Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm, 2012

Biển trăng

Tinh khiết. Ảnh: Dương Quốc Định

Sóng quang xô xuống từng ghềnh đá

Ta nhập vào trăng. Trăng cuốn ta

Trăng thơm trăng mát như môi má

Nguyệt triều từng đợt vút ra xa.

 

Bờ bãi đâu rồi, đâu thấy đâu?

Đây là nơi nao sâu quá sâu?

Mông mang sởn buốt ngời gai lạnh

Trời hỡi, chồm lên sóng vàng đầu!

                        

                                                    1975

 

Phanxipăng

Đã đăng Vũng Tàu Chủ Nhật số đặc biệt Xuân Quý Dậu 1993

Và in trong Album thơ 1 của Phanxipăng (NXB Trẻ, 1995)

Read Full Post »

Vui chơi hồ Tịnh

Mấy đặc sản hồ Tịnh

Hồ Tịnh Tâm còn âm khác là hồ Tĩnh Tâm. Người dân xứ Huế xưa nay quen gọi một cách vắn tắt: hồ Tịnh. Và nhắc tới hồ Tịnh, ai nấy liền nghĩ ngay tới đặc sản lừng danh của địa phương: sen. Ca dao miền Hương Ngự có câu:

Hồ Tịnh Tâm nhiều sen bách diệp,

Đất Hương Cần ngọt quýt, thơm cam.

Sen bách diệp có hoa nhiều cánh nhỏ màu hồng, được thiên hạ tôn vinh là “giống sen quý nhất trong tất cả giống sen”. Có khả năng sen bách diệp chỉ thắm sắc khoe hương vào giai đoạn thịnh thời của thượng uyển Tịnh Tâm. Chứ thực tế bấy lâu, sen trồng trong hồ này chẳng phải giống sen bách diệp, mà là giống sen trắng và sen hồng bình thường.

Sen hồ Tịnh. Ảnh: Đào Hoa Nữ

Lạ thay, sen thường mọc ở hồ Tịnh cũng thành sen quý! Dễ dàng kiểm chứng điều ngỡ “khó tin nhưng có thật” kia nếu so sánh hạt sen hồ Tịnh với hạt sen nơi khác bằng cách xơi thử đồng thời. Kinh nghiệm ẩm thực kia đã được khá đông người thừa nhận. Chẳng hạn trong sách Nguyễn triều cố sự (NXB Đà Nẵng in lại, 1997; trang 17), Bửu Kế khẳng định: “Huế nổi tiếng về hạt sen vừa bở vừa thơm, nhưng phải nếm hạt sen Tịnh Tâm mới thưởng thức được mùi vị tuyệt vời của nó”. Nấu chè sen, cơm sen, xôi sen, súp sen, phụ nữ cố đô kén chọn bằng được hạt sen Tịnh làm nguyên liệu mới mong món ăn đạt phẩm tính ưu việt. Gửi biếu bà con bè bạn sành điệu ở phương xa, bên cạnh nón bài thơ, mè xửng, tôm chua, mắm rò, nem, chả, tré, v.v., hạt sen hồ Tịnh tươi hay khô luôn được dân Huế coi là món quà quê hương trang nhã và ý vị vô ngần. Phải chăng nhờ hồ Tịnh có những yếu tố thủy thổ nào đấy phù hợp tối ưu với loài hoa nhị vàng, bông trắng, lá xanh thuộc họ thực vật Nelumbonaceae mà khoa học hiện đại vẫn chưa phân tích thật đầy đủ?

Xôi hạt sen. Ảnh: Phanxipăng

Cùng với hạt sen quá lừng danh, hồ Tịnh còn đôi sản phẩm khác cực kỳ đáo khẩu nhưng ít ai biết, ngoại trừ nguyên người quanh quất đâu xa. Gì thế nhỉ? Xin thưa: rau muống và cá – đặc biệt cá rô.

Rau muống hồ Tịnh. Ảnh: Trần Minh Tâm

Nói chuyện này, chợt nhớ Phùng Quán (1932 -1995), nhà thơ từng “nhân danh bùn, nhân danh sen” để đòi đuổi câu ca dao trong đầm gì đẹp bắng sen ra “khỏi kho báu dân gian”. Lần nọ về thăm Huế, Phùng Quán được một nghệ nhân chế tác non bộ có họ tên Phạm Văn Mùi – biệt hiệu là Mùi Tịnh Tâm vì bấy giờ cư ngụ giữa hồ Tịnh – trịnh trọng chiêu đãi hai món cây nhà lá vườn gồm rau muống trộn (nộm / gỏi) và cá rô chiên giòn tươi roi rói chính hiệu Tịnh Tâm. Nhà thơ lão thành gốc Thừa Thiên tập kết ra Bắc, bao năm câu trộm cá hồ Tây và hồ Trúc Bạch ở thủ đô Hà Nội, chắc chắn thạo cá phải biết, đương nhiên thạo luôn rau muống các kiểu như vẫn thạo quả cà “lao lực khiêm nhường”. Thế nhưng, hôm ấy nơi vườn ngự hoang tàn, bên “hồ khuya sương tịch mịch” và dưới “ánh trăng hạ huyền như một lưỡi gươm cong” (thơ Phùng Quán), nhấp ngụm rượu gạo làng Chuồn nồng đượm rồi gắp miếng mồi rau muống, nhâm nhi mấy chú rô, Phùng thi sĩ ngạc nhiên khôn xiết.

Câu cá hồ Tịnh. Ảnh: Võ Hương Lan

Mùi Tịnh Tâm tường thuật:

– Bác Quán bảo thứ chi chứ cá rô ở một số địa phương từng được “kho báu dân gian” công nhận, bác đã nếm qua. Nào cá rô làng Cháy, cá gáy làng Chờ của Hà Tây. Nào cá rô đồng Giá, rổ rá Ngẫu Khê của Thái Bình. Nào cá rô đầm Sét, cá chép Sơn Vi của Hà Nội và Phú Thọ. Toàn ngon có cỡ. Bác thực sự bất ngờ khi thưởng thức cá rô hồ Tịnh, mức độ ngon cam đoan thì treo giải nhất, chi nhường cho ai. Cọng rau muống hồ Tịnh càng khiến bác Quán trầm trồ: ”Món rau ni quá ư phổ biến, từ Bắc vô Nam, mô cũng sẵn; ai dè Huế mình có thứ rau muống xanh nõn như ngọc bích, thơm giòn và dư vị… chao ôi… trên cả tuyệt vời!”. Khoái chí, bác Quán sang sảng đọc thơ, hào hứng bình thơ suốt đêm. Sau chiếu rượu nớ, bác Quán cởi tặng tớ kỷ vật tưởng chừng “bất ly thân” của bác: chiếc áo Tày.

Cá rô chiên giòn. Ảnh: Phanxipăng

Theo sự hiểu biết của bản thân tôi, hạt sen và cá rô thì ngay tại cố đô ít nhất có một nơi có thể sánh với hồ Tịnh về chất lượng thực phẩm. Đó là Khiêm hồ trong lăng Tự Đức trên vùng gò đồi phía tây thành Huế, thuộc địa bàn xã Thủy Xuân (3). Còn rau muống hồ Tịnh? Món này ví được chế biến đúng điệu, thú thật, tôi cũng đành nâng ly mà lúc lắc… “bất khả tư nghì”(!).

Cú hích từ Festival Huế 2004

Ở hồ Tịnh Tâm cũng như nhiều ao hồ khác tại miền Hương Ngự, thời gian trồng và khai thác sen với muống thường tạo thành hai vụ gối nhau. Xuân hè dành cho sen. Thu đông dành cho muống.

Tháng 5 đúng kỳ sen nở rộ. Người ta tranh thủ đổ bông – từ nghề nghiệp chỉ việc hái hoa, để bán cho thiên hạ cắm độc bình đơm cúng bàn thờ hay chưng phòng khách, phòng văn. Rồi phải khẩn trương đổ hột – tức ngắt gương sen về gỡ lấy hạt, thương lái sẽ mua sỉ, đoạn phân phối hạt tươi cho khách nấu ăn ngay hoặc sơ chế hạt khô mà tiêu thụ dần.

Hầu như toàn bộ cây sen chẳng có bộ phận nào phải bỏ phí. Nhị sen và tim sen được các cơ sở Đông y Đông dược thu gom làm thuốc. Ngó sen cùng củ sen là thứ mà các tiệm ăn, quán nhậu liên tục đặt hàng. Cả lá sen, người ta cũng cắt bán cho cánh tiểu thương dùng gói cốm, gói bún, gói… hoa sen hay hạt sen. Cuống lá và gương sen sau khi tách hạt lại được dân chúng tận dụng, phơi làm chất đốt.

Phải tính toán thu hoạch sen “trọn bộ” trước khi trời hành cơn lụt mỗi năm. Mà mưa lũ lại xuất hiện cực kỳ khó lường, từ tháng 4 trở đi đã có khả năng lũ tiểu mãn. Nước bạc ngập hồ cầm chắc sen… hấp hối. Những tháng mưa gió, chỉ nên thả bè rau muống thì mới thích ứng nổi hoàn cảnh nước lên… muống lên, đáp ứng kế sách “lấy ngắn nuôi dài”.

Tịnh Tâm ngập lụt. Ảnh: Hoa Hướng Dương

Cho tới nay, đấu thầu hồ Tịnh Tâm để canh tác sen cùng muống lâu nhất e chẳng ai hơn gia đình ông Nguyễn Văn Vỹ, tên thường gọi là ông Ba Cu. Theo sách Chuyện khảo về Huế của Trần Kiêm Đoàn (NXB Trẻ, 2000; trang 109 – 110) thì ông Ba Cu đã trồng sen thả muống ở hồ Tịnh suốt 40 năm ròng, kể từ thời điểm 1965 trở về trước. Thập niên kế đó, vài hộ quanh vùng thay nhau đấu thầu hồ Tịnh. Sau năm 1975, Hợp tác xã sản xuất hoa màu hai phường Thuận Thành và Thuận Lộc quản lý hồ này, tiếp tục phân công một số xã viên trồng sen, trồng muống.

Chuyện đắp đập, ngăn thửa liên tục diễn ra. Lòng hồ dần cạn. Các miệng cống bố trí quanh bờ bị tắc nghẽn, nên chức năng điều tiết nước giữa hồ Tịnh với hơn 40 hồ ao khác trong phạm vi Thành Nội 520ha và với hệ thống Ngự hà cũng như Hộ thành hà không còn đảm bảo. Đấy là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây úng ngập cục bộ ở Kinh thành Huế lâu nay mỗi khi mưa lớn kéo dài. Lại thêm tình hình lấn chiếm đất ven hồ để xây nhà, dựng quán, khiến diện tích mặt hồ ngày càng thu hẹp và hồ trở thành cái “bô” tích tụ nước thải lẫn rác rưởi. Nạn ô nhiễm môi sinh ở khu vực này gia tăng là lẽ tất nhiên. Di tích lịch sử bị xâm hại, cảnh quan văn hóa bị triệt tiêu – hiện trạng ấy ai ai cũng đều thấy rõ. Tham quan hồ Tịnh, khách gần xa phải áy náy thốt lên cái câu không mới:

– Tịnh Tâm à! Răng chừ cho tới…ngày xưa?

Cầu Hồng Cừ & điện Bồng Doanh năm 1963. Trên nền điện xưa, căn nhà bát giác được dựng năm 1960, rồi bị cơn bão năm 1985 quật đổ tan tành

Muộn còn hơn không. Dự án tu sửa và phục hồi cảnh quan hồ Tịnh Tâm vừa ra đời, do Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế làm chủ đầu tư với các bước thực hiện như sau: quy hoạch chống lấn chiếm, giải tỏa mặt bằng có trọng điểm, sắp xếp lại nhà dân (ở sát khuôn viên Đại học Nghệ thuật Huế tọa lạc cạnh hồ) để lập bãi đậu xe, nạo vét lòng hồ, khôi phục tuyến cấp thoát nước, tiến tới phục chế lần lượt các hạng mục công trình kiến trúc cổ. Dự án đã được chính quyền tỉnh Thừa Thiên – Huế phê duyệt. Trước mắt, một số công việc chỉnh trang sơ bộ khu vực hồ Tịnh được xúc tiến gấp rút hầu tạo thêm một trung tâm “vệ tinh” nữa cho Festival Huế 2004. Theo kế hoạch, trong dịp lễ hội trung tuần tháng 6-2004, Tịnh Tâm sẽ trở thành “hí trường khổng lồ” dành cho nghệ thuật múa rối. 14 đoàn rối từ khắp nơi sẽ quy tụ về đây biểu diễn bao tiết mục rối cạn và rối nước. Đây cũng là nơi thi thố bộ môn múa rối trên không, tức thả diều.

Thông báo của Ban tổ chức Festival Huế 2004 cho hay: toàn bộ liên hoan múa rối cùng các hoạt động và dịch vụ bổ trợ diễn ra tại khu vực hồ Tịnh Tâm được xếp vào chương trình gọi là IN (chương trình chất lượng cao có bán vé – khác với chương trình OFF phục vụ miễn phí cho đại chúng). Giá mỗi vé vào hồ Tịnh dịp ấy bao nhiêu? 2 USD nếu là khách nước ngoài. 10.000 đồng nếu là khách trong nước.

Chẳng rõ các nhà thiết kế chương trình Festival Huế 2004 có tính đến kế hoạch mở dãy quán ẩm thực trong và quanh di tích đệ nhất ngự uyển không? Nếu mở, thừa sức… vừa bán vừa la cũng đắt hàng ắt hẳn là mấy món đặc sản truyền thống hồ Tịnh.  

Chương trình biểu diễn “Hơi thở của nước” trên mặt hồ Tịnh Tâm dịp Festival Huế 2010. Ảnh: Phanxipăng

_________________

(3)   Theo Nghị quyết Nghị quyết 14/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25-3-2010, xã Thuỷ Xuân được nâng cấp thành phường Thuỷ Xuân trực thuộc thành phố Huế.

Phanxipăng

Đã đăng Kiến Thức Ngày Nay 496 (20-5-2004)

Read Full Post »

Festival Huế lần đầu tiên diễn ra vào năm 2000 chỉ có một trung tâm lễ hội là khu vực Đại Nội. Lần kế tiếp, Festival Huế 2002 đã hình thành trung tâm lễ hội “vệ tinh” là cung An Định. Festival Huế 2004 lại nẩy thêm trung tâm lễ hội “vệ tinh” khác nữa: hồ Tịnh Tâm.

Hồ Tịnh Tâm nhìn từ máy bay năm 1966. Ảnh: Ted Dexter

Đệ nhất thượng uyển từng là điểm… biệt giam!

Vốn là khu thượng uyển nổi tiếng hàng đầu của vương triều Nguyễn, Tịnh Tâm từng được vua Minh Mạng làm thơ ca ngợi 10 bài liền với tiêu đề Bắc hồ thập cảnh. Vua Thiệu Trị lại xếp hạng Tịnh Tâm vị thứ 3 trong danh mục Thần Kinh nhị thập cảnh. Ngự chế áng thơ Tịnh hồ hạ hứng (1) (Cảm hứng mùa hè ở hồ Tịnh Tâm), vua Thiệu Trị ghi mấy dòng chú dẫn: “Hồ Tịnh Tâm trong veo muôn khoảnh, man mác hai hồ. Một dải đê dài, cầu cao như mống. Vui chơi khúc đàn Nam Phong trên gác Nam Huân, thỏa thích một trời, của nhiều no đủ. Xứng đáng cõi Thọ chốn Tây Trì, rõ ràng là danh thắng kinh đô. Phong quang vô hạn, chưa tận mắt ngắm trông e khó hình dung cảnh trí”. Ngô Văn Phú chuyển ngữ áng thơ Tịnh hồ hạ hứng như sau:

Trong vắt hồ giăng mấy khoảng xa,

Thềm soi đáy nước, loáng tinh hà.

Cây hoa, lầu gác, dường tiên cảnh,

Đất nước, non sông, thuộc mọi nhà.

Quạt chúa để suông, trời mát mẻ,

Đàn vua tiếng ngọt, nhập thơ ca.

Lâng lâng nhân trí, tình sâu rộng,

Cảnh sắc yêu người, chớ bỏ qua!

Quả thật, Tịnh Tâm không phải một, mà là hai hồ nước hình chữ nhật, cái nhỏ kề cái to; từ trên cao nhòm xuống nom y hệt bức “siêu thư pháp” viết giữa thiên nhiên một đại tự minh – chữ Hán 明 nghĩa là “sáng tỏ”.

Hồ Tịnh Tâm qua tranh gương thời Nguyễn

Nguyên ủy, đây là khúc sông Kim Long (một chi lưu của sông Hương) chảy qua làng Phú Xuân. Năm Ất Sửu 1805, vua Gia Long quyết định nắn dòng Kim Long để tạo mặt bằng xây dựng Kinh thành Huế. Sông kia rày đã nên… hồ. Thoạt tiên là cả dải hồ rộng, mang tên hồ Ký Tế. Vua Minh Mạng nối ngôi, tiếp tục quy hoạch cảnh quan kinh đô, chia hồ Ký Tế làm đôi: một bên là hồ Học Hải – nơi sẽ thiết lập Tàng Thư Lâu; còn một bên là hồ Tịnh Tâm – chỗ dành cho “đấng thiên tử” cùng hoàng thân quốc thích tiêu dao thưởng ngoạn và di dưỡng tinh thần. Vua Minh Mạng lại cho đắp đê Kim Oanh băng ngang hồ Tịnh Tâm và tiến hành kế hoạch sửa sang tôn tạo khu vực này. Như thế, đây là quần thể ba cái hồ to nhỏ. Riêng Tịnh Tâm – tên khác là Bắc hồ vì nằm ở phía bắc Hoàng Thành (nói chính xác hơn thì ở góc đông bắc) – gồm hai hồ có tổng chu vi 1.980m, diện tích 107.533m². Dưới sự chỉ huy của Đô thống hữu quân là Nguyễn Tăng Minh và Tham tri bộ Hộ là Đào Trí Phú, cả lực lượng 8.000 binh lính đã dốc sức xây dựng Tịnh Tâm thành một công trình to lớn nhất và xinh đẹp nhất so với tất cả ngự viên ở đế đô nói riêng, toàn quốc nói chung.

Thuở ấy, bao quanh Tịnh Tâm là tường gạch cao, có bốn cổng vòm trổ ra bốn hướng, mang tên bốn mùa: Xuân Quang môn (ánh xuân – cổng hướng đông); Hạ Huân môn (gió hè – cổng chính hướng nam); Thu Nguyệt môn (trăng thu – cổng hướng tây); Đông Hy môn (khí hòa ấm mùa đông – cổng hướng bắc). Chắn hai đầu đê Kim Oanh là hai cổng Xuân Quang và Thu Nguyệt. Trên triền đê thẳng tắp này, triều đình cho trồng trúc vàng chen liễu biếc, lại tạo tác những hạng mục bằng vật liệu gỗ và gạch ngói rất mỹ thuật như đình Tứ Đại, nhà Khúc Tạ, nhà Thanh Tước, cầu Lục Liễu và cầu Bạch Tần. Theo Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, tập Kinh sư, phần Uyển hựu (bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo – Nha Văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1960; trang 62) thì: “Các cầu ấy đều có nhà che trên; trong hồ có những sen, súng, tre, cây, chim bay cá nhảy, sắc xanh xen lộn sắc đỏ, hoa lá tốt tươi”. Nghĩa là cầu ở ngự uyển Tịnh Tâm vốn được thiết kế theo lối “thượng gia, hạ kiều”, kiểu thức cầu lợp mái che mưa nắng, tương tự cầu ngói Thanh Toàn ở ngoại thành Huế và cầu Lai Viễn ở Hội An.

Trong hồ Tịnh Tâm có ba hòn đảo. Đảo Phương Trượng nằm giữa hồ nhỏ phía bắc, có gác Nam Huân hai tầng, có hiên Dưỡng Tính, nhà Hạo Nhiên (đến đời Tự Đức đổi tên là nhà Thiên Nhiên), cầu Bích Tảo, lầu Tịnh Tâm. Tên lầu cũng là tên hồ, nhưng trong vài tài liệu mà người Pháp ghi chép thì họ lại gọi lầu Tịnh Tâm là palais Sans Souci / điện Vô Tư. Giữa hồ lớn phía nam là đảo Doanh Châu và đảo Bồng Lai. Trên đảo Bồng Lai có điện Bồng Doanh nguy nga tráng lệ và cầu Bồng Doanh cùng cầu Hồng Cừ nối vào bờ, lại có lầu Trừng Luyện, nhà thủy tạ Thanh Tâm, thêm bao lơn, hiên, đình, giả sơn, cổ thụ lẫn kỳ hoa dị thảo. Duy đảo Doanh Châu bé nhất, dành để trồng cây cối sum sê.

Điện Bồng Doanh – còn gọi Bồng Dinh – lại là nơi mà về sau, năm Quý Tị 1893, các quan phụ chính tuân lệnh lưỡng tôn cung đã đưa vua Thành Thái ra đó “an dưỡng tâm thần”. Vì sao? Nguyễn Phúc tộc thế phả (NXB Thuận Hóa, Huế, 1995; trang 391) giải thích lý do: bởi đức vua “ tính tình bất thường, ham chơi bời, ít chịu nghe lời can gián”. Chốn thượng uyển xinh tươi trở thành chỗ biệt giam hoàng đế!

Vua Thành Thái

Danh thắng Tịnh Tâm hình thành bao giờ?

Đại Nam nhất thống chí (sđd) ghi nhận: trong hồ Ký Tế có hai gò cồn, trên đó là hai kho hỏa dược và diêm tiêu lập từ đời Gia Long, đến năm Minh Mạng XIX thì dời hai kho ấy qua phía đông, lấy chỗ làm hồ Tịnh. Tin tưởng tư liệu kia, nhiều sách báo, nhiều trang web cùng các tài liệu hướng dẫn du lịch thời gian qua vẫn khẳng định danh thắng Tịnh Tâm vốn khởi dựng từ niên hiệu Minh Mạng XIX, tức năm Mậu Tuất 1838.

Tiếc thay, chi tiết này chưa chính xác!

Trong bài Quelques coins de la Citadelle de Hué (Vài góc Kinh thành Huế) đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH: tập san Đô Thành Hiếu Cổ) năm 1922, Léopold Cadièrre và Nguyễn Đình Hòe đã chứng minh rằng trước thời điểm 1838, một số hạng mục kiến trúc cơ bản ở Tịnh Tâm đã hoàn tất và được đưa vào sử dụng. Bằng cớ là qua hồi ký Souvenir de Hué (Kỷ niệm xứ Huế) (2) công bố năm 1867, Michel Đức Chaigneau từng mô tả cảnh sắc hồ Tịnh Tâm với lầu đài cùng tên, thêm non bộ, những bồn hoa to nhỏ, cầu gỗ sơn màu, v.v., khi ông hân hạnh được vời tới đấy tiếp kiến vua Minh Mạng nhiều lần trong giai đoạn 1821 – 1822.

Vua Khải Định đi săn ở hồ Tịnh Tâm

Cũng theo L. Cadièrre và Nguyễn Đình Hòe thì đến năm Nhâm Tuất 1922, “một trong những thắng cảnh thanh lịch nhất Kinh thành” là Tịnh Tâm “chẳng còn gì ngoài một khuôn rào cao, tứ phía có bốn cổng vòm mang tên Xuân Quang, Hạ Huân, Thu Nguyệt, Đông Hy”. Phải chăng bao điện lầu cầu gác tại thượng uyển này bị cơn bão Giáp Thìn 1904 quật đổ tan tành, từ đó vì nhiều lý do, các cơ sở vật chất ở Tịnh Tâm nhanh chóng xuống cấp rồi bị triệt giải dần? 

Hồ Tịnh Tâm qua bưu ảnh Pháp

Trên tạp chí Huế Xưa & Nay số 31 (1999; trang 54 – 55), có ý kiến cho rằng cuối năm 1946, đầu năm 1947, trong chiến dịch tiêu thổ kháng chiến chống thực dân Pháp, hệ thống tường rào cũng như các nền móng kiến trúc ở Tịnh Tâm đều bị phá hủy, mãi tới năm 1960 thì một số hạng mục công trình mới được tái thiết nhỏ. Tuy nhiên, quan sát ảnh tư liệu cũ còn bảo lưu, hậu thế có thể đoán định việc sửa sang tạm thời khu vực Tịnh Tâm – như xây lan can thấp quanh hồ và quanh đảo Bồng Lai, dựng nhà bát giác trên nền điện Bồng Doanh, bắc cầu gỗ nối đảo Bồng Lai với đê Kim Oanh – có khả năng diễn ra sớm hơn, khoảng thập niên 1950.

Cây cầu gỗ vừa nhắc, sau này được xây lại bằng vật liệu bê tông cốt thép. Còn nhà bát giác thì đã sập. Con đê Kim Oanh đã tráng nhựa, trở thành đoạn đường Lê Văn Hưu (thẳng góc với đường Đinh Tiên Hoàng), vệ đường lơ thơ mấy gốc dừa cằn cỗi. Cây cỏ hoang dại tha hồ mọc um tùm trên ba hòn đảo và nhiều chỗ chung quanh hồ. Đệ nhất thượng uyển của vương triều Nguyễn giờ hóa nên phế tích!

Trên đảo Bồng Lai hiện nay. Ảnh: Phanxipăng

_________________

(1)   淨湖夏興

(2)   Có thể tham khảo bản dịch của Lê Trọng Sâm có nhan đề Hồi ký Huế (NXB Thuận Hoá, Huế, 2011).

(Còn nữa)

Read Full Post »

Tam Xuyên với Mộng Liên do họa sĩ Mạnh Quỳnh tái hiện năm 1941

Phong tình tân lục

Vụt trở thành bà Tam Xuyên, tiểu thư Nguyễn Thị Oanh được ông chồng thi sĩ đặt biệt hiệu là Hải Đường, Mộng Đường và Mộng Liên.

Tân lang với tân giai nhân tổ chức “thời trăng mật” còn hấp dẫn hơn tiểu thuyết. Họ chung sống bên nhau trong một con đò bềnh bồng giữa dòng Hương thơ mộng. Khi xuôi về phá Tam Giang, khi ngược lên nguồn Tả Trạch lẫn Hữu Trạch, gặp lúc thuận tiện thì rẽ qua sông Bồ, đôi uyên ương thoải mái nhấm nháp rượu trà, thi phú ngâm nga, đàn ca ứ hự.

Tam Xuyên dạy Mộng Liên gảy đàn, gõ phách, hát các làn điệu âm nhạc truyền thống của chốn Thần kinh: Xuân phong, Long hổ, Lưu thủy, Hành vân, Tứ đại cảnh, v.v. Mộng Liên lại bồi dưỡng cho phu quân sử dụng chữ quốc ngữ thuần thục hơn.

Một bạn thân, đồng thời bà con của Tam Xuyên, là nhà thơ Mộng Phật Tôn Thất Diệm (1853-1922) cảm khoái gửi tặng đôi lứa mấy vần:

   Ba sông phảng phất cảnh năm hồ,

   Một chiếc thuyền con với một cô.

   Lấy chữ xàng xê làm bạn tác,

   Giở câu á ớ lại thầy trò.

   Trăng hôm, gió sớm, lời tan hợp,

   Nước biếc, non xanh, chuyện nhỏ to.

   Ngoài áng công danh nhiều lạc thú,

   Phong tình tân lục đóng thành pho.

Đúng là bấy giờ đã rời quan trường, song khổ nỗi, Tam Xuyên chẳng được hưởng lương hưu, lại thêm thê noa đông đúc, hỏi làm sao kéo dài cảnh phong lưu?

Tiền lưng dần vơi cạn, buộc thi sĩ hoàng tộc phải tiêu xài dè sẻn. Bằng hữu rủ đánh bạc, ông chỉ dám đặt hai giác (hào) thôi! Dẫn người đẹp vào rạp hát bội, ông đành bấm bụng mua vé hạng bét! Thiên hạ bắt đầu lời ong tiếng ve đàm tiếu. Tam Xuyên dí dỏm viết cặp câu đối tự trào và dán thư phòng:

   Quốc ngữ một câu, vuốt râu vài sợi;

   Tổ tôm hai giác, coi hát năm xu.

Giễu mình thế thôi, chứ từ buổi sánh duyên với nàng Nguyễn Thị Oanh, Tam Xuyên ngầm tính sẵn kế để có thể vừa mưu sinh mà vừa được… chơi lai rai, mới thỏa. Sẵn chữ nghĩa làm vốn, ông dắt Mộng Liên ra Bắc vào Nam, bày trò thả thơ. Về sau, trong tập Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân tường thuật: “Mỗi tuần trăng, cặp tài tử này ở một tỉnh. Cái chiếu bạc thả thơ của họ thường trải ở một phủ nha, huyện nha hay là nơi tư thất một đốc bộ đường. Bất kể lúc lên voi, lúc xuống chó, lứa đôi này đã để dấu giày trên mọi chốn và tha lê đi khắp nơi cái túi thơ và cái túi phách ăn người của họ. Họ nhờ vả cổ thi, kiếm ra cũng được rất nhiều tiền. Nhưng cái giống lãng tử cầm tiền thường không nóng lòng bàn tay và có mấy khi họ nghĩ đến sự bảo hiểm cho ngày mai của mình”.

Thiên truyện-ký Đánh thơ nêu trên đã lưu nguyên vẹn tên hiệu thật của nhân vật nữ là Mộng Liên. Còn Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ, cựu Án sát, lại biến thành “quan Phó Sứ giữ lăng”. Kỳ thực, đã làm quan hộ lăng thì dễ gì đèo bòng nàng hầu non mà lang thang rày đó mai đây được?

Tất nhiên, nhà văn được quyền hư cấu. Và đây là đoạn kết chuyện tình Xuyên-Liên qua ngòi bút Nguyễn Tuân: “Ông Phó Sứ chết ở chân đèo Ngang rồi. Mộng Liên giờ là người góa và đang lúng túng tìm người giữ cho cây đàn. Số là đi qua Hoành sơn quan, thấy cảnh đẹp, lòng si tình, hai ông mụ đã yêu nhau giữa một vùng trời nước bao la. Ngay chỗ dưới chân ngọn tường ải có chữ Đệ nhất hùng quan của đức Thánh Tổ ngự phê ấy. Trúng cơn gió độc, ông Phó Sứ đã hóa ra ma chết đường. Mộ để sát ngay bên đường thiên lý”.

Sự thật đúng thế chăng? Có phần đúng, có phần sai. Điểm nhầm lẫn mà mọi người dễ nhận ra là Thánh Tổ Nhân hoàng đế – tức vua Minh Mạng – ngự phê mấy chữ Thiên hạ đệ nhất hùng quan cho công trình Hải Vân quan, chứ chẳng phải Hoành sơn quan. Riêng vụ Tam Xuyên đột tử trên đỉnh đèo Ngang là điều dân chúng bấy lâu vẫn kể, thậm chí có kẻ chép thành văn bản. Qua cuốn Tinh thần trào phúng trong thi ca xứ Huế xuất bản tại Huế năm 1973, Hoàng Trọng Thược ghi rõ rằng sở dĩ thi sĩ Tam Xuyên tạ thế vì bị… “thượng mã phong”.

Ấy là ngày 29 tháng 7 Quý Sửu, tức thứ bảy 30-8-1913. Trên đường đưa nàng Mộng Liên ra Quảng Bình thăm em rể Trần Tiễn Hối đang làm Bố chánh tỉnh đó, chẳng may Tam Xuyên ly trần bất thình lình vào tuổi 53. Thi hài ông được khâm liệm đàng hoàng, rồi được cấp tốc chở về Huế quàng và mai táng chu đáo. Đông đảo thiên hạ đến viếng linh cữu ông. Đối liễn khắp nơi gửi về phúng điếu nhiều không kể xiết, nhưng người ta nhớ nhất đôi câu đối thâm thúy của Thượng thư Nguyễn Hữu Bài (1863-1935):

   Ra Bắc vào Nam, trăng gió đề huề thơ một túi;

   Lên đèo xuống ải, mây mưa đánh đổi cuộc trăm năm.

Số phận Mộng Liên sau đấy ra sao?

Nén chặt nỗi đau, Mộng Liên lặng lẽ lên dốc Nam Giao, vào chùa Diệu Đức, xin khoác nâu sồng, xuống tóc, trở thành ni sư Thích Nữ Tâm Châu. Già lão, bà chuyển lên chùa Hồng Ân tu trì rồi an tịch. Mộ tháp bà nằm ngay trong khuôn viên tổ đình Trúc Lâm, thuộc địa bàn thôn Thượng 1, xã Thủy Xuân (từ ngày 25-3-2010 được nâng cấp lên phường Thuỷ Xuân), thành phố Huế.

Thượng tọa Thích Lưu Hoà trụ trì tổ đình Trúc Lâm ở Huế đưa Phanxipăng viếng mộ tháp Thích Nữ Tâm Châu tức Mộng Liên Nguyễn Thị Oanh. Ảnh: Nguyên Việt

Tác phẩm & giai thoại

Bình sinh, Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ sáng tác nhanh và sung sức với nhiều thể loại khác nhau. Tính đơn vị tác phẩm văn chương, chắc chắn khối lượng di thảo của ông khá phong phú. Tuy nhiên, vì bản tính “tài tử” cộng thêm hoàn cảnh sống “giang hồ không bờ không bến”, ông hầu như không lưu giữ tác phẩm nào của mình. Đi đó đi đây, ông cứ phóng bút ào ào, rồi trao tặng người kia kẻ nọ. Lắm lúc hứng khởi, ông xuất khẩu thành thi, xã hội thấy hay thì nhớ và truyền tụng.

Mãi lâu sau khi ông mất, An Sơn Tôn Thất Sung – trưởng nam của Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ – bỏ công sưu tầm được một phần thơ của phụ thân, chép thành Tam Xuyên thi tập. Sử dụng thủ bản chưa đầy đủ ấy, Việt Thường viết bài Tam Xuyên (1860-1913) – một thi bá trong làng thơ phúng thích để in vào sách Người xưa xuất bản tại Hà Nội năm 1941, kèm theo bức tranh của họa sĩ Mạnh Quỳnh. Có lẽ đây là lần đầu tiên, đời và thơ Tam Xuyên được giới thiệu rộng rãi bằng mực đen giấy trắng. Bẵng một thời gian, đến năm 1973, Hoàng Trọng Thược viết tiếp bài Ông già gân và đưa vào cuốn Tinh thần trào phúng trong thi ca xứ Huế (sđd). Dựa vào hai thư tịch chủ yếu đó, Nguyễn Đắc Xuân soạn bài Mất ông Án sát Tôn Thất Mỹ được nhà thơ Tam Xuyên trong quyển Chuyện các quan triều Nguyễn (NXB Thuận Hóa, Huế, 2001). Về một tài năng văn chương độc đáo, lại có hành trạng “ly kỳ hy hữu” cỡ Tam Xuyên, ngần ấy ấn phẩm đề cập sơ lược, quả thật quá ít ỏi. Đấy là chưa kể đó đây tồn tại nhiều chi tiết mà sự kiện, không gian lẫn thời gian bộc lộ sự bất hợp lý, đòi hỏi phải xác minh thêm.

Một nguồn tư liệu khác đầy sinh động là kho tàng giai thoại văn chương dính dáng Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ. Thế nhưng, bao chuyện truyền khẩu lý thú vẫn chưa được sưu tầm có hệ thống nên dần bị thất tán. Trong tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (NXB Tân Dân, Hà Nội, 1940), truyện-ký Đánh thơ thực chất là giai thoại quanh mối tình Xuyên-Liên lần đầu tiên được công bố dưới hình thức một văn bản nghệ thuật. Dăm cuốn sách như Chơi chữ của Lãng Nhân (sđd) hoặc Nụ cười xứ Huế của Tôn Thất Bình (Sở Văn hóa và Thông tin Thừa Thiên-Huế, 1993) cũng nêu vài giai thoại về Tam Xuyên một cách lẻ tẻ, rời rạc, nên chưa gây ấn tượng đáng kể. Đương nhiên, đã gọi giai thoại thì không tránh khỏi tam sao thất bổn, lắm chỗ rất đáng ngờ.

Phải thừa nhận cuộc đời Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ đan xen thực với mộng, pha trộn sự thật với giai thoại, rất khó bóc tách để khảo sát tỏ tường tất cả. Trong chừng mực nhất định, chính sự đan xen, pha trộn đó lại là nét đặc sắc cuốn hút muôn người. Thưởng ngoạn thơ văn Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tản Đà, ví thử triệt tiêu loạt giai thoại liên quan, cam đoan bạn đọc sẽ suy giảm cảm xúc đặc trưng.

Trong các tổng tập và hợp tuyển văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, được ấn hành thời gian qua, cớ sao một tên tuổi “vang bóng một thời” trên văn đàn là Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ lại thiếu vắng? Hy vọng công trình nghiên cứu, sưu khảo tương đối thấu đáo mang tiêu đề Tam Xuyên – tác phẩm & giai thoại sớm xuất hiện hầu bù vào khiếm khuyết kia; đồng thời giúp hậu thế tìm hiểu kỹ hơn, sâu hơn, toàn diện hơn về một thi sĩ tài hoa và cực kỳ “chịu chơi”. ♥

Phanxipăng viếng mộ Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ. Ảnh: Mỹ Hương

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Kiến Thức Ngày Nay 480 (10-12-2003) & 481 (20-12-2003)
  • Nghiên Cứu Và Phát Triển 2 (79) 2010

Read Full Post »

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong văn giới nước ta, ai mà chả biết một tên tuổi lẫy lừng: Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ (1860 – 1913). Đó là nhà thơ hoàng tộc xứ Huế giàu cá tính, tài ba, dí dỏm và tột độ đa tình. Tiếc thay, do thiếu tư liệu, ngày nay sách báo ít đề cập về cuộc đời lẫn tác phẩm của thi nhân độc đáo này.

Nắng Huế. Tranh sơn dầu: Nguyễn Thái Hoà. Ảnh: Phanxipăng

Vang bóng một thời

Đọc Vang bóng một thời – cuốn sách đầu tay của nhà văn Nguyễn Tuân in năm 1940 và đến nay đã tái bản nhiều lần – ắt mọi người nhớ mãi truyện Đánh thơ phản ánh cái thú “thả thơ” từng hấp dẫn bao tao nhân mặc khách. Hai nhân vật trung tâm trong truyện, một là quan Phó Sứ, một là mỹ nữ Mộng Liên. Họ kết duyên chồng vợ, ôm đàn phách với túi thơ, ruổi rong khắp nẻo.

Nguyễn Tuân mô tả: “Cặp vợ chồng ấy là một lứa đôi tài tử. Ông bà Phó Sứ giữ lăng không mấy khi ở yên một chỗ. Cái nghề của họ buộc họ phải xê dịch luôn luôn và mãi mãi. Suốt một dải Trung kỳ, họ đi về như là trẩy chợ. Tới mỗi nơi, ở mọi chốn, quan Phó Sứ lại mở một cái túi đựng toàn bài thơ đố ra cho mọi người đặt tiền và bên chiếu bạc văn chương, Mộng Liên lại đàn, lại ca để làm vui cho cuộc đỏ đen rất trí thức này. (…) Giữa hai tiếng bạc trên một chiếc chiếu la liệt những mảnh thơ đề, Mộng Liên đêm đêm kề đùi tựa má ông Phó Sứ, lại đánh đàn, lại ca Nam bằng, ca Nam ai”.

Giữa đời thật thuở xa xăm nọ, liệu có lứa đôi nào phóng túng, lãng mạn, dạn dĩ thế chăng? Xin thưa ngay rằng: có. Nguyên mẫu trong thiên truyện-ký của Nguyễn Tuân chính là Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ và nàng hầu non xinh đẹp.

Qua chuyên luận Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam (NXB Khoa Học Xã Hội in lần 2, Hà Nội, 1971), Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức giới thiệu “các thể thơ đặc biệt” được sáng tạo từ thể cổ phong hoặc thể Đường luật truyền thống, trong đó có tập danh là “một thể thơ mà mỗi câu bắt buộc phải nêu lên một giống vật hay một loài vật nào đó”. Ví dụ trưng dẫn là bài thơ Tặng cô Khế của Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ, kèm chú giải: “Mỗi câu có tên một thứ quả”.

Bạn đọc dễ dàng nhận thấy mỗi câu, tức dòng thơ, không chỉ điểm tên một thứ trái cây, mà còn liệt kê cả một loại… vị giác.

Thơ tập danh khó làm, vậy mà Tam Xuyên tự làm khó hơn gấp bội:

   Song the mơ ước bấy lâu xa,

   Khế khoát duyên nay cũng mặn mà.

   Trông thấy của chua tình quấn quýt,

   Gẫm nghe lời ngọt bước cần .

   Chát lòng vội sao cho đáng,

   Đắng chuyện dây dưa chút gọi là.

   Lạt dạ chưa cam tường cội rễ,

   Vườn hồng cay nỗi khách lân la.

Từ , ngữ âm địa phương vùng Huế đọc y hệt vả, là tên thứ quả được định danh khoa học Ficus auriculata Lour. (F. roxburghii Wall.) thuộc họ Moraceae. Quả vả được dùng để chế biến lắm món đặc sản ở miền Hương Ngự.

Một thể thơ đặc biệt khác là vĩ tam thanh. Chuyên luận vừa dẫn đưa yêu cầu khá ngặt nghèo: “Trong thể này, ba từ cuối cùng (ở mỗi câu thơ) có âm tương tự như nhau”. Bài thơ khéo léo sử dụng từ láy ba đáp ứng điều kiện ấy được chuyên luận chọn minh họa mang tiêu đề Buổi sáng như sau:

   Tai nghe gà gáy tẻ tè te,

   Bóng ác vừa lên hé hẻ hè.

