Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2012

Tượng đồng Âu Cơ (cao 1,6m của điêu khắc gia Nguyễn Phúc Tùng) trong đền Tổ Mẫu. Ảnh: Phanxipăng

Dăm chuyện gần xa

Về vấn đề niên đại thời Hùng Vương, nhiều nhà nghiên cứu trong lẫn ngoài nước từ lâu đã dày công khảo sát.

Giở lại thư tịch cổ, chúng ta biết rằng đến thời Trần, thế kỷ XIV, thì các mẩu chuyện về họ Hồng Bàng mới được Lý Tế Xuyên và Trần Thế Pháp lần đầu tiên ghi chép thành văn trong pho sách Việt điện u linh Lĩnh Nam chích quái. Sách ấy, qua thời Lê, thế kỷ XV, tiếp tục được Vũ Quỳnh và Kiều Phú san nhuận, bổ sung. Cũng thời Lê, quan Lễ bộ Tả thị lang Ngô Sĩ Liên mới chính thức đưa thời Hùng Vương vào bộ Đại Việt sử ký toàn thư. Một bộ sử biên niên của tác giả khuyết danh viết vào thời Trần, bộ Việt sử lược, từng đề cập tới thời Hùng Vương. Thư tịch này thực sự được chú ý rộng rãi từ năm 1960, sau khi NXB Văn Sử Địa ở Hà Nội ấn hành bản dịch của Trần Quốc Vượng. Sách có đoạn: “Đời Trang Vương nhà Chu (698 – 692 trước Công nguyên), ở bộ Gia Minh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương”.

Nếu vậy, thế kỷ VII trước Công nguyên là niên đại khởi đầu thời các vua Hùng có logic nội tại khả dĩ chấp nhận: với độ dài khoảng 450 ~ 500 năm cho 18 đời vua Hùng, thì mỗi vị vua cai trị bình quân 25 năm. Khung thời gian này tương ứng niên đại văn hoá khảo cổ học Đông Sơn, giai đoạn mà công cụ bằng đồng hoàn toàn chiếm ưu thế về mặt số lượng lẫn chất lượng so với công cụ bằng đá. Theo tài liệu Việt Nam những sự kiện lịch sử (từ khởi thuỷ đến 1858) do Viện Sử học biên soạn (NXB Giáo Dục, 2001; trang 10), ấy là “khoảng 2.700 năm trước”.

Như thế, chuỗi từ quá quen thuộc “4.000 năm văn hiến” cần phải hiệu chỉnh.

Phiên bản trống đồng trong Bảo tàng Hùng Vương. Ảnh: Phanxipăng

Cũng từ thập niên 1960, nhiều vấn đề về thời đại Hùng Vương đã được tập trung nghiên cứu, mà 4 tập kỷ yếu Hùng Vương dựng nước do NXB Khoa Học Xã Hội ở Hà Nội ấn hành vào các năm 1970, 1972, 1973 và 1974 có thể xem là thu hoạch đáng phấn khởi. Mùa giỗ Quốc Tổ năm 1971, cuốn sách Thời đại Hùng Vương do tập thể tác giả Văn Tân, Nguyễn Linh, Lê Văn Lan, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Hưng hợp soạn, được ấn loát, rồi được bổ sung nhằm tái bản vào năm 1976. Năm 1982, NXB Thanh Niên “trình làng” sách Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước của Lê Văn Hảo. Từ ấy đến nay, nhờ nghiên cứu tổng hợp, toàn diện, liên và xuyên ngành – thư tịch học, cổ sử học, khảo cổ học, folklore học, nhân chủng học, dân tộc học, ngôn ngữ học, v.v. – nên công cuộc “giải ảo hiện thực” về thời đại vua Hùng dần đạt lắm kết quả thuyết phục.

Gần đây, một số trí thức trẻ ngoại quốc như K. Taylor (Hoa Kỳ) và I. Sakurai (Nhật Bản) bảo vệ thành công luận án sử học với đề tài Việt Nam, đều khẳng định vua Hùng là tổ tiên bắt đầu dựng nước trước Công nguyên, và thế hệ các nhà quý tộc Lạc đã hình thành truyền thống tâm linh sâu xa cho cộng đồng dân Việt.

Múa chàm đuống / đâm đuống (giã cối) tại lễ hội đền Hùng. Ảnh: Phanxipăng

Kể từ năm Nhâm Ngọ 2002, Chính phủ Việt Nam đã quyết định chọn ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch làm quốc lễ. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ là ông Trần Kim Thau cho biết:

– Công việc chuẩn bị cho ngày quốc lễ đầu tiên, 22-5-2002, được tiến hành rất khẩn trương. Nội thất các đền Thượng, Trung, Hạ, Giếng và chùa Thiên Quan được tu bổ đàng hoàng. Đồng thời, hoàn tất bãi đỗ xe đủ chỗ cho 500 ô tô.

Ghi công đức tu bổ đền Hùng. Ảnh: Phanxipăng

Năm Đinh Hợi 2007, Chính phủ tiếp tục quyết định: cán bộ công nhân viên chức lẫn sinh viên và học sinh cả nước đều được nghỉ ngơi vào ngày giỗ Quốc Tổ, nên chuyến hành hương đền Hùng dịp mùng 10 tháng 3 thêm thuận lợi.

Hát xoan trong dịp giỗ Quốc Tổ. Ảnh: Phanxipăng

Năm Canh Dần 2010, tại Phú Thọ, lễ hội đền Hùng được tổ chức lớn nhất từ trước đến nay với quy mô cấp quốc gia, kéo dài 10 ngày. Khai mạc từ mùng 1 tháng 3 âm lịch nhằm thứ tư 14-4-2010, lễ hội gắn liền ngày hội văn hoá – thể thao – du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ VII, tôn vinh thời đại vua Hùng và hướng về 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Hân hoan trẩy hội, chắc chắn ai nấy – nhất là con Lạc cháu Hồng – thảy đều phấn khởi, chẳng hạn lúc nghe trai thanh gái lịch cất giọng dân ca ngọt lịm:

Này anh, này em, cùng lên

Lên non Cổ Tích, viếng đền Hùng Vương.

Phanxipăng lên non Cổ Tích. Ảnh: Văn Lự

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Tài Hoa Trẻ 206 (2002)
  • Thế Giới Mới 881 (26-4-2010)

Read Full Post »

Dù ai đi ngược, về xuôi,

Nhớ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3.

Khắp miền truyền mãi câu ca,

Nước non vẫn nước non nhà nghìn năm.

Ca dao

Phanxipăng trẩy hội đền Hùng dịp giỗ Quốc Tổ. Ảnh: Văn Lự

   L

à người Việt Nam, ít nhất một lần trong đời nên ghé tỉnh trung du Phú Thọ, lên núi Nghĩa Lĩnh, thăm viếng đền Hùng. Xuất phát từ thủ đô Hà Nội, có thể đáp tàu lửa, hoặc phóng ô tô, hoặc cưỡi môtô, hoặc dùng tàu thuyền bập bềnh sóng nước sông Hồng. Chuyến hành hương diễn ra vào mùng 10 tháng 3, đúng kỳ giỗ Quốc Tổ, chắc chắn càng đông vui, càng đậm đà ý nghĩa.

Trẩy hội đền Hùng

Vượt sông Lô, qua khỏi trung tâm thành phố Việt Trì một quãng 10km, đã thấy núi Nghĩa Lĩnh – còn gọi núi Nghĩa Cương / núi Hy Cương / núi Cổ Tích / núi Cả / núi Hùng – hiện ra. Đó là ngọn núi cao 175m đột khởi giữa vùng gò đồi um tùm cây cối. Các nhà nghiên cứu thực vật đã thống kê được 636 loài cây thuộc 429 chi của 144 họ sinh trưởng ở đây. Cũng tại đây, liên tiếp mấy chục năm nay, các chuyên gia khảo cổ đã phát hiện và khai quật hàng loạt di chỉ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt sớm. Những chiếc cuốc đá, lưỡi cày đồng, liềm hái đồng thau, rìu sắt, cùng đồ trang sức – như chuỗi hạt, khuyên tai, vòng tay, v.v. – đang được trưng bày trong Bảo tàng Hùng Vương dưới chân núi Nghĩa Lĩnh. Ấy là những di vật quý báu, góp phần minh chứng sự tồn tại của thời đại vua Hùng được xem cắm mốc khai sáng tiến trình lịch sử Việt Nam.

Phanxipăng trước cổng “Cao sơn cảnh hành” dịp giỗ Quốc Tổ năm 2008. Ảnh: Văn Lự

Cổng chính dẫn lên đền Hùng được xây dựng năm Đinh Sửu 1817, niên hiệu Khải Định II, có hoành phi 髙山景行 Cao sơn cảnh hành. 4 đại tự kia cô đúc đôi dòng Kinh Thi: Cao sơn ngưỡng chỉ; cảnh hành hành chỉ. Nghĩa: Núi cao, ta ngẩng trông; đường rộng, ta đi tới. Cổng chính còn câu đối:

拓始開基四顧山河歸本籍

登高望遠群峰羅列敘兒孫

Phiên âm:

Thác thuỷ khai cơ, tứ cố sơn hà quy bản tịch;

Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn.

Chưa rõ ai dịch:

Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông quy một mối;

Lên cao nhìn rộng, nghìn trùng đồi núi tựa đàn con.

Lần đầu tôi viếng đền Hùng vào năm 1981, lúc còn học khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm I Hà Nội. Lại Thị Bích Tuyết – cô bạn sinh viên cùng lớp độ ấy – là người quê đất Tổ đã tặng tôi cuốn Truyền thuyết Hùng Vương do Nguyễn Khắc Xương chủ biên và Hội Văn nghệ dân gian Vĩnh Phú xuất bản năm 1979, nhằm giúp tôi tìm hiểu thêm nội dung cặp câu đối vừa dẫn.

Viếng đền Hùng năm 1981. Trái sang: Phạm Bá Thịnh, Nguyễn Thị Bạch Nhạn, Nguyễn Đắc Diệu Lam, Võ Văn Thắng, Tôn Thất Dụng, Phanxipăng. Ảnh: Trần Mạnh Tiến

Theo truyền thuyết thì vua Hùng đi rất nhiều nơi để tìm đất đóng đô cho quốc gia Văn Lang, cuối cùng chọn miền Phong Châu và đặt cung nơi núi Nghĩa. Một trăm con voi từ khắp cả nước rủ nhau về chầu mừng, tất cả phủ phục quanh núi Nghĩa y như đàn con nằm quanh mẹ. Vua rất ưng ý. Chợt một con voi rời bầy, quay đuôi, ngoảnh đầu phương khác. Vua đùng đùng nổi giận, gọi con gái là công chúa Bầu, trao nàng kiếm báu rồi hạ lệnh xử trảm con voi bất nghĩa. Công chúa Bầu cất tiếng luận tội voi, đoạn vung kiếm bổ một nhát vỡ sọ voi. Từ bấy trở đi, con voi bất nghĩa vẫn đứng trơ chịu tội với dòng máu đỏ rỉ ra từ cổ và hộp sọ bị toác một góc. Đó chính là quả đồi thuộc địa phận xã Phú Lộc, huyện Phù Ninh. Còn 99 con voi thuận nghĩa thuận tình là hệ thống các ngọn đồi to nhỏ nhấp nhô quanh đền Hùng.

Di tích đền Hùng gồm 5 hạng mục chính: chùa Thiên Quang, đền Hạ, đền Trung, đền Thượng và đền Giếng.

Leo 225 bậc thềm vắt triền non, hai bên rợp bóng cổ thụ, khách đặt chân tới chùa Thiên Quan và đền Hạ. Tương truyền đây là nơi mẹ Âu Cơ sinh ra cái bọc 100 trứng, nở thành 100 chàng trai và cô gái khổng lồ, thông minh, xinh đẹp. Ấy là tổ tiên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Leo tiếp 168 bậc thềm nữa, khách đến đền Trung. Truyền thuyết kể rằng tại địa điểm này, xưa kia vua Hùng thường triệu tập các Lạc hầu và Lạc tướng họp bàn việc nước. Đây cũng là nơi Lang Liêu từng dâng bánh chưng, bánh dầy.

Phanxipăng viếng đền Trung năm 1981. Ảnh: Phạm Bá Thịnh

102 bậc thềm cuối cùng đưa khách lên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, thăm đền Thượng tức Kính Thiên Lĩnh Điện. Dân địa phương gọi đó là “ngôi điện chính giữa chín tầng mây” và bảo rằng thuở trước là toà miếu do đích thân vua Hùng đời thứ VI lập để thờ ông Gióng / Dóng tức Phù Đổng Thiên Vương – vị anh hùng chiến thắng giặc Ân xâm lược. Miếu điện nọ bây giờ trở thành chốn thờ 18 vị vua Hùng, mặt tiền nổi bật bức hoành phi 南越肇祖 Nam Việt triệu tổ.

Có một công trình nhỏ nằm chếch bên đền Thượng, mang tính tượng trưng song rất trang nghiêm: lăng Hùng Vương. Cạnh đây còn cột đá thề, tương truyền do Thục An Dương Vương dựng lên sau khi được vua Hùng đời thứ XVIII nhường ngôi, với lời thề: “Nguyện có trời cao lồng lộng chứng giám xét soi, xin đời đời giữ gìn non sông bền vững và trông nom miếu vũ họ Hùng”. Cột đá ấy ghi dấu sự ra đời một Nhà nước mới, kế tục Nhà nước Văn Lang: Nhà nước Âu Lạc.

Phanxipăng thăm lăng Hùng Vương năm 1981. Ảnh: Phạm Bá Thịnh

Từ đền Thượng, lần theo con đường uốn lượn quanh co xuống đền Giếng, khách có thể vừa chạm tay vừa ngắm nghía giếng Ngọc. Dân gian tin rằng xửa xưa, bên miệng giếng kia, hai nàng công chúa đảm đang và xinh đẹp nổi tiếng của vua Hùng là Mỵ nương Tiên Dung và Mỵ nương Ngọc Hoa ngày ngày vẫn đến soi bóng mà chải tóc.

Trên đỉnh núi Vặn, còn gọi Ốc sơn, cao 171m so với mặt biển, cách núi Nghĩa Lĩnh 1km, có đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ. Đền này được khởi dựng ngày 18-9-2001, khánh thành ngày 18-1-2005. Đó là công trình thiết kế của kiến trúc sư Hoàng Đạo Cương (con trai của kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính và cháu nội của “thủ lĩnh phong trào Hướng đạo Việt Nam” là Hoàng Đạo Thuý), đã nhận giải thưởng Kiến trúc Việt Nam năm 2004.

Cổng đền Âu Cơ Tổ Mẫu. Ảnh: Phanxipăng

Lễ giỗ Quốc Tổ vào năm 2008, tôi cùng Nguyễn Văn Lự – giáo viên Văn trường PTTH Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc – lên thăm đền này. Lự thở phì phò, vuốt mái tóc ướt đẫm mồ hôi:

– Nếu lắp cáp treo từ núi Nghĩa sang núi Vặn thì quá tốt, nhất là với quý cụ già và các sản phụ.

Tôi cười:

– Lắp cáp treo không chỉ từ núi Nghĩa sang núi Vặn, mà sang cả núi Sim, nơi có đền thờ Tổ Phụ Lạc Long Quân.

Đền thờ Tổ Phụ Lạc Long Quân được khởi dựng trên đỉnh núi Sim ngày 26-3-2007 và khánh thành ngày 29-3-2009.

Cần thêm rằng tại TP. Việt Trì – tỉnh lị Phú Thọ – còn có Bảo tàng Hùng Vương với tổng vốn đầu tư hơn 165 tỉ đồng, gồm 19 hạng mục được xây dựng trên diện tích 15.732m2, đã động thổ ngày 25-12-2007, vừa khánh thành sáng 14-4-2010.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Vô đề

Chân dung Phanxipăng. Ảnh: Đức Huy

 

 

Ngậm hạt muối nhận ra đời vị ngọt

Nhai miếng cơm thấm từng giọt lệ cô

Gió Nam hạn rạn chân chim lời hát

Bao nỗi niềm thổi bạt trái trăng khô.

 

Bình Điền,

Khai bút Tết Con Cọp 1987

 

 

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Văn Hoá Quảng Trị 8 (10-1992)

Rồi in trong sách Album thơ 1 của Phanxipăng (NXB Trẻ, 1995)

Read Full Post »

Huế ơi! Voi bảo (IV)

Voi thồ du khách dạo thăm Đại Nội. Ảnh: Phanxipăng

Bốn voi biết mấy nỗi niềm

Nước ta đang còn nghèo. Sánh với nhiều tỉnh thành trên toàn quốc, Thừa Thiên – Huế lại là một địa phương bấy lâu còn nhiều hạn chế về quy mô lẫn tốc độ phát triển kinh tế, đến nay vẫn nằm trong diện được trung ương điều tiết ngân sách chi tiêu hằng năm. Khai thác tiềm năng du lịch, chủ yếu du lịch văn hóa và du lịch sinh thái, là một trong những định hướng hợp lý để miền Hương Ngự vượt thoát khó nghèo mà các đợt Festival đóng vai trò “cú hích” đáng kể. Tuy nhiên, tổ chức lễ hội thế nào cho “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” mà không lãng phí tiền của nhân dân là bài toán mà các nhà tổ chức ở cố đô dường như chưa giải quyết tối ưu. Ví dụ tiêu biểu là bài toán lẻ mang tên “con vỏi con voi”. Dẫn đầu đoàn ngự đạo từ Đại Nội lên Nam Giao rồi hồi cung, xài voi giả “e chẳng ra thể thống chi”, cớ sao không thuê mướn voi đủ dùng trong thời hạn ngắn – như Buôn Ma Thuột hay Bình Định đã áp dụng – có phải vừa đỡ hao tốn, vừa khỏi phiền hà?

Theo tìm hiểu của tôi, giá thực tế mỗi chú voi xê xích từ 70 đến 90 triệu đồng, nguyên bộ tứ tượng là 364 triệu đồng. Chắc phải cộng bao khoản phí tổn khác – như phí vận chuyển, phí giao tế, phí môi giới, phí mãi lộ, phí vân vân và vân vân – thì hóa đơn mới vọt tới 500 triệu đồng như báo chí từng nêu và trang web của Văn phòng Festival Huế đã xác nhận.

Kể ra, nửa tỉ đồng chưa phải là con số cuối cùng. Bởi lẽ hiện nay, hằng tháng đều chi ngót ngét 120 triệu đồng cho việc nuôi nấng, chăm sóc, huấn luyện bốn con thú có vòi kia. Ấy là chưa kể những khi trái gió trở trời, voi hơi bị… nhác chơi, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế cấp tốc cử cán bộ quay lại Buôn Đôn mua biệt dược về chữa bệnh cho nó. Nghe đâu thuốc cực hiếm, bào chế bằng sừng sơn dương chết già lâu ngày trong núi thẳm Chư Yang Sin với một số cây rừng đặc biệt, mỗi liều mấy triệu đồng. Vụng tính cũng bật ra đáp số khó sai: mỗi năm mỗi “đóng hụi chết” cho voi cỡ 1,5 tỉ đồng nữa. Hỡi ôi!

– Chà chà… Tính tới về hưu, chắc tổng giá thành mỗi con voi bằng một cây… cầu Trường Tiền! Tiền nớ mà đầu tư nâng cấp trường lớp, sửa sang đường sá và chợ búa, trùng tu tôn tạo danh lam thắng cảnh, giúp thuốc thang cho bệnh nhân hay trợ vốn cho dân nghèo mần ăn thì mới thiết thực góp phần biến nguyện ước “quốc thái dân an” chóng trở thành hiện thực. Phải rứa không hè?

Trò chuyện với tôi, một giáo viên đang dạy tại Huế (xin được dấu tên) ngao ngán thốt lên một cách “u mặc” như thế. Anh ấy liên tưởng công trình phục chế cung cầu sáu vài, mười hai nhịp bắc qua sông Hương giữa thập niên 1990: dự toán 3 tỉ đồng, hoàn công lại quyết toán gấp 18 lần, tức 54 tỉ đồng! Những món tiền tỉ kia, khoản thâm thủng, thất thoát đi đâu và vì sao? Cầu không biết trả lời. Voi chỉ biết… rống.

Và voi đã rống!

Sáng chủ nhật 18-4-2004, sau cả tuần lơ ăn, con voi cái Bun Rang khẽ rống thiểu não, đoạn trút hơi thở cuối. Ba con voi đực đồng thanh rống vang như sấm, tiếng rống đoạn trường phút vĩnh biệt bạn tình, khiến bao hộ dân lân cận giật thót. Chiều cùng ngày, các ban ngành chức năng ở địa phương cử hành lễ an táng nàng voi “hồng nhan bạc mệnh” đằng sau lăng ông Hoàng. Có người bình luận:

– Rứa là chôn một két tiền vĩ đại. Con voi nớ bằng mấy gia tài người ta. Voi lỡ ngủm rồi, chôn chi uổng! Răng không mổ thịt chia mỗi người một miếng để nấu… xáo? Ông bà truyền dạy rằng thịt voi ngon lắm, quý lắm mờ lị.

Nghe vậy, xin bạn chớ cười bảo thiên hạ giễu đùa. Không, nội dung lời thoại ấy hoàn toàn đúng sự thật. Trong Bulletin des Amis du Vieux Hué (Tập san Đô Thành Hiếu Cổ) ấn hành năm 1922, nhà Huế học tiền bối Léopold Cadière công bố thiên khảo cứu Les Éléphants royaux (Ngự tượng) đã căn cứ vào tư liệu của các chứng nhân như Pierre Poivre và Michel Đức Chaigneau để khẳng định rằng từ thế kỷ XVIII và XIX, dân Đàng Trong đánh giá cao các món thịt voi – loại đặc sản ngon tuyệt. Đàng Ngoài hồi ấy cũng y hệt. Léopold Cadière trưng dẫn hồi ký của nhà truyền giáo Tissanier và Dopier để làm bật chi tiết: chúa Trịnh cùng các quan chức Bắc Hà rất khoái chén thịt voi. Thuở xưa, người Việt thường chỉ xẻ thịt voi khi nó chết già hoặc chết bệnh vì đây là loài thú quý. Thư tịch cổ Đông y như Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh và Lĩnh Nam bản thảo của Lê Hữu Trác lại ghi nhận rằng hầu hết bộ phận cơ thể voi – từ thịt, da, mật, cho tới xương và ngà voi – đều có thể chế biến thành thuốc dành trị vô số bệnh tật cho người. Ngày nay, voi càng quý hiếm, đã có tên trong “sách đỏ”. Săn bắn voi và buôn bán ngà voi bị thế giới cấm tiệt. Mức độ quý hiếm có thể định lượng cụ thể hơn: theo thông tin trên báo Người lao động ra ngày thứ hai 19-4-2004 thì voi Bun Rang đã được bán về Huế với giá 73 triệu đồng.

Nếu hạch toán kinh doanh rành mạch, rõ ràng đơn giá ba con voi còn lại đã “ô-tô-ma-tích” gia tăng. Chúng vừa chuyển về ngụ tại địa chỉ mới: thôn Cư Chánh 2, xã Thủy Bằng, huyện Huơng Thủy – cách đàn Nam Giao dăm cây số về hướng tây nam. Sau tế Giao, tam tượng sẽ được dùng vào các lễ hội cung đình khác mà Huế dự kiến sẽ dần phục hiện, trong đó có lễ đăng quang của hoàng đế Quang Trung trên núi Bân tức núi Ba Tầng. Còn bình thường thì voi sẽ túc tắc thồ du khách lượn lờ ngoạn lãm cố đô, đủ thu tiền lai rai. Mỗi suất vé cỡi voi dứt khoát không rẻ, do phải gánh phí bảo hiểm hơi bị cao, dự phòng trường hợp… bất thường. Chuyện voi hoảng loạn đạp gãy xương bả vai và xương sườn du khách Vũ Quang Phúc (TP. HCM) tham quan Đăklăk hồi tháng 5-2003 là một ví dụ khác cần cảnh báo bên cạnh loạt ví dụ về voi dữ sát nhân ở Bình Thuận và Quảng Nam.

Mà bất thường sẽ là quy luật tất yếu! Bởi chưng, ba con voi đực – gồm Y Then, Y Trang và Y Khun – lâu ngày thiếu voi cái “thủ thỉ tâm… thần”, đố ai đoán trước trạng thái tâm sinh lý tam tượng biến đổi kiểu gì? Tậu thêm một tiểu thư voi nữa để ghép thành bộ tứ cho “điều hòa âm dương” ư? Vậy thì vốn đầu tư tiếp tục thặng chi, mồ hôi nước mắt nhân dân tiếp tục rò rỉ!

Giá vé du lịch bằng voi tại Huế hiện thời. Ảnh: Phanxipăng

 Bao giờ Huế gỡ huề vốn voi? Giá biết ca dao, voi dám cải biên mà ỡm ờ hứa:

–  Huế ơi! Voi bảo Huế này,

        Rước voi về Huế có ngày lãi hung!

                        Xin đừng bàn bạc lung tung…

Phanxipăng

Đăng Thế Giới Mới 584 (10-5-2004) & 585 (17-5-2004)

Read Full Post »

Voi tham gia phục dựng lễ hội Nam Giao dịp Festival Huế 2004. Ảnh: Vĩnh Khánh

275.000 người chung lo 1 voi

Báo điện tử VietnamNet ngày 11-4-2004 đã dẫn lời ông Lê Viết Xê, phó chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế kiêm trưởng ban tổ chức Festival Huế, phát biểu quanh chuyện voi:

– Phục hồi lễ tế Nam Giao là ý tưởng có từ lâu nhưng chỉ thiếu voi. Nay mua voi về rồi mới thấy phức tạp thật!

Kiến trúc sư Phùng Phu, giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế – đơn vị mà tỉnh giao nhiệm vụ trực tiếp mua và nuôi voi – bày tỏ:

– Nuôi voi (là việc) mới quá, cái gì cũng phải mày mò!

Báo vừa nêu còn đăng ý kiến chỉ đạo của ông Lê Viết Xê:

– Mua voi là chủ trương của tỉnh. Chuyện nuôi voi, huấn luyện voi không riêng gì của Trung tâm bảo tồn di tích Huế.

Từ trung tuần tháng 3-2004, trang web chính thức của Văn phòng Festival Huế cho hay: UBND Thừa Thiên – Huế vừa triệu tập các ban ngành trong tỉnh họp bàn chuyện nuôi nấng, huấn luyện và khai thác voi. Trung tâm Bảo tồn di tích Huế đề xuất chọn khu vực gần lăng Thiệu Trị làm nơi nuôi dưỡng voi lâu dài, và đề nghị tỉnh cấp đất rộng làm nông trại chuyên sản xuất nguồn thức ăn cho voi. Bế mạc phiên họp, ông Lê Viết Xê kết luận:

– Sẽ thành lập nhóm chuyên trách công tác nuôi dưỡng, huấn luyện và sử dụng voi, gồm đại diện Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế, Chi cục Thú y, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài chính, Sở Du lịch, Công an thành phố Huế, Văn phòng Festival Huế và Ban điều hành lễ hội Nam Giao. Nhóm này có nhiệm vụ sớm xây dựng đề án nuôi dưỡng và khai thác voi trong và sau Festival Huế 2004; chú ý ưu tiên cho công tác tập luyện phục vụ tế Giao sắp tới. Về địa điểm nuôi voi, Trai cung chỉ là nơi tạm thời, sẽ tìm nơi thích hợp để chuyển dời sau.

Hiện tại, gắn chặt với bốn con voi đã có cả đội ngũ cán bộ công nhân viên phiên chế thành bốn ban. Ban huấn luyện gồm các quản tượng người M’nông và người Tà Ôi. Ban hậu cần gồm lực lượng cắt cỏ, chở nước, nhập mía, mua chuối, làm tạp dịch cho tứ tượng. Lại thêm ban y tế và ban an ninh nữa. Ấy thế mà cả bốn ban vẫn lúng ta lúng túng trước khối chuyện phát sinh từng ngày, thậm chí từng giờ từ bốn con thú kềnh càng.

Tính bình quân mỗi con voi được bao nhiêu người chăm lo? Nếu bảo cả tỉnh chung lo, tùy chức năng mà người nhiều kẻ ít, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, thì phải lấy số dân toàn Thừa Thiên – Huế ngày nay khoảng 1,1 triệu mà chia tư. Vị chi mỗi voi được những 275.000 người cùng quan tâm. Nhất voi rồi! Vậy kính xin Uy Viễn tướng công hoan hỷ để kẻ hậu sinh “biên tập” dăm vần trong bài lục bát Vịnh cây thông lừng danh của Người cho sát hợp thời cuộc bây giờ:

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm con voi tế trên đồi Nam Giao.

Trên đồi sung sướng làm sao,

Muốn sướng gấp bội, nhào vào… buôn voi!

Ví ai đấy chịu khó ghi chép tỉ mỉ mọi vụ việc liên quan bộ tứ tượng Nam Giao, thiển nghĩ dư thừa chất liệu để xây dựng dăm pho tiểu thuyết tiếu lâm hiện đại.

Festival Huế 2004, voi tham gia phục dựng lễ hội Nam Giao. Ảnh: Vĩnh Khánh

Huế tổ chức Festival hai năm một lần, tiến tới tạo lập thành phố festival đặc trưng của Việt Nam: đấy là kế hoạch được nhiều cấp nhiều ngành từ địa phương đến trung ương tán đồng, được nhiều tổ chức trong lẫn ngoài nước ủng hộ, được đông đảo công chúng gần xa hưởng ứng. Nhằm mở rộng không gian và làm tăng vẻ phong phú của chương trình Festival Huế, phục hiện lễ tế Giao cũng là ý tưởng rất hay nếu tiến hành theo tiêu chí “lược bớt những lễ nghi rườm rà, tốn kém, không phù hợp với thời đại ngày nay, chỉ giữ lại tinh thần chính là cầu quốc thái dân an” như lời ông Nguyễn Xuân Hoa, giám đốc Sở Văn hóa Thông tin Thừa Thiên – Huế kiêm phó ban tổ chức Festival Huế, từng tuyên bố với báo giới. Tuy nhiên, bốn con voi Tây Nguyên đã và đang làm gợn lên bao vấn đề buộc những ai thiết tha yêu mến quê hương thảy đều băn khoăn trở trăn suy nghĩ.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »