơ khởi, mì ăn liền mang thương hiệu Sam Hoa chào hàng, liền được cư dân tại các đô thị Sài Gòn, Cần Thơ, Biên Hòa, Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Lạt, Đà Nẵng, Huế thích thú đón nhận. Nhanh nhạy nắm bắt nhu cầu do thực tế đặt ra, hàng loạt doanh nghiệp gấp rút trang bị máy móc, huấn luyện công nhân, mở nhà sản xuất mì ăn liền. Những tên tuổi đi tiên phong trong lĩnh vực này ở miền Nam thuở bấy giờ: Thiên Hương, Bình Tây, Vifon, Lubico, Safoco. Ngay từ đầu, mì ăn liền “made in Vietnam” đã đạt chất lượng cao, mẫu mã bắt mắt, không chỉ thỏa mãn khả năng tiêu thụ nội địa mà còn xuất khẩu một phần.

Mì ăn liền với trứng gà & đuông dừa. Ảnh: Phanxipăng

Năm 1975, Tổ quốc thống nhất. Bà con miền Bắc lúc ấy bắt đầu làm quen và rất chuộng mì ăn liền từ phía Nam đưa ra. Đấy cũng là thời điểm các nhà máy chế biến mì ăn liền chuyển qua công tư hợp doanh, hoặc trở thành công ty quốc doanh. Sau chiến tranh, đất nước gặp bộn bề khó khăn. Bột mì – nguồn nguyên liệu chính để chế biến mì ăn liền – phải trông chờ ngoại viện nên không thể chủ động về phẩm chất, chủng loại lẫn số lượng sản phẩm. Ngay cả giấy bóng kính cũng cạn kiệt, phải thay bằng giấy kraff nhằm làm bao bì. Hầu tiết kiệm giấy kraff, nhiều nhà máy sản xuất mì ăn liền không bao bì, chỉ phân phối từng chục khối mì “trần trùng trục” trong bịch nilon. Mì ăn liền Việt Nam rơi vào giai đoạn yếu kém nhất về nội dung lẫn hình thức, và tình trạng này kéo dài tới thập niên 1980.

Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Thông qua các chuyến tàu viễn dương, một số công ty nông lâm sản xin quota nhập mì ăn liền từ Nhật Bản, Đại Hàn, Hong Kong, Đài Loan, Thái Lan, v.v. Kết quả: mì nội địa bấy giờ bị “nốc ao” thê thảm! Nhưng chính nhờ cú “đo ván” ấy mà ngành công nghệ thực phẩm trong nước bừng tỉnh để tính kế khả thi. Trước tiên, cần nâng cao chất lượng mì ăn liền kết hợp việc cải tiến bao bì.  Một trong những đơn vị sớm đầu tư thực hiện các công đoạn này là Cholimex. Kế đó, Cửa hàng Lương thực quận 5 của TP. HCM mạnh dạn liên kết với nhà máy Vifon tung ra thị trường loại mì ăn liền mang nhãn Miliket. Rồi bao thương hiệu mì ăn liền từng được người tiêu dùng tín nhiệm đã được phục hồi để chia sẻ thị phần: Thiên Hương, Bình Tây, Safoco. Riêng Safoco, sau chuyển tên thành Colusa.

Từ thập niên 1990, việc sản xuất mì ăn liền ở trong nước dần ổn định với quy mô hiện đại, nhất là khi các tập đoàn tầm cỡ của ngoại quốc đến Việt Nam liên doanh. Tập đoàn WeWong của Đài Loan kết hợp với Công ty Lương thực TP. HCM (Foocosa) cho ra đời mì ăn liền chất lượng cao mang các thương hiệu A One, Kung Fu. Nhà máy Vifon cùng Công ty Acecook của Nhật Bản sản xuất mì ăn liền Vifon-Acecook, Good, Phú Hương, Hảo Hảo. Giờ đây, tại nước ta, vô số thương hiệu mì ăn liền khác ạt ào xuất hiện: Vị Hương, Phúc Lộc, Kim Chi, Gấu Đỏ, Vi-ngon, Mivimex, Gomex, Super Unif, v.v. Mỗi thương hiệu lại có lắm chủng loại. Nào hương vị tôm, cua, heo, bò, gà. Nào mì chua cay, mì thập cẩm, mì sa tế, mì chay.

Không dừng lại với sản phẩm mì ăn liền, các hãng còn linh động chế biến thêm phở ăn liền, bún ăn liền, miến ăn liền, cháo ăn liền, hủ tíu ăn liền, bánh canh ăn liền, bánh đa cua ăn liền, v.v., hầu đáp ứng thị hiếu đa dạng, phong phú của muôn “thượng đế”.

Phở ăn liền. Ảnh: Phanxipăng

Khá đông đồng bào Việt Nam ở hải ngoại cho hay rằng mặc dù công nghệ chế biến mì ăn liền đã phát triển cực mạnh tại nhiều quốc gia, song sản phẩm làm tại đất nước hình chữ S lại được khách hàng ưa chuộng hơn. Dễ dàng kiểm chứng lời phát biểu kia bằng cách nếm thử mì ăn liền của Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan, Đài Loan để so sánh. Rõ ràng mì ăn liền của Việt Nam mang hương vị đặc biệt đậm đà. Vì sao? Các hãng sản xuất trong nước luôn dùng nước hầm thịt xương động vật có nêm gia vị và cho ép tẩm trực tiếp vào sợi mì. Lẽ tất nhiên, đây chẳng phải “bí quyết” độc quyền.

Vạn tuế mì ăn liền!

Gặp hoàn cảnh thuận tiện, bạn đừng chế nước sôi như bình thường vẫn làm. Hãy ghé quán phở, tiệm bún bò, hoặc xe hủ tíu, đề nghị người bán chan nước lèo sùng sục vào mì ăn liền, rồi vắt múi chanh, rắc tí tiêu, điểm thêm lát ớt, thả cọng hành ngò. Nào, nếm thử xem. Cam đoan tô mì bỗng “anh hoa phát tiết” chẳng ngờ.

Ngoài kiểu pha chế nước sôi để có tô mì rất thông dụng, các bà nội trợ đảm đang còn nghĩ ra những cách dùng mì ăn liền để tạo các món khoái khẩu. Chẳng hạn trụng sơ mì, đoạn xào cùng thịt bò hoặc thịt heo, tôm, nấm, cải xanh, hành tây, v.v. Mì xào kiểu này, ăn với cơm rất ngon, mà làm mồi đưa cay càng tuyệt.

Mì ăn liền xào mực, tôm, thịt, nấm, cải, cà rốt, su lơ. Ảnh: Phanxipăng

Lắm trường hợp bằng hữu đột ngột hội ngộ, nhỡ lâm cơn trẻ thời đi vắng, chợ thời xa (6), chủ nhà bèn xé phắt gói mì ăn liền. Chả cần nước sôi. Cứ thế, bẻ từng mẩu mì, nhai rùm rụm, cũng đủ để huynh đệ hể hả “cưa đổ” hàng lít rượu bia mà tha hồ hàn huyên. Thậm chí, có tửu đồ phấn khích reo vang:

– Mì ăn liền vạn tuế! ♥

_______________

(1)   Mì ăn liền qua một số ngôn ngữ: tiếng Nhật ghi インスタントラーメン, tiếng Anh – instant noodles, tiếng Pháp – nouilles instantanées, tiếng Tây Ban Nha – fideos instantáneos, tiếng Bồ Đào Nha – macarrão instantâneo, tiếng Na Uy – hurtignudler, tiếng Ba Lan – zupa błyskawiczna, tiếng Nga – лапши быстрого приготовления, tiếng Hoa – 即食麵 được bính âm phát jíshímiàn và âm Hán-Việt phát tức thực miến.

(2)   An Đằng Bách Phúc chào đời ngày 5-3-1910 (Canh Tuất) tại Đài Loan. Năm 1933, An Đằng Bách Phúc di cư đến Nhật. Năm 1948, tại Nhật, An Đằng Bách Phúc sáng lập công ty thực phẩm Nissin. Sau nhiều thử nghiệm, An Đằng Bách Phúc đã “trình làng” sản phẩm mì ăn liền lần đầu tiên ngày 25-8-1958. Suốt thời gian dài, công ty Nissin tìm mọi cách đa dạng hóa mì ăn liền. Một dạng mì ăn liền do An Đằng Bách Phúc tung ra ngày 18-9-1971 được đông đảo người tiêu dùng khen ngợi: đóng sản phẩm trong hộp nhựa. Năm 1973, An Đằng Bách Phúc mở Viện Bảo tàng mì ăn liền tại Osaka – một thành phố công nghiệp trọng yếu ở Nhật Bản. Ngày 5-1-2007 (Bính Tuất), An Đằng Bách Phúc trút hơi thở cuối cùng tại Osaka, hưởng thọ 97 tuổi.

(3)   Fast-food.

(4)   Do cụm từ Net Weight.

(5)   Carton.

(6)   Trích bài thơ Bạn đến chơi nhà của Nguyễn Khuyến (1835 – 1909).

Phanxipăng

Đã đăng các tạp chí:

  • Tài Hoa Trẻ 285 (15-10-2003)
  • Thế Giới Mới 721 (22-1-2007)

Read Full Post »

Older Posts »