   Non một chồng cao von vót vót,

   Hoa năm sắc nở lóe lòe loe.

   Chim tình bầu bạn kia kìa kỉa,

   Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè.

   Danh lợi mặc người ti tí tị,

   Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe.

Chuyên luận Các thể thơ ca và sự phát triển của hình thức thơ ca trong văn học Việt Nam đề tên tác giả bài thơ Buổi sáng là: “Khuyết danh”. Tuy nhiên, Phan Khôi lại ghi nhận trong Chương Dân thi thoại (Nhà in Đắc Lập, Huế, 1936; NXB Đà Nẵng tái bản, 1996): “Bài này có người nói là của quan Án sát Tôn Thất Mỹ”.

Vậy Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ là ai?

Hoạn đồ lận đận

Tôn Thất Mỹ chào đời năm Canh Thân 1860 tại An Cựu, Huế, trong nếp nhà trâm anh thế phiệt thuộc hệ 7 – dòng Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu. Thân phụ là đại thần Tôn Thất Phan, người từng cùng Phạm Thận Duật và Nguyễn Văn Tường đại diện Nam triều để ký Hiệp ước Giáp Thân 1884 với Pháp, còn gọi Hòa ước Patenôtre. Lúc sinh Tôn Thất Mỹ, Tôn Thất Phan giữ chức Tham tri Bộ Công.

Là trưởng nam, Tôn Thất Mỹ có em trai Tôn Thất Lãnh và Tôn Thất Trạm. Lãnh sinh năm Tân Dậu 1861, đỗ cử nhân lúc 21 tuổi, đỗ tiến sĩ lúc 28 tuổi. Trạm cũng thi đỗ cử nhân. Nói chung, từ hồi còn dùi mài kinh sử ở trường Quốc Tử Giám, cả mấy anh em “con giòng cháu giống” đều nổi tiếng thông minh, học giỏi.

Thông minh và hoạt bát nhất nhà hẳn là anh cả Tôn Thất Mỹ. Chuyện kể rằng hằng năm, cứ đến tiết Trùng dương, còn gọi Trùng cửu, tức mùng 9 tháng 9 âm lịch, theo lệ khởi phát từ đời Minh Mạng, hoàng thân quốc thích lẫn bá quan văn võ ở kinh đô hồ hởi lên núi Ngự Bình xơi yến, ngoạn cảnh, làm thơ. Họ thường cho con cháu theo. Hôm ấy, trời nắng, nhiều người tay chống gậy, tay che ô dù. Leo ngang sườn non, chợt có cơn gió mạnh thốc qua khiến hàng loạt chiếc ô bị lật chổng cọng / gọng.

   Duyên cùng trời đất nên giơ cọng

Tức cảnh, một vị ngâm vang như thế, rồi thách:

– Ai đối chỉnh sẽ được thưởng.

Lên tới đỉnh núi rồi mà chẳng người nào “chọi” nổi vế xuất kia. Một cụ sờ soạng túi áo, đoạn chép miệng tiếc rẻ vì bao thuốc lá Cẩm Lệ bị rơi mất dọc đường. Chớp lấy cơ hội, “cậu tôn” Mỹ bật liền vế đối và ung dung rinh giải:

   Nợ với non sông kể xiết bao

Năm Kỷ Mão 1879, mới 19 tuổi, Tôn Thất Mỹ đã đỗ cử nhân. Năm Giáp Thân 1884, được bổ vào Viện Hàn Lâm làm Biên tu, rồi thăng lên Thị độc. Năm Đinh Hợi 1887, được điều ra Thanh Hóa làm Án sát, giúp Tổng đốc Trương Như Cương. Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn (Tập XXXVIII – bản dịch của Viện Sử học – NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1978) có nhắc tới quan Án sát Tôn thất Mỹ vào niên hiệu Đồng Khánh thứ II. Cũng theo pho chính sử này thì qua năm sau, Tôn Thất Phan thực thụ làm Thượng thư Bộ Hộ kiêm Phó tổng tài đảm trách soạn thảo Ngọc điệp tôn phả.

Ngày 27 tháng chạp Mậu Tý (28-1-1889), vua Đồng Khánh băng đột ngột lúc chưa tròn 24 tuổi. Hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Lân – con trai vua Dục Đức – lên ngôi, lấy niên hiệu Thành Thái. Sự kiện diễn biến quá bất ngờ và éo le khiến đại thần Tôn Thất Phan hoảng sợ tới mức… bỏ ăn, mất ngủ! Số là trước kia, dưới áp lực của phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường, ông Phan từng ngồi ghế Thượng thư Bộ Hình kết án tống giam hoàng tử Bửu Lân cùng mẹ ruột Phan Thị Điều nay trở thành Từ Minh hoàng thái hậu. Dư luận cho rằng vì lo âu thái quá, Tôn Thất Phan ngã bệnh mà lìa đời!

Theo luật lệ đương thời, Tôn Thất Mỹ được trở về An Cựu cư tang cha trong vòng 3 năm. Xong, quay lại triều đình, được giao chức Tá lý Bộ Lễ, thụ hàm Hồng lô tự thiếu khanh. Ngẫm chuyện ân oán của thân phụ vừa quá cố, Tôn Thất Mỹ không tránh khỏi ngại ngần, nhất là mỗi khi chầu kiến tân vương. Khỏi phải chờ đợi lâu, hậu quả vụt ập tới. Có tài liệu viết rằng chỉ vì một sơ suất cỏn con, Tôn Thất Mỹ liền gánh chịu kỷ luật cực kỳ nặng nề: bị cách tuột mọi chức vụ, bị tước sạch mọi phẩm hàm, bị đẩy về vườn như một “bạch đinh” vào năm 1889, lúc mới 39 tuổi!

Vụ việc đó hoàn toàn có thật, song chưa rõ: Tôn Thất Mỹ đã lỡ phạm lỗi lầm gì? Duy niên điểm 1889 ắt thiếu chính xác. Bởi lẽ Tôn Thất Mỹ cư tang cha ròng rã 3 năm rồi mới trở lại quan trường, vậy sự cố xảy ra sớm lắm cũng phải vào năm 1892. Hơn nữa, ngay đầu đời Thành Thái, trong khoa thi Đình năm Kỷ Sửu 1889, chính bào đệ của Tôn Thất Mỹ là Tôn Thất Lãnh vẫn được chấm đỗ hạng “đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân” kia mà.

Mãi đến đời Duy Tân, xét thấy một vị quan hoàng tộc như Tôn Thất Mỹ bị xử lý thế e quá đáng, triều đình quyết định khôi phục nguyên hàm Hồng lô tự thiếu khanh, song vẫn chẳng cấp lương bổng. Ấy là năm Canh Tuất 1910, Tôn Thất Mỹ đã ngũ tuần, đúng dịp chiếc răng cuối cùng vừa… rụng. Nhân đấy, Tôn Thất Mỹ bèn sáng tác bài tứ tuyệt theo lối thủ vĩ ngâm, khai thác hiện tượng đồng âm nhằm chua chát trào lộng:

   Không răng đi nữa cũng không răng!

   Chỉ có thua người một miếng ăn.

   Miễn được nguyên hàm nhai nhóp nhép,

   Không răng đi nữa cũng không răng!

Nhà vườn bên bờ sông An Cựu, nơi Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ từng cư trú. Ảnh: Phanxipăng

Giỏi thơ tập danh, giành “siêu giải thưởng”

Từ giã “quan nhất thời”, thong dong làm “dân vạn đợi”, Tôn Thất Mỹ ký bút danh Tam Xuyên càng nổi tiếng như cồn nhờ tài lẫn nhờ tình. Người người rất nể phục Tam Xuyên khi trực tiếp chứng kiến ông ứng tác quá mau lẹ mà lại cao tay “điều ngôn khiển từ” vô cùng ngoắt ngoéo, tinh nghịch, tinh tế. Đặc biệt, ông tỏ rõ sở trường với thể thơ tập danh. Thật không ngờ! Chính lối thơ gay go hiểm hóc này đã mấy phen giúp Tam Xuyên lĩnh “siêu giải thưởng”: khối nàng tuyệt thế giai nhân sẵn sàng theo làm… thê thiếp!

Lần nọ, Tam Xuyên xách cần trúc ra bờ sông, cốt kiếm chút thức nhắm đưa cay. Tình cờ ngồi kề xưởng gỗ đang lốc cốc cưa-đục-bào, ông cảm hứng xuất khẩu bài Câu cá, mỗi dòng thơ đều gọi tên một đồ nghề thợ mộc:

   Rìu rịt năm canh xét phận mình,

   Khoan nhân đất nước rộng thênh thênh.

   Đã cam cui cút miền thôn dã,

   Đâu dám chàng màng đám lợi danh.

   Ống chỉ dọc ngang cùng nước biếc,

   Cái ve nghiêng ngửa giữa trời xanh.

   Đắn đo cho biết mùi trong đục,

   Mới gọi rằng tay mực thước sành.

Cui đây là dùi cui. Còn chàng, theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (bản in năm 1992), là “dụng cụ của thợ mộc gồm một lưỡi thép dẹp hình tam giác tra vào cán, dùng để vạt gỗ”. Tục ngữ cũng có câu: Thợ mộc gõ chàng, thợ hàn gõ thiếc.

Thuở nọ, tại làng Thanh Thủy, gần cầu ngói Thanh Toàn có quán bánh của cô Đoài thường xuyên đông khách. Phần vì quán bán các món bánh Huế khá ngon. Phần quan trọng hơn vì cô chủ trẻ đẹp dám công khai tuyên bố:

– Anh nào làm nổi bài thơ thất ngôn bát cú mà mỗi câu có tên một quẻ trong bát quái và tên một loại bánh, thì em xin theo nâng khăn sửa túi trọn đời. Dẫu chịu cảnh lẽ mọn, em cũng hài lòng.

Bao lớp văn nhân xa gần tìm tới trổ tài, nhưng chẳng một ai thành công trước yêu cầu tập danh “đúp”. Nghe chuyện, Tam Xuyên Tôn Thất Mỹ mỉm cười. Tưởng gì, chứ “làm xiếc chữ nghĩa” kiểu này, đúng là “nghề của chàng”. Rốt cuộc, ông ghé quán, trao cô Đoài bài thơ:

   Vẻ ngọc càng say, rượu ít nồng,

   Kìa ai vòng khảm đúc hình dung.

   Cấn nơi quán khách e dầy dụa,

   Chấn bức mành hoa những ước mong.

   Chiếc tốn công dòng bích thủy,

   Dấu bèo ly hận ngọn đông phong,

   Ngắm em xem chợ lời khôn hỏi,

   Ngoảnh mặt non đoài mảnh ráng hồng.

Kết quả ra sao?

“Bài của ông Tôn Thất Mỹ được giải nhứt, và cô Đoài chịu về làm vợ hai, mới biết chơi chữ nhiều khi cũng thú!”. Sách Chơi chữ do Lãng Nhân sưu soạn (Nam Chi tùng thư in lần 4, Sài Gòn, 1974) đã bình luận thế, rồi thêm: “Nếu cô Đoài là người Bắc, ông thi sĩ chắc không được giải, vì càn (quẻ càn) viết ra càng; uớt viết ra ước (bánh ướt); rán viết ra ráng (bánh rán)”.

Cầu ngói Thanh Toàn. Ảnh: Phanxipăng

Thật ra, cũng bằng thơ tập danh, Tôn Thất Mỹ vẫn chinh phục được tố nữ con nhà quan và sinh trưởng trên đất Bắc. Ấy là nàng Nguyễn Thị Oanh, ái nữ của Tri phủ Nguyễn Đình Mai. Bấy giờ, Tam Xuyên đã 41 tuổi.

Tri phủ Nguyễn Đình Mai là con của đại thần Nguyễn Đình Tân, còn gọi Nguyễn Đình Hưng, từng giữ chức Hải Yên quân vụ kiêm Tổng đốc Định An (Nam Định và Hưng Yên). Từ núi rừng trung du Phú Thọ, tri phủ Mai tìm cách đưa toàn bộ gia đình về Huế sinh sống. Trong nhà, tiểu thư Nguyễn Thị Oanh nổi bật bởi nhan sắc “chim sa, cá lặn”. Năm Tân Sửu 1901, Oanh vừa 17 tuổi. Vô số vương tôn công tử ngấp nghé ướm hỏi, song nàng không chịu, cứ khép cửa may vá thêu thùa và dành thời gian luyện Pháp văn, lại học thêm chữ quốc ngữ. Thỉnh thoảng, nàng nhẹ bước ra sân vườn dạo ngắm mấy luống hoa.

Đôi lần ngang qua cổng, liếc thấy tiểu thư Oanh xinh như mộng, Tam Xuyên bồi hồi tơ tưởng. Biết Oanh đang chăm chỉ học đánh vần, ông nhờ người chuyển tới tận tay nàng một bài thơ. Đó là bài tập danh, mỗi dòng gọi tên một mẫu tự, riêng cặp thực và cặp luận còn nêu thêm bốn dấu thanh:

   Những ngậm ngùi xuân, dáng ủ ê,

   Vì ai khăng khít nỗi riêng (t).

   Huyền vi máy tạo e lời lậu,

   Sắc sảo câu thơ ít (x) chữ đề.

   Nặng gánh tương tư ngày ép (f) uổng,

   Hỏi nơi kỳ ngộ dạ đê (đ) mê.

   Trăm năm cốt cách còn y cũ,

   Giấy rách, khuyên em (m) giữ lấy lề.

Đọc đi đọc lại bài thơ, tiểu thư Nguyễn Thị Oanh cảm phục tác giả vô ngần. Cái gọi là “tiếng sét ái tình” nổ! Bất chấp mọi lời khuyên lơn hoặc ngăn cản từ nhiều phía, nàng quyết “xăm xăm băng lối” theo chàng, dẫu tuổi tác cách biệt cả hai con giáp. Mối tình say đắm giữa hai người khiến dư luận trong nội lẫn ngoài thành không ngớt xôn xao.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »