Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2012

Với hội xuân núi Bà Đen ở Tây Ninh, lần đầu tiên tôi tham gia vào dịp Nguyên tiêu Ất Hợi 1995. Rằm tháng giêng Canh Dần 2010, tôi lại dự lễ hội tân niên lớn nhất Nam Bộ. Trải 15 năm, phong tục độc đáo kia có những gì thay đổi?

Phóng sự này còn “bật mí” sự vụ rất ít người biết trong chốn được xem linh thiêng nhất non Linh: Điện Bà.

Không ảnh núi Bà Đen

G

iữa tỉnh Tây Ninh khá bằng phẳng, bỗng nổi vọt lên khối hoa cương đồ sộ là núi Bà Đen, còn gọi Điện Bà, Hắc Bà, Bà Đinh, Vân Sơn, Linh Sơn. GS. Lê Bá Thảo nhận định trong sách Thiên nhiên Việt Nam (NXB Khoa Học & Kỹ Thuật, Hà Nội, 1977) rằng núi này “là một dạng địa hình đáng kể”.

Núi có 3 ngọn. 2 ngọn thấp tên Phụng và Heo. Ngọn trội bật tên Bà Đen cao nhất Nam Bộ: 986m. Cũng tại núi này, mỗi tân niên đều diễn ra lễ hội xuân lớn nhất Nam Bộ: trọn tháng giêng âm lịch mà chính hội là dịp Nguyên tiêu.

Núi Bà Đen nhìn từ hồ Dầu Tiếng. Ảnh: Thanh Tiên

2 truyền thuyết

Rằm tháng giêng Ất Hợi 1995, tại trụ sở Hội Văn học nghệ thuật Tây Ninh ở cửa 4 nội ô Toà thánh Cao Đài, nhà văn Xuân Sắc – tác giả tiểu thuyết Kỳ tích Bà Đen từng được đạo diễn Lê Mộng Hoàng dựng thành phim – kể tôi nghe truyền thuyết núi Bà Đen:

– Thuở ấy, núi có tên núi Chung, lại có người gọi núi Một. Ngọn núi kỳ vĩ đã chứng kiến mối tình thuỷ chung của đôi tai trài gái sắc Lê Sĩ Triệt và Lý Thị Thiên Hương. Đất nước bị ngoại xâm. Chàng trai họ Lê tòng quân, ra biên thuỳ, chống giặc. Thiên Hương ở lại, ngày ngày lên núi, kiếm củi mưu sinh, chờ đợi ý trung nhân. Ngờ đâu hôm nọ, trong khi đốn cây, nàng bị rơi vào ổ mai phục của một bầy phàm phu tục tử. Thiên Hương chống cự kịch liệt. Nàng biết võ nghệ, song “mãnh hổ nan địch quần hồ”. Quyết không chịu nhục, Thiên Hương liền gieo mình tuẫn tiết. Tương truyền rằng sau đó, nàng thường hiển linh cứu độ lương dân chẳng may gặp nạn. Từ ấy, núi Chung được gọi là núi Bà Đen, bởi Thiên Hương có nước da ngăm ngăm màu mừng quân. Dân chúng lập miếu thờ Thiên Hương trên núi và gọi là Điện Bà. Đến đời Nguyễn, vua Gia Long sắc phong Lý Thị Thiên Hương là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn còn cho biết: năm Canh Tuất 1850, niên hiệu Tự Đức thứ III, núi Bà được triều đình Huế đổi tên thành Linh Sơn, xem đây là một trong những thắng tích linh thiêng của cả nước và “ghi vào điển thờ”. Năm Tân Tị 1941, niên hiệu Bảo Đại X, nhà vua sắc phong Lý Thị Thiên Hương là Linh Sơn Thánh Mẫu lần nữa.

Truyền thuyết với nhân vật chính Lý Thị Thiên Hương đã được Trương Vĩnh Ký chép vào Chuyện đời xưa (1886), Sơn Nam và Tô Nguyệt Đình chép vào Chuyện xưa tích cũ (1958), Huỳnh Minh chép vào Tây Ninh xưa và nay (1972), v.v.

Núi Bà Đen nhìn từ ngã ba Lâm Vồ. Ảnh: Phanxipăng

Rằm tháng giêng Canh Dần 2010, tại ngã ba Lâm Vồ, nhà báo Nguyễn Hoàng Hoá – nguyên Phó Giám đốc Đài Phát thanh và truyền hình Tây Ninh, hiện đang tham gia sáng lập trường Đại học Khai Minh – cười:

– Phanxipăng rất quan tâm folklore, vậy có biết một truyền thuyết khác về núi Bà Đen không?

Đó là chuyện kể rằng xửa xưa, ông quan nọ người Miên có cô con gái xinh xắn là nàng Đênh. 13 tuổi, nàng nghe một nhà sư Trung Hoa đến thuyết giảng Phật pháp, liền quyết tâm xuất gia. Con trai của quan trấn thủ Trảng Bàng xin cưới nàng. Hai gia đình vui vẻ chọn ngày lành để đôi trẻ nên duyên chồng vợ. Bất ngờ, một đêm khuya, nàng biến mất. Mãi sau, nàng hiển linh, nhập vào xác một cô gái để thuật lại rằng mình đã lén ra đi tầm đạo, nay ơn trên cho nàng cứu độ chúng sinh. Dân chúng sùng kính nàng từ đó, kiêng từ Đênh nên gọi Bà Đen. Bà đã giúp Nguyễn Ánh giai đoạn chạy trốn Tây Sơn. Nguyễn Ánh lên ngôi, thành hoàng đế Gia Long, bày tỏ lòng tri ân bằng cách sắc phong Bà Đen là Linh Sơn Thánh Mẫu và cho đúc “cốt” Bà bằng đồng để thờ.

Cả 2 truyền thuyết tuy gốc gác và triển diễn khác nhau, song hậu kỳ đều quy về 1 mối. Điều đáng quan tâm: cổ vật “cốt” Bà bây giờ ra sao?

Hội xuân lớn nhất Nam Bộ. Ảnh: Phanxipăng

Lễ hội xuân hình thành & tái hoạt

Ở khu vực núi Bà Đen, cùng với Điện Bà thờ Bà, còn có loạt chùa chiền thờ Phật và Bồ Tát do thiền sư Thiệt Diệu (Liễu Quán) khai sơn phá thạch từ năm Ất Sửu 1745 rồi các thế hệ sau kế tục dựng xây, bảo quản, phát triển. Các chùa chính gồm chùa Trung / Linh Sơn Phước Trung, chùa Thượng / Linh Sơn Tiên Thạch, chùa Hang / Linh Sơn Long Châu. Ngoài ra, còn thêm hệ thống am miếu cùng hang động được dùng làm nơi thờ cúng như miếu Ông Tà, hang Ông Hổ, hang Gió, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thanh Long, động Thiên Thai, v.v. Dân chúng thuở xưa thường xuyên hoặc thỉnh thoảng leo núi Bà Đen, ghé Điện Bà và các chùa chiền để niêm hương, cầu tài, cầu duyên, cầu gia đạo, cầu quốc thái dân an. Những ngày 14, rằm, 30, mùng 1 hằng tháng là lúc núi Bà thu hút nhiều con nhang đệ tử.

Nguyên tiêu Tân Sửu 1901, trong hoàn cảnh nước nhà bị thực dân Pháp đô hộ, ái nữ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh tức Nguyễn Thị Ngọc Khuê (1864 – 1922) đã lên viếng núi Bà, ứng tác 2 bài thơ chữ Hán cùng nhan đề Linh Sơn nhất thụ mai và 1 bài thơ chữ Nôm Thưởng bạch mai cảm đề. Bài thơ quốc âm được Sương Nguyệt Anh làm theo lối thủ vĩ ngâm, nguyên tác như sau:

Non Linh đất phước trổ hoa thần,

Riêng chiếm vườn hồng một cảnh xuân.

Tuyết đượm nhành tiên in sắc trắng,

Sương pha bóng nguyệt ánh màu ngân.

Mây lành gió lạnh nương hơi chánh,

Vóc ngọc mình băng bặt khói trần.

Sắc nước hương trời nên cảm mến,

Non Linh đất phước trổ hoa thần.

Từ niên điểm đó, “đi vía” núi Bà vào dịp tân niên trở thành tục lệ. Tuy nhiên, trong giai đoạn chiến tranh, khu vực núi Bà lắm lúc bị chất độc lẫn đạn bom tàn phá nặng nề, người dân hết dám ”đi vía” vì sợ… mất vía! Ví như năm Mậu Thân 1968 và Kỷ Dậu 1969.

Sau khi đất nước thống nhất và hoà bình, cụm di tích lịch sử núi Bà được khôi phục dần kể từ năm 1980. Đến năm 1982, lễ hội xuân nơi đây chính thức tái hoạt. Ngày 9-8-1986, theo quyết định của Hội đồng Bộ trưởng, khu văn hoá lịch sử núi Bà Đen được xác lập với mặt bằng 2.000ha. Ngày 21-1-1989, Bộ Văn hoá và Thông tin công nhận núi Bà Đen là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia.

Phanxipăng trẩy hội xuân núi Bà Đen. Ảnh: Trần Ngọc Đại Dương

Xem xét số liệu thống kê, dễ thấy rằng lễ hội xuân lớn nhất Nam Bộ cùng lễ hội xuân lớn nhất Bắc Bộ đạt lượng khách quá đông đảo và tăng tiến mạnh theo thời gian. Năm Giáp Tuất 1994, chùa Hương có 370.000 lượt khách, núi Bà Đen có 425.000 lượt khách. Năm Kỷ Sửu 2009, chùa Hương có 1.262.000 lượt khách, núi Bà Đen có 1.864.000 lượt khách.

Thế lễ hội núi Bà xuân Canh Dần 2010 thu hút khách khứa ra sao? Trưởng ban quản lý khu di tích lịch sử – văn hoá núi Bà Đen là anh Nguyễn Ngọc Anh cho tôi biết:

– Chắc chắn lễ hội xuân năm nay nhiều khách hơn năm ngoái. Mùng 4 Tết, khai mạc có 117.000 khách. Những ngày khác, mỗi ngày dao động từ 20.000 đến 70.000 lượt khách. Riêng 14 và rằm là cao điểm, lại trùng thứ bảy và chủ nhật, tính số vé bán ra từ 16 giờ hôm trước đến 16 giờ hôm sau thì nắm được con số 149.960 khách.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Vật Sình

Sáng mùng 10 Tết.

Cụ chấp lệnh gióng ba hồi trống khai hội. Thiên hạ bu đen bu đỏ quanh sới tưởng chừng nghẹt thở khi thấy người ta khênh tới đặt trước đình làng một cỗ… quan tài mở sẵn nắp! Kết thúc các hiệp đấu quyết tử, thi thể còn nóng hổi của đô vật thất bại sẽ được khâm liệm ngay tại chỗ để làm vật hiến tế Thành hoàng!

Đó là lễ hội vật võ truyền thống tại làng Sình mà dân địa phương vẫn quen gọi tắt: vật Sình.

Tranh khắc gỗ cổ truyền dân gian làng Sình. Thực hiện: Kỳ Hữu Phước

M

ùng 10 Tết Bính Tý 1996, tôi lại gặp dịp về Sình và lại được nghe nhiều bậc bô lão trong làng truyền tụng những chi tiết ly kỳ rùng rợn của hội vật thuở xưa lơ xưa lắc như trên. Quý cụ còn thêm:

– Vị khai canh ở đây linh lắm. Ngài thích vật võ, nên cứ mùng 10 Tết hằng năm, làng phải tổ chức tranh tài đọ sức trước sân đình. Khi mô có đô vật tử thương thì cử hành lễ Xuân thủ kỳ yên (cầu an đầu năm). Dự lễ nớ rồi, dân làng mới an tâm bắt tay làm lụng và tin chắc rằng suốt năm mọi sự được hanh thông!

Ngày nay, vật Sình không thể để diễn kết cục thảm khốc đến thế. Lối vật chết người dường chỉ tồn tại một thời gian, khoảng thế kỷ XIV – XV, lúc mới hình thành làng Lại Ân. Lại Ân, tên chữ của làng Sình, nghĩa là “nhờ ơn”. Hiện làng Sình thuộc xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Còn vào thời Trần – Lê, nơi đây là vùng đất mỡ màu lân cận thành Hoá Châu, miền biên viễn cực nam của lãnh thổ nước ta.

Tranh khắc gỗ cổ truyền dân gian làng Sình. Thực hiện: Kỳ Hữu Phước

Đình làng nằm sát chợ Lại Ân, cạnh mạn nam hạ lưu sông Hương, đoạn hội tụ với sông Bồ. Khu vực này thường được gọi ngã ba Sình, vị trí yết hầu của phủ Thuận Hoá xưa. Bởi vậy, trải qua nhiều triều đại, cha ông ta luôn cắm những lực lượng thuỷ binh tinh nhuệ trấn thủ ở đây. Để sung quân, tuyển tướng, cần chọn những thanh niên vừa mưu trí vừa khoẻ mạnh. Có lẽ sới vật đã được chính quyền lập tại chỗ nhằm phục vụ đắc lực yêu cầu quốc phòng đó.

Ông La Đình Mão – chủ tịch huyện Phú Vang – gật gù:

– Để phụng sự nước nhà, tổ tiên mình tuyển chọn nhân tài một cách giản đơn mà hữu hiệu. Bày sới ra, cứ đô nào thắng là đón ngay lên chiến thuyền, đưa về trại thuỷ binh huấn luyện thêm. Khỏi cần thủ tục lôi thôi rườm rà chi hết. Lực lượng vũ trang hợp toàn võ sĩ dũng mãnh rứa, rõ ràng phải bách chiến bách thắng!

Vật Sình. Tranh sơn dầu: Thân Văn Huy. Ảnh: Phanxipăng

Bây giờ, đứng dưới bóng cờ ngũ sắc phần phật bên cổng đình làng Sình, nhìn đình làng Thanh Phước toạ lạc ở bờ bên kia qua một vùng sông nước trời mây bao la bát ngát vừa thơ mộng vừa hùng vĩ, tôi chợt nhớ tích Trương Phụ – hổ tướng nhà Minh – ngay trước địa thế quan yếu này từng nuốt hận với lời thề độc: “Để cho Phụ sống là đất Hoá Châu, mà làm cho Phụ chết cũng là đất Hoá Châu!”.

            Ba hồi trống giục ầm ầm,

            Chấp lệnh tay cầm dùi trống bước ra.

            Vật vờn vài miếng qua loa,

            Mở đầu hội vật, gần xa dồn về…

Dứt tiếng trống khai mạc, chính cụ chấp lệnh đọc cho tôi nghe mấy vần ca dao ấy. Vật vờn là vật biểu diễn. Thực tế, hội vật làng Sình nhập cuộc là thi đấu chính thức ngay, chứ không vật vờn kiểu “năm keo trai rốt” hoặc “đô xã làm nền” như ở hội vật Liễu Đôi tại xã Liêm Túc, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Chấp lệnh năm nay là “lão tướng” Phan Trạch Bảo. Mặc áo thụng xanh, chít khăn đóng đen, cụ Bảo tuy râu tóc đã trắng như cước song vẫn giáng những tràng trống cực kỳ cường tráng. Theo tiếng trống, thiên hạ nô nức dồn tụ đông nghịt dù trời đang rét và đường làng nhầy nhụa bùn lầy sau mấy trận mưa Xuân. Không chỉ quan khách trong và ngoài tỉnh, một số du khách ngoại quốc cũng rủ nhau về xem vật Sình.

Gồm đủ hạng nam, phụ, lão, ấu, khán giả lớp trong lớp ngoài vây quanh sới, lắm người leo cả lên cổng đình, trèo lên cây nhãn ven sông. Vậy mà vẫn không đủ chỗ vì diện tích sân đình quá bé. Nên chăng cần quy hoạch, mở rộng mặt bằng tại địa điểm này hầu đáp ứng nhu cầu dự hội của người hâm mộ mỗi năm một tăng mạnh?

Được đắp vuông vức bằng đất mịn chính giữa sân đình, sới vật cao 1m, rộng 7x7m. Trong sới, luôn có hai trọng tài thay phiên nhau điều khiển các hiệp đấu, lại thêm cả sáu… viên công an mặc sắc phục và đeo dùi cui để ổn định trật tự. Một du khách lấy làm khó chịu:

– Kỳ quá! Có thể bố trí lực lượng cảnh sát bao quanh bên ngoài võ đài để thực thi công vụ, chứ ai lại…

Căn cứ vào danh sách đăng ký, ban tổ chức sẽ xướng tên từng đôi đô vật thượng đài. Vào sới, các đô không được mang tư trang, không được để dài móng tay móng chân, không có mùi rượu bia. Đấu sĩ phơi trần, mặc quần cộc và thắt đai theo quy định của hội vật: một đô mang đai xanh (gọi là đô xanh), một đô buộc đai đỏ (đô đỏ).

Vật Sình không “bắt cặp” theo hạng cân mà chia làm 2 bảng: thiếu niên (17 tuổi trở xuống) và thanh niên (18 tuổi trở lên). Do đó, nhiều trường hợp có tay bé choắt phải tỉ thí với gã hộ pháp. Tuy nhiên, theo đấu sĩ Hoàng Minh Ngọc (vô địch vật Sình năm ngoái, Ât Hợi 1995) thì:

– Khỏi lo. Người to chưa chắc đã mạnh. Người mạnh chưa chắc đã thắng. Vấn đề là thông minh, gan lì, biết khai thác tối đa các điểm yếu của đối phương để tạo cơ hội xuất những chiêu sở trường của mình.

Kìa xem! Trong sới, đô đỏ to cao lực lưỡng như một lực sĩ và trắng trẻo như một thư sinh, đã hai trận liên tiếp cho hai đối thủ “nốc-ao” chóng vánh. Hỏi, mới biết đó là một huấn luyện viên thể hình từ thành phố Huế về tranh giải. Chỉ thắng thêm một trận nữa, đô đỏ sẽ ung dung dự bán kết. Mọi người cười ồ khi thấy đô xanh thứ ba vào sới: anh đen thủi đen thui như cục than hầm, và bé tẹo bằng nửa đô đỏ! Ai đó giới thiệu về anh:

            Đô vật miền biển mới lên,

            Mình trông bóng láng, đồng đen không bằng.

A, thì ra ngư dân cửa Thuận. Sau khi bắt tay thi lễ với nhau, theo tiếng còi trọng tài và hiệu trống chấp lệnh, hai đô thủ thế ngay. Lợi dụng ưu thế về thể lực, đô đỏ ào ạt tấn công, hết trổ miếng xốc nách lại tung miếng càn, miếng táng, miếng vạch sườn, nhưng chẳng thể nào quật đô xanh lấm lưng trắng bụng. Đến lúc bị dồn vào góc sới, trong giây phút bất ngờ nhất, đô xanh cúi mọp sát đất, lanh lẹ lòn qua háng đối phương và bốc miếng rút giò. Đô đỏ hỏng chân, đổ kềnh. Khán giả đồng loạt reo hò vang rền cùng với hồi trống thông báo:

Nực cười châu chấu đá xe,

Tưởng rằng chấu ngã, nào dè xe nghiêng.

Trần Lợi – chủ tịch xã Phú Mậu kiêm trưởng ban lễ hội vật Sình năm nay – cho tôi hay:

– Buổi sáng, sơ kết, thiếu nhi thi đấu đến 9 giờ rưỡi, tiếp đó là thanh niên. Chiều, bán kết rồi chung kết. Vòng sơ kết, sau khi thượng đài, mỗi đô đều nhận một… phong bì. Ai thắng một trận, được phong bì đựng 2.000 đồng. Thắng hai trận, được 5.000đ. Thắng ba trận, được 10.000đ. Vừa thi đấu sơ kết, chúng tôi vừa cho đăng ký vận động viên tranh giải. Năm nay, lực lượng đô vật đến dự vật Sình đông hơn hẳn so với các năm trước. Hiện có 30 đô thiếu niên và 68 đô thanh niên từ thành phố Huế và các xã vùng ven như Hương Vinh, Hương Sơ, Hương Phong, Phú Thượng, Phú Dương, Quảng Thành. Lại có đô từ xã biển Thuận An lên, và cả đô từ núi rừng A Lưới xuống. Đông đảo nhất vẫn là các đô thuộc xã Phú Mậu và xã Phú Thanh, thuộc huyện Phú Vang.

Xưa nay, làng Mậu Tài của xã Phú Mậu luôn là địa phương sản sinh nhiều đô vật đáng gờm. Trần Lúa, một đô vật nổi tiếng của Mậu Tài, với thành tích: 8 lần vô địch vật Sình và từng được chọn đi tập huấn về vật võ dân tộc để dự tranh giải tỉnh, giải miền, giải toàn quốc. Bây giờ 45 tuổi, đã từ giã đấu trường, nhưng Trần Lúa vẫn hiện diện bên sới để… “gà nước” cho con em.

Trần Lúa nói với tôi:

– Xét thấy vật chết người quá dã man tàn nhẫn, nên tới thế kỷ XVIII, vật Sình được chuyển thành vật lệ. Vật lệ cũng gay cấn khôn xiết. Đô mô vô sới là chấp nhận chiến đấu tận cùng. Đấu sĩ dự giải không báo trước, cứ lần lượt bay vào. Anh phải hạ gục bằng hết mới rinh giải cạn. Cạn là cạn người, không còn ai dám thượng đài nữa, tức giải vô địch. Chỉ cần gài thế, quăng địch thủ ngã oạch xuống đất, là thắng. Bồng nổi đối phương lên được cũng thắng. Chơi vật lệ, lò nào đông người tất chiếm ưu thế. Thấy đồng đội bị hạ, đô cùng lò xông vô quần thảo ngay, nếu không chiến thắng thì ít nhất cũng hành đối phương mệt lử cò bợ, tạo điều kiện giúp các “cao thủ” đồng minh tiếp sau dễ ra miếng. Hiện thời, chỉ còn vật luật: cứ khiến đối thủ lấm lưng trắng bụng là anh thắng, và chỉ cần thắng liên tục 3 người thì anh được dự bán kết. Vòng bán kết, đấu loại trực tiếp để vào chung kết, chọn chức vô địch. Vật luật yêu cầu không được sử dụng đòn hiểm, gây nguy hại tính mạng vận động viên.Tay mô chơi xấu, bị tước quyền thi đấu liền. Tuy nhiên, gặp những pha đối công căng thẳng, cũng lắm đô bị trẹo chân trặc tay ê ẩm. Có trường hợp gãy rắc cả xương!

Khác với các cuộc thi vật võ chuyên nghiệp ở nhiều nơi, vật Sình quy tụ đô vật tài tử. Đó là những thanh thiếu niên quanh năm cắp sách tới trường hoặc làm nông, ngư, lâm, tiểu thủ công nghiệp; lúc nhàn rỗi mới tập luyện đôi chút võ nghệ. Vì thế, phần nhiều đấu thủ đều thiên về vận dụng sức mạnh, sức bền của trương lực cơ, chứ ít phát huy kỹ năng, kỹ xảo, tạo bao biến thế lợi hại. Tuy nhiên, do quy định riêng của vật Sình, nên không ít võ sĩ chuyên nghiệp đẳng cấp cao từ các địa phương khác về đây thử sức đã phải bật ngửa chỉ sau vài keo tỉ thí!

Tôi đã rịn mồ hôi khi xem Nguyễn Lễ (Phú Thanh) đấu dai như… đỉa. Lễ quần thảo với Võ Sĩ Trân (Phú Mậu) suốt 20 hiệp. Đô nào đô nấy đều lem luốc bụi đất và nổi cả gân tím gân vàng, thế mà Lễ vẫn cứ… cười hì hì.

Bà con kể:

– Năm ngoái, một võ sư đệ tam đẳng Judo tỉ thí với Lễ dằng dai hơn cả tiếng đồng hồ khiến ngoài hàng ghế đại biểu, bà vợ của võ sư kia phải phát… khóc vì xót cho chồng quá!

Càng về chiều, không khí thi đấu càng sôi nổi, nhất là trận cuối cùng của bảng thanh niên: Lê Văn Kỳ (Hương Sơ) đụng độ Lê Văn Tính (Phú Thanh). Bằng miếng vật bò cực nhanh và mạnh, Kỳ quật Tính ngã chỏng cọng đánh hự. Kỳ giành huy chương vàng cùng phần thưởng 150.000đ và mâm cau trầu rượu.

Hội vật kết thúc bằng nghi lễ cúng cáo Thành hoàng với tiết mục đốt đèn thăng thiên.

Đèn thăng thiên với cờ ngũ sắc có đôi chữ Hán tên làng: “Lại Ân”

Trước khi được bạn bè chèo đò đưa về Hương Sơ ăn khao, chàng trai nông dân 24 tuổi tâm sự với tôi ngay trên bến đò Sình:

– Năm ngoái, em á địch. Năm ni, em quyết tâm giành giải vô địch và thành công. Mừng lắm. Phần thưởng tuy ít ỏi nhưng sướng nhứt là niềm danh dự thượng võ đem về làng xã mình, anh nạ.  

Phanxipăng

Đã đăng báo chí:

  • Thế Giới Mới 179 (8-4-1996)
  • Sài Gòn Giải Phóng 364 (Xuân Mậu Dần 1998)
  • Kiến Thức Ngày Nay 483 (Xuân Giáp Thân 2004)

Và in trong sách Huế chừ của Phanxipăng (NXB Thanh Niên, 2000)

Read Full Post »

Lúm xuân thơm

Con gái. Tranh sơn dầu: Ái Lan

 
 
 

Xăm xăm băng lối Đoạn Trường,

Vươn tay ngắt giữa thơ Đường đoá sen.

Gặp em hong tóc mạn thuyền,

Sông Xuân nở lúm đồng tiền ngát hương.

 

 

Phanxipăng

Đã đăng Tài Hoa Trẻ 38 – số đặc biệt Xuân Mậu Dần 1998

Read Full Post »

Phanxipăng trẩy hội xuân chùa Hương. Ảnh: Bùi Huy Hương

Thức ăn thượng hảo hạng

Chất chứa hàm lượng protid và acid amin cao hơn hẳn nhiều loại rau khác, rau sắng đạt ngôi quán quân về ngọt ngào, ngon lành, thơm tho, bổ dưỡng. Sách Cây thuốc, bài thuốc và biệt dược do Phạm Thiệp, Lê Văn Thuần, Bùi Xuân Chương hợp soạn (NXB Y Học, Hà Nội, 2000) cho hay: “Trong 100g rau sắng có khoảng 6,5 ~ 8,2g protit, 0,23g lysin, 0,19g methionin, 0,08g tryptophan, 0,25g phenylanalin, 0,45g treonin, 0,22g valin, 0,26g leucin và 0,23g isoleucin, 11,5mg vitamin C, 0,6mg caroten, v.v.”

Nhờ thành phần dinh dưỡng tốt, rau sắng được dân gian ưu tiên bồi dưỡng cho trẻ em, sản phụ, người vừa ốm dậy.

Thời kỳ kinh tế khó khăn, bộ đội từng hái rau sắng, phơi khô, đợi nấu canh các thứ rau củ khác thì nêm nhúm rau sắng khô nhằm thay mì chính / vị tinh / bột ngọt. Bởi thế, rau sắng còn mang tên gọi vui: rau mì chính.

Rau sắng thường được chế biến món canh nóng sốt. Có thể nấu phối hợp với một trong các nguyên liệu: thịt lợn / heo, gà, tôm, cá rô, cá quả / tràu / lóc. Cũng có thể nấu canh suông, chỉ nêm tí muối, chừng đó thôi vẫn đủ giúp thực khách hân hoan cảm nhận vị ngọt bùi cùng mùi hương thoang thoảng quá đặc trưng của rau sắng. Những người rành rẽ lại bảo rằng để bát canh rau sắng đạt chất lượng như ý, chớ sử dụng nước máy và nước giếng khoan, mà nên múc nước sông, nước suối, tốt nhất là dùng nước mưa.

Trẩy hội chùa Hương dịp đầu xuân Nhâm Tuất 1982, lần đầu tiên tôi nếm bát canh rau sắng, bỗng Hà Nội dáng kiều thơm (thơ Quang Dũng) cùng đi chất vấn:

– Anh thấy thế nào nhỉ?

Tôi tán thưởng:

– Ngậm mà nghe.

Về sau, những lần ghé chơi bầu trời, cảnh bụt (chữ của Chu Mạnh Trinh chỉ Hương Sơn), tôi đều nhâm nhi đặc sản Hương Tích, luôn luôn nhớ rau sắng.

Rau sắng và rồng rồng. Ảnh: Quế Chi

Rau sắng ngoài chùa Hương

Như đã nêu, khá nhiều vùng núi đá vôi ở nước ta từ Bắc chí Nam có cao độ 100 ~ 200m trở lên so với mực nước biển cũng xanh tươi rau sắng. PGS. TS. Đỗ Xuân Thảo – Phó Giám đốc Trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Sư phạm Hà Nội – cười:

– Rau sắng chùa Hương nổi tiếng gần xa nhờ tôn giáo và du lịch. Chứ rau sắng vùng núi rừng huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, quá xuất sắc bởi sau khi nấu thì mềm mà dòn, lại lưu vị ngọt nơi đầu lưỡi khá lâu.

Với kiểu địa hình núi đá vôi cuối dãy Hoàng Liên Sơn, có lợi thế về độ ẩm, độ cao và thổ nhưỡng, Vườn quốc gia Xuân Sơn ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, được xác định là nơi có mật độ cây rau sắng nhiều nhất nước ta. Năm 2004, Vườn thu hái được 700 quả sắng chín, gieo ươm nên 10.000 cây giống. Năm 2005, số lượng thu hái lẫn giao ươm tăng gấp 10 lần. Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc / United Nations Development Programme (UNDP) đã tài trợ ngân khoản 2,4 tỉ đồng cho Vườn quốc gia Xuân Sơn trồng 50ha rau sắng. Từ đó, bằng cách tuyên truyền vận động và cung cấp giống cùng những kỹ thuật canh tác cần thiết, nhân dân – kể cả đồng bào Mường và Dao – liền biết lợi ích nên mỗi hộ nhận trồng rau sắng từ 0,5ha trở lên, nhờ thế Vườn phát triển diện tích trồng rau sắng lên gấp đôi, tức 100ha, vào năm 2010. Đồng thời, Vườn quốc gia Xuân Sơn còn chuyển giao công nghệ để tỉnh Lâm Đồng ươm trồng rau sắng thử nghiệm trên mặt bằng 1.000m2 thành công bước đầu rất đáng phấn khởi.

Bát canh rau sắng. Ảnh: Phanxipăng

Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Sơn là kỹ sư Trần Đăng Lâu tiết lộ:

– Bí quyết siêu đẳng nhé: hứng nước nhỏ từ loạt thạch nhũ trong các hang động mà nấu canh rau sắng, đảm bảo tuyệt vời cực kỳ!

Nhà giáo Lại Thị Bích Tuyết – gốc gác Phú Thọ, lâu nay giảng dạy tại Vĩnh Long – vui vẻ góp chiêu:

– Hái quả sắng chín, tách vỏ, lấy hạt ninh với xương trong nước thạch nhũ, rồi nấu canh rau sắng, ấy dà, trên cả tuyệt vời!

Tôi thêm:

– Dùng rau sắng hấp cơm, hoặc chưng cách thuỷ, gắp chấm với tương Bần Yên Nhân (Hưng Yên) hoặc nước mắm Phú Quốc (Kiên Giang), chao ôi là đáo khẩu!

Tuyệt vời rau sắng. Ảnh: Phanxipăng

Theo tôi biết, đầu bếp khéo léo còn dùng rồng rồng kết hợp đọt sắng non to mập, xào với thịt bò đã ướp gừng và tỏi, rồi gia thêm hạt tiêu cùng quả ớt, tạo nên thức nhắm thơm-ngon-đẹp giúp dịp trẩy hội mừng xuân càng thêm hào hứng. ♥

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Thế Giới Mới 874 (8-3-2010)
  • Kiến Thức Ngày Nay 740 (1-3-2011)

Read Full Post »

Chùa Hương nằm ven bờ sông Đáy ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội, là một “phiên bản” đầy ý nghĩa của chùa Hương trên núi Hồng Lĩnh thuộc xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. “Phiên bản” ấy hình thành từ thời Lê, dần trở nên lừng lẫy nhờ hội tụ rất nhiều yếu tố thuận lợi, trong đó có nghệ thuật ẩm thực. Liên hệ với văn thơ và các thông tin khoa học cần thiết liên quan, bài này đề cập rau sắng – một đặc sản “danh bất hư truyền” ở quần thể danh thắng chùa Hương tại Hà Nội. Đồng thời, bài viết còn giới thiệu nơi có mật độ cây rau sắng nhiều nhất Việt Nam là Vườn quốc gia Xuân Sơn ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Phanxipăng du xuân chùa Hương. Ảnh: Bùi Huy Hương

Mùa xuân Nhâm Tuất 1922, thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 – 1939) không trẩy hội chùa Hương được, bèn bật mấy vần lục bát:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương,

Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa.

Mình đi, ta ở lại nhà,

Cái dưa thời khú, cái cà thời thâm.

Nhiều tài liệu lâu nay cho rằng Tản Đà liền đăng bài thơ nọ trên tờ An Nam tạp chí. Điều đó nhầm lẫn! Vì tạp chí kia mãi đến ngày 1-7-1926 mới ra số đầu tiên.

Giai thoại văn chương đậm tính tiếp thị

Thực tế, Tản Đà in bài thơ nọ trong tập 1 Truyện thế gian vào đầu năm sau, Quý Hợi 1923. Sách phát hành được thời gian ngắn thì tác giả nhận bưu kiện từ Phủ Lý, không đề tên người gửi, bên trong toàn rau sắng tươi mơn mởn cùng mảnh giấy:

Kính dâng rau sắng chùa Hương,

Đỡ ai tiền tốn, con đường đỡ xa.

Không đi thời gửi lại nhà,

Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.

Người viết ký: Đỗ Tang Nữ bái tặng.

Nhận món quà, Tản Đà ngạc nhiên và cảm động gọi nhân vật kỳ bí và dễ thương ấy là “một người tình nhân không quen biết”, đoạn nối vần:

Mấy nhời cảm tạ tri âm,

Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình.

Đường xa, rau hãy còn xanh,

Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.

Yêu nhau xa cách càng yêu,

Dẫu rằng suông nhạt mà nhiều chứa chan.

Nước non khuất nẻo ngư nhàn,

Tạ lòng xin mượn thế gian đưa tình.

Tản Đà công bố câu chuyện cùng đôi bài thơ vừa nêu trong tập 2 Truyện thế gian ấn hành tháng 11-1923: “Khoảng tháng ba năm nay, tôi có tiếp được một gói, gửi do nhà dây thép, ngoài bọc giấy, trong là rau sắng. Không thấy có đề tên người gửi, xem dấu nhà dây thép, cho biết là từ Phủ Lý gửi lên. Lại có phong thư cùng tiếp nhận, mở xem cho thấy ở mảnh giấy có mấy câu lục bát, tức là lời gửi rau sắng, trên không để là ở đâu gửi đến, đi báo ngày hôm nào, dưới ký tên như một người đàn bà con gái. Lạ thay! Không biết ai như hẳn là một người tình nhân không quen biết đây. Nay đã không biết trả lời về đâu mà cám ơn, vậy nhân Truyện thế gian, kính in bức ngọc thư của ai, và xin nói mấy lời cảm tạ.”

Đến năm 1932, chùm 3 bài thơ được Tản Đà in lại trong tập 3 Khối tình con.

Vậy Đỗ Tang Nữ – mang nghĩa cô gái họ Đỗ hái dâu – là ai? Là Đỗ Thị Khê, còn gọi Song Khê (1901 – 1993), em ruột của Đỗ Thị Đàm tức nữ sĩ Tương Phố (1900 – 1973). Thuở bấy giờ, Đỗ Tang Nữ làm hộ sinh nơi nhà thương Phủ Lý thuộc tỉnh Hà Nam. Sự thật đã được khẳng định bởi Tương Phố qua tập Mưa gió sông Tương (NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1961; trang 111), bởi Nguyễn Khắc Xương – trưởng nam của Tản Đà – qua tập Ông thần ngông (NXB Văn Học, Hà Nội, 1990; trang 53-56).

Chân dung Tản Đà qua nét vẽ của Dương Bích Liên

Giai thoại văn chương độc đáo kia tích cực quảng cáo rộng-sâu-lâu-bền vô cùng hiệu quả cho một nguồn thực phẩm đặc sắc gắn bó với một danh lam Nam thiên đệ nhất động (chữ của chúa Trịnh Sâm viết năm Canh Dần 1770 lên vách đá chùa Trong).

Kỳ thực, không chỉ xã Hương Sơn ở huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội “độc chiếm” rau sắng, mà khá nhiều vùng núi đá vôi ở nước ta từ Bắc chí Nam có cao độ 100 ~ 200m trở lên so với mực nước biển cũng xanh tươi rau sắng, dẫu lắm nơi ít ỏi số lượng cá thể. Chẳng hạn Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Thái, Bắc Giang, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kontum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, v.v. Và không chỉ ở Việt Nam, rau sắng còn được phân bố tự nhiên ở Lào, Campuchia, Thái Lan.

Bao điều đặc sắc

Vì sao rau mang tên sắng? Do gọn hoá cụm từ tắc sắng mà tiếng Mường quen dùng. Còn dân tộc Dao gọi lai cam, dân tộc Tày – Thái gọi pắc van. Những từ vừa dẫn đều mang nghĩa “rau ngọt”. Bởi thế, người Kinh còn gọi rau ngót rừng.

Loài thực vật này được định danh khoa học là Melientha suavis Pierre thuộc họ Opiliaceae.

Với người Việt, tuyệt đại đa số loại rau đều thân thảo: rau muống, rau lang, rau má, rau sam, rau trai, rau ngót, rau dền, rau đắng, rau cần, rau đay, rau khúc, rau húng, rau răm, rau cải, rau cúc / tần ô, rau ngổ / ngò ôm, rau xà lách, rau càng cua, rau tía tô, rau kinh giới, rau diếp cá, v.v. Nếu có giai nhân nào lúng liếng thách cưới, đòi hỏi cây rau đủ sức làm đình, thì tôi vui vẻ đáp ứng nàng bằng thứ rau biệt lệ: rau sắng. Vậy là… song hỷ. Bởi cây rau sắng thân mộc, đường kính gốc có thể quá 30cm, độ cao có thể vượt 20m. Gỗ cây này vàng ngà, được dùng làm đũa cả, thước kẻ, khay, mâm, bàn, tủ; cây lâu năm thân to dài thì thoải mái dựng cột làm đình để mình lấy ta như ca dao mai mối.

Cây rau sắng rụng hết lá dịp cuối đông, đoạn đâm chồi nẩy lộc khi xuân đến. Hội chùa Hương trải dài từ mùng 6 tháng giêng đến hết tháng 3 âm lịch, ấy là mùa thu hoạch rau sắng bao gồm đọt, lá non, và rồng rồng tức cọng hoa lấm tấm trắng muốt rất thơm, thêm quả non nữa. Cây trên 3 tuổi mới được thu hoạch, và mỗi đợt cách nhau chừng 1 tháng. Muốn hái rau sắng, tất nhiên lâm dân phải leo trèo. Sang mùa hè, những cây sắng cái / sắng nếp trổ quả chín vàng thành chùm lúc lỉu thì tạm ngưng việc hái rau sắng.

Rau sắng. Ảnh: Phanxipăng

Gồm 18 đền chùa nằm rải rác ở địa bàn xã Hương Sơn, quần thể di tích chùa Hương được chia thành 4 khu vực: Hương Thiên, Thanh Vân, Long Vân, Tuyết Sơn. Tại đây, lâu nay nổi lên những “đại gia” nhờ tập trung canh tác rau sắng. Như ông Trịnh Văn Tiết cùng vợ và 3 con chăm sóc 6.000 gốc sắng trồng nơi trang trại rộng 3ha nằm sâu trong cánh rừng ven khu di tích Phong Vân. Hoặc ông Trần Văn Đáng sở hữu 5.000 gốc sắng nơi thung Gạo, dưới chân chùa Hinh Bồng. Nhằm phát huy lợi ích kinh tế từ cây rau sắng, cuối năm 2001, UBND xã Hương Sơn đã trân trọng mời GS.TS. Vũ Tuyên Hoàng (1939 – 2008) giúp nghiên cứu ghép mô cây rau “siêu sạch” này. Hiện dự án phát triển cây rau sắng tại xã Hương Sơn đã triển khai trên vùng đất rộng 15ha, tạo công ăn việc làm ổn định cho 300 gia đình. Rau sắng loại 1 được đóng gói và bày bán trong một số siêu thị, mặc dù giá cao – mỗi kg những 300.000 đồng – nhưng cung vẫn chẳng kịp cầu.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Dịp Tết thư nhàn, mời quý tao nhân mặc khách thưởng thức cảnh tượng và khí vị mùa xuân vô vàn hấp dẫn qua những áng thơ Nôm tương truyền của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.

Tranh sơn dầu: Bùi Xuân Phái

1 

           

            Bấy lâu nay, rất nhiều tài liệu cho rằng danh hiệu bà chúa thơ Nôm dùng để tôn vinh Hồ Xuân Hương vốn do Xuân Diệu (1916 – 1985) tạo nên. Bình giảng thơ “người Cổ Nguyệt” trong nhà trường, không ít giáo viên ngữ văn cũng nói vậy. Song sự thật lại chẳng phải vậy!

            Tiểu luận Hồ Xuân Hương – bà chúa thơ Nôm do Xuân Diệu biên soạn và công bố trên tạp chí Văn Nghệ ấn hành tại Hà Nội tháng 1-1959, sau đó được sửa chữa lẫn bổ sung để đưa vào nhiều sách khác nhau. Cuối tiểu luận, Xuân Diệu cẩn thận cước chú thời gian chấp bút: “tháng 12-1958”.

            Trước đấy khá lâu, năm 1950, NXB Cây Thông ở Hà Nội từng in cuốn Thân thế và thi ca Hồ Xuân Hương. Sách này của Lê Tâm, với tiêu đề phụ ghi rõ: Bà chúa thơ Nôm.

Danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” dùng để tôn vinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương do ai tạo nên? Không phải do Xuân Diệu, mà đích thực do Lê Tâm.

Danh hiệu “Bà chúa thơ Nôm” dùng để tôn vinh nữ sĩ Hồ Xuân Hương do ai tạo nên? Không phải do Xuân Diệu, mà đích thực do Lê Tâm.

            Danh hiệu bà chúa thơ Nôm quả rất phù hợp với tính cách, rất xứng đáng với tầm vóc nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Tới nay, mặc dầu giới nghiên cứu đã phát hiện thêm mảng thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương gồm tập Lưu hương ký cùng một số bài khác nữa, nhưng tạo ấn tượng sâu sắc trong tâm thức quảng đại quần chúng vẫn là mảng thơ Nôm sắc sảo tài hoa. Ấy là những bài thơ được dân gian truyền tụng tự bao đời như Mời trầu, Tự tình, Quả mít, Bánh trôi, Con ốc nhồi, Đèo Ba Dội, Hang Thánh Hóa, Sư bị ong châm, Thiếu nữ ngủ ngày, v.v.

            Phải chăng loạt thơ Nôm độc đáo “vô tiền khoáng hậu” kia đích xác của Hồ Xuân Hương? Về phương diện văn bản học, trường hợp này quá khó kết luận. Ngay cả tiểu sử nữ sĩ, hiện vẫn tồn tại lắm điều chưa tỏ tường. Thậm chí, xuất hiện ý kiến ngờ vực rằng thơ Nôm được gán cho Hồ Xuân Hương thực chất là hiện tượng “sáng tác tập thể”.

Tranh màu nước: Bùi Xuân Phái

           

            Với bà chúa thơ Nôm, vấn đề xác minh tiểu sử tác giả, khảo sát nội dung lẫn hình thức tác phẩm để sàng lọc, phục hồi, giải thích, bình luận, chắc chắn sẽ còn tiếp diễn dài dài và khó đạt được sự nhất trí trong giới nghiên cứu văn học. Thôi thì nhân dịp Tết Nguyên đán, trên cơ sở các áng thơ Nôm tương truyền của Hồ Xuân Hương được lưu hành rộng rãi, chúng ta tò mò tọc mạch lẩy dăm câu, trích đôi đoạn chứa chữ xuân nhằm mua vui chốc lát.

            Êm ái chiều xuân tới Khán đài,

            Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai…

            Bài thơ Chơi đài Khán Xuân khai đề sao lành thế? Do đó, thiên hạ bán tín bán nghi: nữ sĩ họ Hồ bao giờ cũng sôi nổi, rạo rực cực kỳ, làm gì chẳng bợn chút trần ai nhỉ? Không ít kẻ đồ rằng đấy là giọng man mác u hoài chính hiệu Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng cũng có người bảo chuông gầm sóng với nước lộn trời ở cặp câu thực toát hơi hám Hồ Xuân Hương. Phong cách bà chúa thơ Nôm hiển lộ rõ ở cặp câu kết. Đây, khổ cuối:

            Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,

            Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.

            Nào nào cực lạc là đâu tá?

            Cực lạc là đây chín rõ mười.

            Điều bất ngờ là bốn dòng cuối của bài thơ Chơi đài Khán Xuân rất giống đoạn kết bài bát cú Thích câu trong Hồng Đức quốc âm thi tập:

            Bể thảm muôn tầm mong tát cạn,

            Sông ân nghìn trượng dễ khơi vơi.

            Nào nào cực lạc là đâu tá?

            Cực lạc là đây hẳn tỏ mười.

            Vậy bài nào là “phó bản” của bài nào?

            Theo quan niệm dân gian, cái khí cốt của Hồ Xuân Hương không chịu tĩnh, mà động, rất động:

            Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

            Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

            Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,

            Mảnh tình san sẻ tí con con.

            Đấy, ngay khi một mình đối bóng, giọng nữ sĩ không não nuột u hoài mà trúc trắc u ẩn:

            Trơ cái hồng nhan với nước non.

            Mùa xuân, theo Hồ Xuân Hương, cũng tăng tốc dịch chuyển tương tự dệt cửi.

Tranh phấn tiên: Bùi Xuân Phái

           

            Mùa xuân là một chu kỳ trong sự vận động tuần hoàn của thiên nhiên. Qua thơ bà chúa thơ Nôm, mùa xuân chuyển dịch theo quỹ đạo tâm lý. Với nữ sĩ, mùa xuân hừng hực cá tính và dồi dào sinh lực đã hiện thân thành cả khối tình:  

            Gan nghĩa dãi ra cùng tuế nguyệt,

            Khối tình cọ mãi với non sông.

            Đá kia còn biết xuân già dặn,

            Chả trách người ta lúc trẻ trung.

            Ngắm nghía đá ông Chồng bà Chồng, Hồ Xuân Hương hào hứng phả tình vào đá. Và tình đá vụt hóa tình xuân. Đọc bài thơ này, Xuân Diệu ngợi ca rằng bà chúa thơ Nôm còn là nữ nghệ sĩ tạo hình trác tuyệt: “Một nhà điêu khắc truyền cả hơi sống, cả tình yêu vào đá, đến nỗi đá cũng ửng hồng lên như có máu chạy: đá cứng lắm, nặng lắm, mà nó chẳng nằm chết như đá, nó dãi ra, nó cọ mài, nó già dặn tình xuân”.

            Có thể nói rằng Hồ Xuân Hương là nữ nghệ sĩ tạo hình lẫn tạo… tình. Vừa kỳ công, vừa tuyệt thú, bà chúa thơ Nôm biến cảm xúc mùa xuân tưởng chừng khó nắm bắt thành vật thể gồ ghề góc cạnh, dày dày mảng khối, tươi tắn sắc màu:

            Đôi lứa như in tờ giấy trắng,

            Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.

            Tình xuân được hữu thể hóa, thành “cái”, thành “con”, đậm đặc dập dồn hồn nhiên liên tục:

            Xuân này nào phải cái xuân xưa,

            Có sớm ư? Thời lại có trưa…

            Vậy mới phơi phới, ngây ngất, hoan lạc. Xót thương thay những ai, vì lý do thiên tạo hoặc nhân tạo, không được thụ hưởng hạnh phúc tót vời của đời sống thế trần, bởi:

            Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu!

Tranh màu nước: Bùi Xuân Phái

           

            Một bài thơ của Hồ Xuân Hương náo nức không khí hội xuân từ đầu đến cuối: Đánh đu. Đặc biệt, cặp thực và cặp luận tạo hoạt cảnh rực rỡ màu sắc, rộn ràng âm thanh, nhộn nhịp hành động và được diễn đạt bằng bút pháp hàm súc:

            Trai du gối hạc, khom khom gật,

            Gái uốn lưng ong, ngửa ngửa lòng.

            Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,

            Hai hàng chân ngọc duỗi song song.

            Sách Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương do Lê Trí Viễn chủ biên (Sở Giáo dục Nghĩa Bình ấn hành năm 1987) nhận xét: “Đây là bức tranh sống động, tuyệt mỹ. Tất nhiên Xuân Hương không dừng ở tả thực. Hiểu theo nghĩa ngầm, người đẹp không thấy thô mà vẫn là vẻ đẹp trong sáng”.

            Qua cuốn Hồ Xuân Hương – hoài niệm phồn thực (NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 1999), Đỗ Lai Thúy bình chú: “Thiên tài Hồ Xuân Hương là miêu tả cảnh đánh đu rất đẹp, đầy hình ảnh, màu sắc, động tác gợi được không khí xuân. Vẻ đẹp của thân thể con người cũng được miêu tả gợi cảm. Đồng thời, bằng tài nghệ của mình, nhà thơ đã dựng lên nghĩa lấp lửng, phục nguyên được ý nghĩa phồn thực của trò chơi đánh đu”.

            Cái gọi là “nghĩa ngầm”, “nghĩa lấp lửng” đã tạo nên sức cuốn hút của bài thơ Đánh đu nói riêng, của hầu hết tác phẩm do Hồ Xuân Hương sáng tác nói chung. Đó là chỗ “biên giới của tiếng nói” như Nguyên Sa (1932 – 1998) luận bàn: “Đi chậm một bước, ta không tới; đi quá một bước, ta bị ngã gục vì rơi vào chỗ phản bội thi ca”.

            Gặp trường hợp cần phân tích Đánh đu, nhiều người chọn giải pháp an toàn: đi… vòng. Mà giỏi vòng vo kiểu gì, đến lúc chạm đôi câu kết, thiên hạ phải đành đứng phắt mà bật cười hổn hển:

            Chơi xuân đã biết xuân chăng tá?

            Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

Tranh màu nước: Bùi Xuân Phái

           

            Một bài thơ khác của Hồ Xuân Hương tuy chẳng chứa từ xuân, song vẫn đậm đà khí vị hội xuân: Động Hương Tích. Địa danh này chỉ thắng cảnh trung tâm quần thể di tích lịch sử – văn hóa nổi tiếng cả nước: chùa Hương ở huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, từ ngày 1-8-2008 sáp nhập vào địa bàn thành phố Hà Nội. Chùa ấy là nơi khách thập phương nô nức trẩy hội mỗi dịp xuân về.

            Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm,

            Nứt ra một lỗ hỏm hòm hom.

            Lại khéo khéo. Lại lỗ. Nghĩa là đã sẵn sàng môi trường thuận lợi cho cả hoạt cảnh hấp dẫn tương tự Đánh đu. Thì đây:

            Người quen cõi Phật, chen chân xọc,

            Kẻ lạ bầu tiên, mỏi mắt dòm.

            Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,

            Con thuyền vô trạo cúi lom khom.

            Trạo là cái chèo. Con thuyền vô trạo là chiếc xuồng chẳng có mái chèo. Thuyền không chèo thì tha hồ ngược xuôi mải miết giữa dòng vô ngạn. Dòng đó gọi là hữu tình, là hữu ái, là xuân.

            Cặp câu luận trong bài thơ này và bài thơ Hang Cắc Cớ tương truyền cũng của Hồ Xuân Hương sao hao hao nhau:

            Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,

            Con đường vô ngạn tối om om.

            Hang Cắc Cớ ở chùa Thầy thuộc huyện Quốc Oai, cùng tỉnh Hà Tây, từ ngày 1-8-2008 cũng sáp nhập vào địa bàn thành phố Hà Nội, là nơi du xuân đầy hào hứng cho trai gái thanh tân như câu hát dân gian lưu truyền:

            Gái chưa chồng luyến hang Cắc Cớ,

            Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.

            Cả hai bài thơ đều dùng tử vận om. Nhưng dưới ngòi bút Hồ Xuân Hương lẫy lừng “thi trung hữu quỷ” – khiến Tản Đà (1888 – 1939) từng giật mình than – thì cái vần hiểm hóc kia không gò bó mạch thơ, trái lại còn khai phóng thi tứ một cách ngoạn mục. Cùng với thủ pháp điệp âm, điệp thanh, điệp vận, bà chúa thơ Nôm còn rất cao tay khi tung chiêu sở trường: nói lái bất ngờ, dí dỏm, tinh nghịch.

            Bài Động Hương Tích kết thúc:

            Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,

            Rõ khéo trời già đến dở dom!

            Bài Hang Cắc Cớ khép lại đầy… cắc cớ:

            Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc,

            Khéo hớ hênh ra, lắm kẻ dòm!

Tranh sơn dầu: Bùi Xuân Phái

            Thoải mái chơi xuân cùng bà chúa thơ Nôm, càng thêm khoái chá nếu nhận chân rằng chính người Cổ Nguyệt là nguồn xuân phơi phới vô cùng vô tận.

 

           

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Tài Hoa Trẻ 247 (22-1-2003)
  • Thế Giới Mới 771 (Tết Nhâm Tý 2008)

Read Full Post »

Tháng giêng quan họ

Hát quan họ. Tranh sơn mài: Nguyễn Đức Toàn

 
 
 

Ngán thá gì chẳng cởi áo cho mình?

Ta trùng trục mọc đầu đình như trúc

Mắt lá răm đổ toé nước nghiêng thành

Lúng liếng hẹn ta trèo quán dốc.

 

 

Ta nhí nhố quen xập xình nhạc rock

Mình bày ta vỗ vỗ mấy trống cơm

Rồi xe chỉ rồi luồn kim thoăn thoắt

Hát:

– Tình bằng có một cặp tim son.

 

 

Hát:

– Í a có một tháng giêng ngon

Nhờ duyên hát, thiên lý năng tương ngộ

Ta với mình xa thăm thẳm đèo non

Nhờ đêm hát, mình ta ra duyên nợ.

 

 

Mình ngại gì nghìn sơn khê cách trở

Mà:

– Người ơi (mà) người ở đừng về!

Hãy cùng nhau tang bồng muôn cung nhớ

Yêu trọn lòng, đâu dừng lại là quê.

 

 

 

Phanxipăng

Đã đăng báo chí:

  • Thế Giới Mới 22 (1-1992)
  • Cửa Việt 13 (3 & 4-1992)
  • Đại Đoàn Kết số Xuân Ất Hợi 1995
  • Hoa Học Trò số Xuân Quý Mùi 2003

Và in trong sách Album thơ 1 của Phanxipăng (NXB Trẻ, 1995)

 

Read Full Post »

Older Posts »