Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Hai, 2012

Văn Cao tự hoạ

Văn Cao tự hoạ

Tuy chỉ học trường Mỹ thuật Đông Dương (5) một thời gian ngắn với tư cách dự thính viên tự do, nhưng Văn Cao vẽ khá sắc sảo. Phái lập thể ảnh hưởng sâu đậm đến đường nét, sắc màu, mảng khối của Văn Cao.

Vợ chồng Mèo đi chợ. Tranh sơn dầu: Văn Cao

Ba bức sơn dầu Cô gái dậy thì, Thái Hà ấp đêm mưa, Cuộc khiêu vũ của những người tự tử mà Văn Cao lần đầu tiên trưng bày tại salon Unique / phòng triển lãm Duy Nhất nơi nhà Khai Trí Tiến Đức bên hồ Gươm năm 1943 đã khiến giới mỹ thuật ngạc nhiên vì bút pháp mới lạ. Sau này, các họa phẩm của Văn Cao cũng tạo sự thú vị cho người thưởng lãm. Ví dụ bức Say. Nhưng chẳng phải ai ai cũng khoan khoái. Từng có kẻ phán: mấy họa phẩm này “có vấn đề” đấy!

Một số bìa sách do Văn Cao thiết kế. Ảnh: Phanxipăng

Suốt nhiều năm, Văn Cao tập trung vào nghệ thuật tạo hình: minh họa cho thơ với truyện ngắn lẫn truyện dài, vẽ vignette cho báo chí, trình bày sách và chơi sơn dầu.

Văn Cao minh hoạ ấn phẩm

Một số tranh của Văn Cao đã được đưa vào Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Nhiều hoạ phẩm của Văn Cao được giới thưởng ngoạn gần xa nhắc, chẳng hạn Cô gái và đàn dương cầm, Dân quân miền núi, Nhà văn Đặng Thai Mai, Chân dung bà Băng (tức Nghiêm Thúy Băng – vợ của Văn Cao). Vẫn cách diễn hình, diễn khối biểu lộ sự tìm tòi giàu chất trí tuệ. Vẫn những đường, những mảng dựng theo lối lập thể. Điều này khiến đông người yêu thích, và dĩ nhiên, một số kẻ lại thấy… nghịch nhãn!

Văn Cao gia nhập làng văn bằng vài mẩu truyện và kịch ngắn đăng trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Các sáng tác này, lúc ấy bị chìm lỉm bởi những tên tuổi cỡ Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ trong Tự Lực Văn Đoàn, và Tô Hoài, Nam Cao, Bùi Hiển, Nguyễn Công Hoan trong nhóm Tân Dân. Mãi đến khi những tình khúc của Văn Cao ra đời, giành được cảm tình của đông đảo công chúng, thì người ta mới chú ý đến các loại hình nghệ thuật khác của người nghệ sĩ đa tài này.

Văn Cao vẽ á hậu Trần Vân Anh có sự hiện diện của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại Sài Gòn năm 1989

Những ca khúc trữ tình của Văn Cao thành công không chỉ nhờ cấu trúc và hình tượng âm nhạc, mà còn nhờ ca từ. Ca từ đẹp. Đẹp như thơ. Xét kỹ, thấy lời ca của Văn Cao chính là thơ. Loại thơ đã kết hôn cùng âm nhạc.

Còn những bài thơ do Văn Cao làm rải rác đó đây – trong sổ tay, bên lề sách, trên vỏ bao thuốc lá, v.v. – tuy ít đăng báo nhưng đã tạo lập được “một kênh thơ khác”. Cổ nhân từng nhắc: thi trung hữu họa, thi trung hữu nhạc. Ưu thế ấy, với đôi tai âm nhạc và cặp mắt hội họa, Văn Cao phát huy rõ trong thơ. Như dăm dòng lục bát với thủ pháp điệp từ:

            Vi vu… Rừng lại sang rừng

            Xa xôi tiếng hát cũng ngừng xa xôi.

         

            Nương nương qua tiếp đồi đồi

            Áo chàm nàng thổ pha phôi sắc chàm.

 

            Cầu mây treo giữa gió ngàn

            Mây bông treo giữa trăng ngàn đêm sương.

 

            Sương lưng chừng núi vấn vương

            Tiếng chim lạ cất tiêu thương buồn trời.

 

            Cái gì cũng thấy chơi vơi… (6)

Càng về sau, thơ Văn Cao càng cô đọng hơn, thâm trầm kín đáo hơn, như cây giấu bóng tối trong đá.

Văn Cao với vợ Nghiêm Thuý Băng và ca sĩ Thanh Lan. Ảnh: Duy Anh

Văn Cao sẵn sàng phá vần để xây tứ một cách phóng khoáng. Ông từng cùng Nguyễn Đình Thi bênh vực thơ không vần. Không vần, nhưng Văn Cao vẫn đảm bảo tiết tấu thơ, và đặc biệt, chất tạo hình nổi lồ lộ:

            Từ trời xanh

                               rơi

                                  vài giọt tháp Chàm

            quanh Quy Nhơn

            tôi như đứa nhỏ yêu huyền thoại (7)

Nhiều người đã ca ngợi chất suy tưởng lẫn độ tinh nhạy của cảm xúc trong thơ Văn Cao. Éo le thay! Khối kẻ khác đọc thơ Văn Cao thì bị “dị ứng”!

_________________

(5)   Ecole Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine.

(6)   Bài thơ Đêm ngàn.

(7)   Khổ đầu bài thơ Quy Nhơn 3.

(Còn nữa)

Mời quý bà con thưởng thức một số ca khúc của Văn Cao:

  • Trương Chi qua giọng Khánh Ly:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=s0xgzyJkFs

  • Thiên thai qua giọng Thanh Lan:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Y6BfuP4TpX

  • Suối mơ qua giọng Trần Thái Hoà:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=WKfAIEg5Pw

  • Cung đàn xưa qua giọng Ánh Tuyết:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dHiLrBYJ5LFm

  • Bến xuân (hợp soạn với Phạm Duy) qua giọng Thái Thanh:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=aNox3AocFy

Read Full Post »

Bài này được viết vào năm 1992, trước dịp sinh nhật thứ 69 của Văn Cao, những dòng chữ nghiêng là của Văn Cao. 

Văn Cao. Ảnh: David Alan Harvey đã đăng lần đầu trên tạp chí National Geographic tháng 11-1989

T

rước khi nói về nghề văn, hãy điểm qua nghiệp võ. Mặc dù tên tôi là Văn, nhưng lại ưa nghiệp võ! Văn Cao cười, nói hóm như thế khi hồi tưởng thời trai tráng của mình. Ấy là giai đoạn cả nước chạm phải những thử thách lịch sử nghiêm trọng. Văn Cao, thuở ấy, là một thành viên nòng cốt trong ban ám sát, hoạt động bí mật giữa “băm sáu phố phường” (1) bị kiềm tỏa bởi quân đội phát xít Nhật.

Người nghệ sĩ tuổi đôi mươi, có vóc dáng nhỏ nhắn và đôi mắt lạnh lùng kia thoắt ẩn thoắt hiện qua nhiều giai thoại đậm đà chất tráng sĩ. Như chuyện chàng khử tay mật thám Đỗ Đức Phin trong một tiệm hút ở Hải Phòng.

Sát ngày tổng khởi nghĩa, Văn Cao vào khu vực chùa Hương làm nhiệm vụ trừ gian. Trở về, chàng ốm liệt giường. Thứ sáu 17-8-1945, Đảng Đại Việt tổ chức mít tinh công chức ở Hà thành. Văn Cao gượng dậy, trà trộn vào đám đông để quan sát tình hình. Giữa cuộc mít tinh, lực lượng Việt Minh bất ngờ chiếm diễn đàn, treo cờ đỏ sao vàng. Đồng thời, loa phóng thanh vang lên tiếng hát:

            Đoàn quân Việt Minh đi

            Chung lòng cứu quốc

            Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa

“Tiến quân ca” của Văn Cao

Cùng lúc đó, bài hát nọ – đã in sẵn thành truyền đơn – được phát ngay cho quần chúng. Người ta cầm truyền đơn, hát theo. Đấy là lần đầu tiên Tiến quân ca được trình diễn công khai.

Thủ bút Văn Cao

Không chỉ Tiến quân ca, những hành khúc khác của Văn Cao đã liên tục sôi sục, dồn vang theo bước bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường (2), theo bước trùng trùng quân đi như sóng (3) qua nhiều cung bậc thăng trầm của lịch sử dân tộc.

Một trong những thành tựu xuất sắc nhất của dòng âm nhạc kháng Pháp, như nhiều nhà nghiên cứu nhận định, là tác phẩm thanh nhạc phức điệu Sông Lô, một sáng tác dài hơi của Văn Cao.

            Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc bãi dài ngô lau núi rừng âm u

            Thu ru bến sóng vàng từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu

            Sông Lô sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang

            Ai qua bến nắng hồng lặng nhìn màu nước sông Lô xưa.

So với những tác phẩm thể hiện cùng đề tài – chẳng hạn “Lô giang” của Lương Ngọc Trác, “Chiến sĩ sông Lô” của Nguyễn Đình Phúc, “Trên sông Lô” của Phan Huỳnh Điểu, “Tiếng hát trên sông Lô” của Phạm Duy – thì trường ca Sông Lô của Văn Cao vượt hẳn về cả hai phương diện nội dung và hình thức.

Bên cạnh tráng ca và âu ca, những tình ca của Văn Cao đã làm mê say muôn con tim. Không riêng dân Việt mà khán thính giả sành nhạc ở Âu Mỹ cũng ái mộ giai điệu trữ tình Văn Cao. Đặc biệt, tại Hoa Kỳ, tháng 7-1969, trước khi phi thuyền Apollo 11 phóng vào không gian, các phi hành gia được nghe một ít nhạc phẩm chọn lọc, trong đó có Thiên thai của Văn Cao (4):

            Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

            Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên

            Kìa đường lên tiên

            Kìa nguồn hương duyên

Và còn bao tình khúc Trương Chi, Suối mơ, Cung đàn xưa, Bến xuân, Thu cô liêu, Buồn tàn thu của Văn Cao bâng khuâng luyến nhớ, dạt dào kỷ niệm.

“Thiên thai” của Văn Cao

“Thiên thai” của Văn Cao

Tham gia phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm, nên Văn Cao gặp lắm rắc rối gian nan. Từ cuối thập niên 1950, Văn Cao ít sáng tác âm nhạc. Nói đúng hơn là chỉ “nghỉ khỏe” với ca khúc suốt nhiều năm, chứ Văn Cao thỉnh thoảng vẫn soạn nhạc phim. Mãi tới Tết Bính Thìn 1976, Văn Cao bỗng bật bài hát Mùa xuân đầu tiên rộn ràng điệu valse. Năm 1981, rộ lên “cuộc vận động sáng tác quốc ca mới”, song rốt cuộc chẳng bài nào thay nổi Tiến quân ca.

Văn Cao với đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

_________________

(1)   Ca dao xưa có câu: Hà Nội băm sáu phố phường. Nhiều tác phẩm văn nghệ lâu nay cũng ghi nhận không khác. Tập bút ký nổi tiếng của nhà văn Thạch Lam được in lần đầu năm 1943 dùng nguyên dòng ca dao nọ làm nhan đề. Thế nhưng, Nguyễn Vinh Phúc (1926 – 2012), nhà giáo ưu tú, nhà Hà Nội học, 1 trong 11 công dân thủ đô ưu tú năm 2010, viết trong tập 1 Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2000; trang 28 – 30) rồi in lại trong sách 1000 năm Thăng Long – Hà Nội (NXB Trẻ, 2009; trang 79 – 82): “Thực ra, phố và phường là 2 phạm trù khác nhau. (…) Không làm gì có cái gọi là Hà Nội 36 phố phường. Chỉ có Thăng Long thời Lê có 36 phường hoặc là Hà Nội thời Minh Mạng có 239 phường, thôn, trại và Hà Nội thời Tự Đức với 153 phường, thôn, trại. (…) 36 phường thời Lê không thể là 36 phố + phường được”.

(2)   Trích ca từ bài hát Chiến sĩ Việt Nam.

(3)   Trích ca từ bài hát Tiến về Hà Nội.

(4)   Chi tiết ấy đã được một số cây bút nêu, chẳng hạn Trường Giang viết trong bài Văn Cao – một tâm hồn, một tài năng, một nỗi ưu tư từng đăng báo Giáo Dục & Thời Đại, đã được giải thưởng Sugi Ryotari của Nhật Bản, rồi in vào sách Thời cuộc, con người & số phận (NXB Lao Động, Hà Nội, 1994; trang 15). Cần kiểm định tính xác thực của chi tiết ấy. Một số người khác – trong đó có Nguyễn Thanh Giang, Thanh Thảo, Nguyễn Thuỵ Kha – còn viết rằng bài Thiên Thai của Văn Cao được hoà tấu và “được chọn đưa vào băng nhạc để các phi hành gia Mỹ đem vào vũ trụ trên tầu Apollo”. Thông tin này chẳng chính xác, bởi vào tháng 7-1969, với mục đích sử dụng riêng cá nhân, phi hành gia Neil Amstrong đã mang lên phi thuyền Apollo 11 – chuyến bay đầu tiên đưa con người lên bề mặt nguyệt cầu – băng cassette Music Out of the Moon (Nhạc từ mặt trăng) của Samuel Hoffman tự biên tự diễn những nhạc phẩm sáng tác năm 1947 trên nhạc cụ điện tử theremin, và băng cassette New World Symphony (Giao hưởng Thế Giới Mới) của Antonín Leopold Dvořák (1841 – 1904).

(Còn nữa)

Mời quý bà con thưởng thức một số ca khúc của Văn Cao:

  • Tiến quân ca:

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Tien-Quan-Ca-Hop-Xuong/IWZAZ9BA.html

  • Tiếng gọi thanh niên:

http://mp3.zing.vn/bai-hat/Tieng-Goi-Thanh-Nien-Top-Ca/IW6I0OFE.html

  • Bắc Sơn:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dVPClRRLqai7

  • Tiến về Hà Nội:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=QqusXPfZVJ

  • Chiến sĩ Việt Nam qua giọng Lê Anh Tuấn:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=2Kb3wonLqR

  • Sông Lô qua giọng Lê Dung:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=pNCC2JtdNi

  • Gò Đống Đa qua giọng Giai Điệu Xanh:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=S95AKR7t5Q

Read Full Post »

Xuân phục sinh

Rock tung cước trên tượng đá Linga của Ravinder K. Bhardwaj (Ấn Độ). Ảnh: Phanxipăng

 

1

 

Ngày mẹ sinh con ra, cha đi ăn thịt chó

Cha ngồi dẩu mỏ bốc chuyện tùm lum

Không phải rượu bia đâu, chính con khiến cha hưng phấn tột cùng

Không phải bạn bè đâu, chính con đang tôn vinh cha phẩm bậc anh hùng

Thành tích lẫy lừng là sáng tạo nên một mấm mồng sáng tạo

Đời thường đè trĩu cha gánh nợ nần cơm áo

Làm sao thống kê bao mưa bão qua lòng?

Bao nhiêu lần nén lệ liệm mùa xuân?

Những mộng ước cha cất ủ nên mầm, mai này con gieo hạt

Những phác thảo mà cha còn dở dang, mai này con nối ngòi thành kiệt tác

Những kế hoạch của cha chưa thể triển khai, con sẽ hoàn tất ở tương lai

Con hãy là hoa, cha tình nguyện làm đài

Con – tên lửa, cha xin làm bệ phóng

Mẹ chắt lọc nên hình, cha theo con làm bóng

Chiếc bóng ân tình đằm thắm suốt đời con.

 

2

 

Ngày mẹ sinh con ra, cha no, cha say

No nê niềm vui, say sưa hạnh phúc

Giữa đông đúc phố phường, cha gắng kìm mình nhưng làm sao giấu được

Con trai là con trai ơi!

Cha muốn tung hê sự hân hoan đến tất thảy mọi người

Muốn rạp mình cảm tạ Đất Trời ưu ái ban cho mẹ cha ân sủng

Muốn vạn tuế nước non Nam bền vững

Muốn ngợi ca giòng giống Tiên Long

Ngày mai lớn khôn, hãy xứng đáng nhé con với truyền thống Lạc Hồng

Hãy nỗ lực nhé con thực hiện nhiều điều cha gửi gắm

Hãy thăng hoa từ da vàng máu thắm

Mẹ cưu mang con đâu chỉ chín tháng mười ngày

Mà trọn cả đời, tính tự tuổi thơ ngây

Đến khuất núi, niềm đau vừa kết tủa.

 

3

 

Ngày mẹ sinh con ra, ấy ngày cha sinh lại

Phép lạ phục sinh vĩ đại nhãn tiền

Những tiềm lực bấy lâu tưởng chừng ngủ yên

Nay quẫy dậy, trồi lên, bùng ra qua tiếng khóc.

 

                                                                            Vườn Ngọc, Huế

                                                                            Canh Ngọ 1990

                       

Phanxipăng

Đã đăng báo Long An Cuối Tuần – số đặc biệt Xuân Giáp Tuất 1994

Read Full Post »

Phanxipăng ngoạn cảnh Linh Sơn cổ tự trên núi Cao Các ở hải đảo Phú Quý. Ảnh: Mai Hoàng Thái

Phú & Quý

Bảo Phú Quý là “khối đá quánh khổng lồ”, chẳng những lưu ý về địa lý, địa hình, địa chất, địa mạo, mà còn về tình người, về quan hệ xã hội.

Như đã nói, do ảnh hưởng của nền kinh tế tự cấp tự túc suốt thời gian dài gần như biệt lập giữa trùng khơi, cuộc sống của người dân Phú Quý mang tính cộng đồng rất cao, thể hiện rõ qua mối tương thân tương trợ trong tình làng nghĩa xóm keo sơn. Ở đây, hễ nghe gia đình nào gặp tang ma hoặc vấp hoạn nạn, ngay lập tức đông đảo cư dân gần xa – dù chẳng họ hàng gì – kéo đến ân cần thăm nom, phụ giúp. Còn trai gái trên đảo Phú Quý yêu nhau, được cha mẹ đôi bên đồng ý chọn ngày lành tháng tốt thì “cho dâu theo rể” chứ chẳng rình rang nghi lễ. Và mỗi đám cưới nơi này, dẫu giản dị cũng trở thành ngày vui của mọi người nhờ phong tục “cưới hỏi vui chung, không mời cũng dự”.

Trung tâm huyện đảo Phú Quý. Ảnh: Đoàn Văn Dũng

Đặc biệt, trong quan hệ sản xuất, ở đây đã hình thành “tổ hợp” hoặc “hợp tác xã” tự bao đời. Xây nhà, làm nương, người nọ kẻ kia luân phiên đổi công giúp nhau chứ hiếm thấy thuê mướn thợ. Làm ăn tại Phú Quý, bất cứ ngành nghề gì, không có trường hợp “độc cô cầu bại”. Lập nhà máy nước đá, 3 hoặc 4 người hùn vốn. Đóng ngư thuyền, từ 8 đến 10 người hùn vốn. Thậm chí, mỗi bè nuôi cá mú tại Phú Quý cũng được xem là “công ty cổ phần”.

Lê Hoàng Phúc – tục gọi Phúc “chùa” – đang phất lên nhờ nghề nuôi cá mú ở khu vực Rạch Dù, cho biết:

– Tụi tui gồm 6 cổ đông, nuôi 2 bè cá. Bình quân mỗi năm lãi cỡ 25 ~ 30%. Hùn hạp làm ăn để chia sẻ lợi ích lẫn rủi ro, dựa trên chữ “tín”. Thỏa thuận với nhau bằng miệng, cùng lắm thì viết đôi dòng, chứ ít khi nhờ chính quyền xác nhận.

Có thể thấy thêm điều này qua dăm con số: toàn đảo Phú Quý hiện có 548 tàu thuyền với 3.882 lao động khai thác hải sản cũng góp vốn, góp sức cùng làm rồi chia phần theo tỉ lệ định trước. Họ phân công người điều hành, chịu trách nhiệm chung, chứ chẳng phân biệt chủ hay tớ như khách nước ngoài.

Niềm vui của ngư dân Phú Quý. Ảnh: Nguyễn Quốc Cường

Mai Hoàng Thái – trưởng phòng Giáo dục và đào tạo huyện Phú Quý – bộc bạch:

– Thái là dân trỏng ra đây công tác 17 năm liên tục, thấy Phú Quý ngày càng phát đạt, rất mừng. Theo số liệu của Ủy ban nhân dân huyện thì mức tăng GDP bình quân của toàn huyện vào thập niên cuối thế kỷ XX là hơn 17%, trong khi cả tỉnh Bình Thuận đạt chưa đầy 11%. Thu nhập của dân Phú Quý, tính trên đầu người mỗi năm là 310 USD. Vậy nhưng, mức hưởng thụ văn hóa của cư dân trên đảo Phú Quý còn quá hạn chế. Chưa có sân vận động. Chưa có nhà văn hóa. Thiếu hẳn hiệu sách, sạp báo. Đã lập trạm phát điện 3.000kw nhưng chỉ vận hành mấy giờ đầu hôm để bà con thắp sáng và coi tivi. Cứ 100 dân thì có 3,67 máy điện thoại, song điện đóm kiểu đó thì làm sao fax và nối mạng Internet? Tại đây, chỉ lắp điện thoại cố định thôi, chứ điện thoại di động hổng xài được vì mất sóng dài dài!

Tôi hỏi:

– Tình hình dạy và học ở Phú Quý thế nào nhỉ?

Mai Hoàng Thái xoa xoa tay:

– Dù Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã ban hành các quyết định số 566 (ngày 15-6-1994) và số 135 (ngày 2-2-1998) tạo chế độ đãi ngộ nhằm thu hút nguồn lực, song nạn thiếu giáo viên vẫn là “chuyện thường ngày ở huyện”, nhất là huyện đảo Phú Quý! Điều đáng mừng là thầy cô chấp nhận ra đây hầu hết cần cù, chịu thương, chịu khó và đoàn kết. Đã hoàn tất phổ cập tiểu học và chống mù chữ đạt chuẩn quốc gia từ năm 1999, vượt trước thời hạn đề ra. Mừng nhất là từ niên khóa 2000 – 2001 này, Phú Quý bắt đầu mở trường trung học phổ thông (THPT). Hồi trước, sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, con em trên đảo phải vất vả “gạo nắm cơn đùm” vào đất liền học tiếp, không ít gia đình vì hoàn cảnh khó khăn đã buộc trẻ thôi học. Tình trạng đáng buồn đó giờ đây chấm dứt.

Có lẽ do ghé vội nên mới đây, một ngòi bút đưa thông tin sai trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật rằng Phú Quý “không trường cấp III”. Tôi đến thăm trường THPT Ngô Quyền và nghe hiệu trưởng Lê Thiện Dũng giới thiệu:

– Ngày 6-10-2000, trường THPT Ngô Quyền – ngôi trường cấp III đầu tiên của huyện đảo Phú Quý – đã chính thức khai giảng niên khóa đầu tiên. Hiện mới có 3 lớp 10, gồm 109 học sinh, với 9 giáo viên đứng lớp. Anh thấy đó, cơ sở vật chất còn rất tạm bợ. Huyện đã bàn giao mặt bằng 2,4ha để khởi công xây dựng trường khang trang, bề thế.

Tôi cười:

– Phú Quý đang phú dần. Và đây là một tín hiệu lạc quan giúp đảo tăng phần quý. Phải vậy chăng?

Trường THPT Ngô Quyền trên đảo Phú Quý. Ảnh: Nguyễn Hữu Long

Nhớ mãi bữa tiệc tạm biệt tôi, bập bùng trên nền guitar, Lê Thiện Dũng cùng Mai Hoàng Thái song ca bài Ai ra Phú Quý. Bám chặt giai điệu bài Ai ra xứ Huế quen thuộc của Duy Khánh, khúc ca cải biên này vang vọng lời hẹn hò thiết tha mà dân hải đảo hiếu khách muốn gửi đến muôn người:

Ai ra Phú Quý thì ra

Ai về (là về) Ngũ Phụng

Ai về (là về) Tam Thanh…

Phanxipăng

Đã đăng Kiến Thức Ngày Nay số 380 (1-3-2001)

Read Full Post »

Đình làng Mỹ Khê trên đảo Phú Quý. Ảnh: Đức Nam

Khối đá quánh khổng lồ

Tài nguyên thiên nhiên phong phú nhất của đảo Phú Quý là gì? Xin thưa, đó là cá và đá. Về cá, nhiều bài báo đã đề cập, nhất là nghề săn cá mập, câu cá ngừ đại dương và nuôi cá mú. Vì thế, ở đây, tôi hướng ngòi bút vào… đá.

Ở Phú Quý, trên bờ cũng như dưới biển, có rất nhiều đá quánh, còn gọi là đá chai. Người dân cưa đá thành những khối hình hộp chữ nhật to nhỏ, dùng thay gạch để xây dựng nhà cửa, hầm hố, cầu cảng. Ông Nguyễn Thanh Hải – chủ tịch huyện đảo Phú Quý – cho biết:

– Toàn huyện đảo gồm 3 xã Ngũ Phụng, Tam Thanh, Long Hải. 100% nhà dân ở đây đều xây kiên cố, và anh thấy đó, có không ít nhà lầu. Ở đây, quanh năm gió lớn, hết mùa bấc tới mùa nồm, các kiểu nhà tranh, nhà tre, nhà gỗ không thể “trụ” nổi! Mà vật liệu xây dựng, hầu hết phải mua từ đất liền, vận chuyển ra đây thì giá thành vọt lên gấp nhiều lần. Mỗi viên gạch ở Phan Thiết chỉ 250 đồng, ra đảo phải hơn 600 đồng. Bởi vậy, vật liệu nào tại chỗ có khả năng thay thế được thì tích cực tận dụng. Đá quánh nằm trong số đó. Cảng Triều Dương đây là một hạng mục quan trọng trong Dự án biển Đông của chính phủ, vừa được hoàn thành với kinh phí 66 tỉ đồng. Xây cảng, nhờ đá quánh một phần, chứ không thì còn thặng chi!

Đá quánh thường tập trung ven bờ, tạo nên những hầm có độ sâu tối đa cỡ 5m. Có 2 loại hầm: già và non. Hầm già mới cho loại đá cứng, đúng tuổi. Gần đây, lúc khai thác đá quánh, người ta đã tình cờ phát hiện một số mộ vò lớn. Các chuyên gia khảo cổ nghe báo cáo, đến tiến hành khai quật và tìm thấy những đồ tùy táng đặc biệt: rìu, bôn, vòng đeo tay – tất cả đều bằng đá được chế tác khá tinh xảo. Nhận định bước đầu: các di chỉ ở Phú Quý tương tự ở Bà Hòe, Ma Lâm, Mỹ Tường và Đa Kai, được xếp vào nền văn hóa Sa Huỳnh tồn tại khoảng 2.000 ~ 3.000 năm trước. Nếu thế, bề dày lịch sử của đảo Phú Quý đâu còn “lơ thơ tơ liễu” như nhận thức trước kia.

Nhìn từ núi Cao Các. Ảnh: Đoàn Văn Dũng

Thời nhà Nguyễn, từ niên hiệu Thiệu Trị thứ IV (Giáp Thìn 1844), Phú Quý là một tổng thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận. Đến dịp Đồng Khánh nguyên niên (Bính Tuất 1886), toàn đảo được phân thành 11 làng. Rồi năm Canh Ngọ 1930, với sự sáp nhập 2 làng Phú Ninh vào Phú Mỹ và Hương Lăng vào Quý Thạnh, thì Phú Quý còn lại 9 làng: Long Hải, Phú Mỹ, An Hòa, Hải Châu, Thương Hải, Quý Thạnh, Triều Dương, Mỹ Khê và Hội An. Thấp thoáng trong bao địa danh cùng âm sắc, có thể phần nào nhận ra nguồn gốc các lưu dân đến Phú Quý thuở nào.

Mấy mươi năm bom đạn, đảo Phú Quý luôn được các phe tham chiến xem là vị trí quan yếu ở vùng lãnh hải phía nam nước Việt. Trong thập niên 1940, đây là “tọa độ lửa” của mặt trận Thái Bình Dương, nơi mà Pháp, Mỹ, Nhật tìm mọi cách tranh giành, chiếm đóng. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, nha hành chính đảo Phú Quý hình thành và năm 1958, Phú Quý được phiên làm một quận. Năm 1962, Phú Quý lại trở nên “cụm xã” thuộc quận Tuy Phong. Năm 1966, chuyển Phú Quý trực thuộc quận Hàm Thuận. Trước năm 1975, đảo Phú Quý từng đón nhiều chức sắc cao cấp của chính quyền Sài Gòn ra tận nơi để điều nghiên – chẳng hạn tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

Một góc xã Ngũ Phụng với tháp chùa Thạnh Lâm. Ảnh: Đoàn Văn Dũng

Sau ngày đất nước thống nhất, tỉnh Thuận Hải được thành lập với sự gộp 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Tuy vào tháng 3-1976, thì đảo Phú Quý là một đơn vị cấp xã thuộc huyện Bắc Bình. Ngày 15-12-1977, xác định tầm chiến lược quan trọng của đảo, Hội đồng chính phủ ban hành quyết định nâng cấp Phú Quý thành một huyện.

Và đến nay, Phú Quý – huyện đảo của tỉnh Bình Thuận – không chỉ là “hậu phương gần nhất” đối với quần đảo Trường Sa của nước ta, mà còn là “chốt tiền tiêu bằng khối đá quánh khổng lồ” của Tổ quốc án ngữ giữa biển Đông mênh mông hùng vĩ.

Nhà cửa ở Phú Quý được xây dựng chắc chắn. Ảnh: ITA

 (Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »