Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám, 2012

Sách “Bông hồng cài áo” của Nhất Hạnh / Nguyễn Lang. Ảnh: Phúc Đường

Bông hồng cài áo

Nhiều quốc gia vốn không có lễ hội Vu Lan nhưng có Ngày Mẹ / Mother’s Day / Fête des Mères / Festa della mamma / Día de la Madre / Dia das Mães / День матери / 母亲节 (Mẫu thân tiết). Thời điểm tiến hành Ngày Mẹ khác nhau tuỳ mỗi quốc gia. Với Na Uy, Ngày Mẹ là chủ nhật thứ nhì của tháng 2 dương lịch. Cùng chọn Ngày Mẹ trong tháng 5 dương lịch song ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hungary, Litva là chủ nhật đầu tiên; ở Hoa Kỳ, Cuba, Canada, Brazil, Chile, Colombia, Ecuador, Puerto Rico, Uruguay, Đức, Ý, Bỉ, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ, Úc, New Zealand, Nhật Bản, Singapore là chủ nhật thứ nhì; ở Pháp, Thuỵ Sĩ là chủ nhật cuối cùng. Với Achentina là chủ nhật thứ 3 của tháng 10. Với Nga là chủ nhật cuối cùng của tháng 11.

Sang những nước đó, gặp Ngày Mẹ, người ta sẽ cài lên áo bạn một bông hoa cẩm chướng màu hồng nếu bạn còn mẹ; cầm bằng bạn xui rủi đã mất mẹ thì người ta người ta sẽ cài lên áo bạn một bông hoa cẩm chướng màu trắng. Đầu thập niên 1960, sau khi đi Tokyo (Nhật Bản) và biết được phong tục ấy, nhà sư Nhất Hạnh xúc động viết tuỳ bút Bông hồng cái áo với đề nghị: “Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan”.

Tuỳ bút Bông hồng cài áo chưa đầy 3.000 âm tiết, được NXB Lá Bối ở Sài Gòn in hẳn tập sách riêng vỏn vẹn 24 trang khổ 12 x 22cm để độc giả mua làm quà tặng trong mùa báo hiếu. Đây là một ấn phẩm bán rất chạy: chỉ tính từ lần in thứ nhất vào năm 1964 đến lần in thứ 5 vào năm 1971, Bông hồng cài áo của Nhất Hạnh đã phát hành trên phạm vi miền Nam nước ta những 100.000 bản.

Nội dung tác phẩm viết về mẹ này lại được nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ chuyển ý lẫn lời thành ca khúc cùng tên, hiện vẫn được phổ biến rộng rãi trong Nam ngoài Bắc và hải ngoại qua rất nhiều giọng hát: Khánh Ly, Thanh Tuyền, Thái Châu, Elvis Phương, Duy Khánh, Nhật Trường, Miên Đức Thắng, Tuấn Ngọc, Mạnh Quỳnh, Hương Giang, Lệ Hằng, Thuỳ Trang, Thu Trang, Nguyễn Hưng, Hoàng Bách, Long Nhật, Ngọc Sơn, Quang Linh, Thanh Ngân, Hạ Vy, Hoàng Phương, Lương Gia Huy, Bằng Kiều, Đan Trường, Ánh Tuyết, v.v. Theo cảm nhận riêng tôi thì cùng với Lòng mẹ của Y Vân, Bông hồng cài áo của Nhất Hạnh và Phạm Thế Mỹ là bài hát về tình mẫu tử hay nhất và thành công nhất Việt Nam.

Ca khúc “Bông hồng cài áo” do Phạm Thế Mỹ soạn theo ý Nhất Hạnh

Và cũng từ đấy, phong tục cài hoa lên ngực áo dịp lễ Vu Lan dần được phổ biến ở Sài Gòn rồi lan rộng ra nhiều tỉnh thành khác trong nước. Chỉ có điều, Việt Nam ta không cài hoa cẩm chướng (pink / œillet) mà dùng hoa hồng (rose) thường được làm bằng giấy hoặc bằng vải. Nếu bạn còn mẹ, bạn sẽ được cài trên áo đoá hoa hồng màu hồng. Nếu từ mẫu của bạn đã quy tiên, trên ngực áo của bạn lại là đoá hoa hồng bạch.

Vu Lan năm nay (1998), trên ngực áo tôi trắng lốp một hoa hồng! Đọc lại tản văn Bông hồng cài áo của Nhất Hạnh, tôi chợt nghe cay cay khoé mắt: “Tôi nhìn lại bông hồng trắng trên áo mà cảm thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào (…). Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương, không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa”.

Lại nghĩ: Vu Lan là dịp báo hiếu song thân, nhớ ân phụ mẫu, sao chỉ cài mỗi biểu tượng về mẹ mà quên bẵng cha hiền? Mỗi hoa đều đính kèm đôi ngọn lá, vậy nên chăng gắn lá xanh cho những ai diễm phúc còn cha, và gắn lá vàng cho những ai bất hạnh mất cha (2). Nếu thế thì nay, trên ngực áo tôi là đoá hoa hồng bạch với hai chiếc lá héo úa. Hỡi ôi!

Người cài hoa hồng đỏ, người cài hoa hồng hồng, người cài hoa hồng bạch. Ảnh: Romance

Thí thực cô hồn

Rằm tháng 7, theo phong tục cổ truyền, dân ta gọi là Tết Trung Nguyên và rất chú ý cúng tế. Các câu tục ngữ Tháng 7 ngày rằm xá tội vong nhân Cả năm được một rằm tháng 7, cả thảy được một rằm tháng giêng chứng minh sự lưu tâm của đồng bào Việt Nam xưa nay.

Ở nhiều địa phương khác trên toàn quốc, tuỳ theo từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà người ta cúng thí thực cô hồn theo những kiểu cách khác nhau. Nhưng khác gì đi nữa thì không thể thiếu mấy phẩm vật theo cổ lễ gồm cháo hoa, bánh trái, vàng mã và bỏng (có nơi như Thừa Thiên – Huế gọi hột nổ). Xuất phát từ quan niệm sự tử như sự sinh, thiên hạ chọn dịp này để bố thí các âm hồn cô quả, mong được yên ổn và thịnh vượng, vì tin rằng đây là thời điểm Thập Điện Minh Vương mở rộng mọi cửa ngục cho bao vong linh trở về dương thế. Không ít đình miếu còn tổ chức trai đàn chẩn tế, dựng phan sơn phan thuỷ, làm lễ mộc dục canh y, trì chú, phóng sinh, phóng đăng, v.v., khá rầm rộ.

Riêng tại Sài Gòn, tục lệ cổ truyền kia được kế thừa và biến cải khá nhiều. Các tư gia cúng thí thực cô hồn song không nhất thiết phải đúng rằm mà chọn bất kỳ ngày nào thuận tiện trong suốt tháng 7 âm lịch. Lễ vật cũng cháo trắng, muối, đường, đậu phụng, khoai sắn, trái cây, bánh kẹo, cùng các thức ăn đồ uống khác tuỳ khả năng gia chủ. Điều rất hay là nhiều nhà đã mạnh tay “cúp” khoản vàng mã vì cho rằng đó là tệ mê tín dị đoan, cực kỳ phí phạm. Đặc biệt, lệ cúng cô hồn tháng 7 của người Sài Gòn hầu hết đều sẵn heo quay và rượu bia. Món nước cay sủi ga trắng lốp có lẽ ảnh hưởng từ… Tây. Còn heo quay thì chắc chắn tiếp thụ từ Hoa kiều ở Chợ Lớn. Dịp này, bà con người Hoa gọi Hoan hỷ hội, cúng bái rất trang nghiêm và linh đình, nhất là hạng sản xuất kinh doanh phát đạt. Trước cúng, sau… cấp. Chủ nhà phân phát các thứ “râu ria” cho trẻ con cùng những kẻ khốn khó, dành những món “hảo xực” để mời khách khứa đến liên hoan.

Tôi tận mắt chứng kiến vài sinh viên tỉnh xa đến Sài Gòn mướn nhà trọ học, thấy láng giềng cúng thí thực ì xèo, bèn góp tiền mua bánh trái nhằm… chiêu đãi cô hồn.

Phanxipăng cùng Suy Min bên tượng “Bông hồng cài áo” do điêu khắc gia Nguyễn Sánh tạc và dựng trong vườn chùa Hội Sơn tại quận 9 dịp Vu Lan năm 2008. Đây là biến thể một tượng cùng tên của cùng tác giả đã dựng năm 2007 ở khuôn viên tu viện Bát Nhã tại Bảo Lộc, Lâm Đồng. Ảnh: Rosette

Chiều thứ bảy 19-9-1998, nhằm 30 tháng 7 Bính Dần, ghé một xí nghiệp ở quận 3, tôi cảm thấy ngồ ngộ khi được mời nán lại để chạm ly sau lễ cúng cô hồn. Chủ tế buổi lễ chính là quản đốc phân xưởng, một cử nhân kinh tế, rất trang trọng đóng khăn đen, áo dài, thắp nhang quỳ lạy trước án thờ. Bên cạnh, một nữ nhân viên xinh xắn đứng ngâm nga Văn tế thập loại chúng sinh của thi hào Nguyễn Du:

Tiết tháng bảy, mưa dầm sùi sụt,

Toát hơi may lạnh buốt xương khô.

Não người thay, buổi chiều thu,

Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.

Quả là độc đáo, đẫm thơ mộng và… tình tứ! Vị quản đốc cười nói:

– Phong tục mà. Tháng 7, cũng như các hộ gia đình, nhiều cơ quan, đơn vị cúng cô hồn. Các công ty liên doanh với Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, chà chà, cúng càng ghê. Xí nghiệp đây, bộ phận nào cúng riêng bộ phận nấy. Phòng ban to thì cúng cô hồn to. Phòng ban nhỏ thì cúng cô hồn… nhí. Cúng xong, tập thể cùng xơi. Nào, mời anh Phanxipăng nâng ly.

Tôi nhấp ngụm cognac, nhìn ra cửa sổ. Thành phố mới lên đèn. Tháng 7 chưa qua mà ven đường đã mọc hàng loạt quày sạp bày bán đèn lồng và bánh Trung thu, mở nhạc ầm ĩ:

– Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ới! Sài Gòn ơi!

Thiền sư Nhất Hạnh tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Sài Gòn ngày 17-3-2007, dịp đại trai đàn bình đẳng chẩn tế giải oan. Ảnh: Phanxipăng

____________

(2)   Thực ra, ở phương Tây, biểu tượng phổ dụng trong Ngày Mẹ là hoa cẩm chướng, còn trong Ngày Cha là hoa hồng. Với hai hoa ấy, hai màu đỏ và trắng được dùng nhằm bộc lộ còn hay mất cha lẫn mẹ. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hoa hồng cài ngực áo dịp Vu Lan – gồm màu hồng hoặc màu trắng, thêm màu vàng dành cho tăng ni – chỉ hướng về từ mẫu, trong khi đại lễ này lại tỏ hiếu với mẹ lẫn cha và cả các bậc tiền nhân. Gần đây, xuất hiện sự cải biến: ai còn cha mẹ thì cài hoa màu đỏ, ai mất hoặc cha hoặc mẹ thì cài hoa màu hồng, ai mất song thân thì cài hoa màu trắng.

Phanxipăng

Đã in trong sách Sài Gòn nay của Phanxipăng (NXB Thanh Niên, 1998)

Để thưởng thức bài hát Bông hồng cài áo do Phạm Thế Mỹ phổ nhạc theo ý Nhất Hạnh, do nhiều ca sĩ lần lượt trình bày, mời quý bà con truy cập

http://www.nhaccuatui.com/tim-kiem?q=B%C3%B4ng+h%E1%BB%93ng+c%C3%A0i+%C3%A1o&from=uk

 

Read Full Post »

Ngẫu nhĩ làm sao mà thời gian qua, đọc chồng thư độc giả gửi riêng cho tôi, thấy hơn chục lá – trong đó có một lá viết từ Tokyo (Nhật) và một từ California (Hoa Kỳ) – đều đặt cùng câu hỏi:

Sài Gòn tháng 7 có chi hay?

Tháng đây tính theo âm lịch, lắm chuyện hay chứ: lễ Thất Tịch vào tiết Trùng Cửu nè, Tết Trung Nguyên và Vu Lan thắng hội xá tội vong nhân nè, v.v.

Không ảnh một khoảnh Sài Gòn. Ảnh: Phanxipăng

Giọt mưa ngâu

Người ta bảo Sài Gòn nói riêng, cả miền Nam nói chung, mỗi năm không có xuân-hạ-thu-đông luân chuyển, mà chỉ có hai mùa mưa-nắng tiếp nhau. Song, ở “Hòn Ngọc Viễn Đông”, khi những chùm phượng vỹ cuối cùng vừa tàn, tháng 7 âm lịch chớm sang, dân cư vẫn cảm nhận được một thiên nhiên khang khác. Trời đất dễ chịu hơn. Không khí trong lành, mát dịu hơn. Cứ như thu ấy. Dù tìm mỏi mắt chẳng thấy ngọn lá ngô đồng sa từ câu thơ cổ:

Ngô đồng nhất diệp lạc,

Thiên hạ cộng tri thu.

Chiều nọ, tôi cùng bạn bè ngồi tán gẫu nơi quán bia, chợt ngơ ngác với cơn mưa đột ngột trút xuống.

– A, mưa thu!

Gã nghệ sĩ lang bạt Vũ Ngọc Giao quả quyết thế, rồi ôm guitar thể hiện ca khúc bất hủ Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong:

Gió xa xôi vẫn về

Mưa giăng sầu lê thê

Đến bao lâu nữa trời

Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu?

Chính tôi cũng tin rằng cơn mưa rả rích dai dẳng hôm ấy là mưa Ngâu. Và giọt giọt thánh thót rơi ngoài hiên kia là dòng lệ mừng mừng tủi tủi của đôi lứa Ngưu Lang – Chức Nữ trên cầu Ô Thước bắc ngang Ngân Hà. Câu chuyện cổ tích đầy cảm động đó từng được tiền nhân nhắc lại qua mấy vần thơ:

Tục truyền tháng 7 mưa Ngâu,

Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.

Một là duyên,

Hai là nợ,

Mối xích thằng (1) ai gỡ cho ra?

Vụng về cũng thể cung nga,

Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.

Các bạn am hiểu thiên văn học ắt phì cười, bảo đấy là chuyện bịa. Trong thực tế, Ngưu Lang / Ataire / Altaire và Chức Nữ / Vega / Wega là hai tinh cầu to đùng, to hơn cả mặt trời, mà chúng cách nhau rất xa: 16,4 năm ánh sáng. Nếu chạy nhanh mỗi ngày cả trăm cây số, chàng Ngưu phải mất 4,3 tỉ năm mới gặp nàng Chức! Còn phóng phi thuyền đạt tốc độ 11km/giây cũng mất 45.000 năm, vợ chồng Ngưu mới giáp mặt nhau!

Ừ, thì chuyện tưởng tượng của ông bà ta xưa mà. Nhưng, giữa “cơ chế thị trường” hiện tại rặt thực tế, thực dụng, cớ sao chúng ta không dành đôi phút thả hồn mơ mộng và suy tưởng trong di sản văn hoá tiền nhân – nhất là khi thời tiết quá đỗi dễ thương thế này?

Một thoáng Sài thành. Ảnh: Phanxipăng

Điều khiến tôi ngạc nhiên thích thú vô cùng là ngay trong thành phố Sài Gòn đông đúc ồn ào này, vẫn còn gia đình bảo lưu phong tục truyền thống dân tộc: làm lễ Ngâu. Lễ được tiến hành một cách đơn giản trong nhà vào khuya mùng 7 tháng 7 âm lịch nên còn gọi là lễ Thất Tịch nhằm tiết Trùng Cửu.

Một nhà giáo hoài cổ ở Gò Vấp nói với tôi:

– Anh Phanxipăng à! Thời gian gần đây, cứ đến 14-2 dương lịch, giới trẻ Việt Nam háo hức đón Valentine’s Day là tập tục du nhập từ phương Tây. Cũng hay. Nhưng nếu Việt Nam chọn tiết Trùng Cửu làm Ngày Tình Yêu ắt còn hay, còn ý vị hơn nhiều, anh héng?

Vu Lan thắng hội

Đêm 14 và rằm tháng 7, ở Sài Gòn, một số đường phố chật ních người trẩy hội Vu Lan. Các ngôi chùa lớn như Vĩnh Nghiêm, Vạn Hạnh, Ấn Quang, Xá Lợi, Việt Nam Quốc Tự và tất cả tòng lâm thiền viện khác thảy đều treo bandrole Vu Lan thắng hội.

Thiền viện Vạn Hạnh tại quận Phú Nhuận mùa Vu Lan. Ảnh: Phanxipăng

Vu Lan là gì? Gọi đầy đủ thì Vu Lan Bồn. Theo Kinh Vu Lan do Trí Quang thượng nhân dịch giải (NXB TP.HCM, 1994) thì cụm từ ấy vốn phiên âm tiếng Phạn, còn có cách phiên khác nữa là Ô Lam Bà Na. Nguyên nghĩa “cứu đảo huyền” tức “giải cứu cái khổ như sự bị treo ngược” (tr.51). Ngẫu nhiên chữ Bồn kia trùng âm Hán-Việt, đều mang nghĩa ứng khí, tức dụng cụ đặt đồ hiến cúng. Nói nôm na là cái bát. Hàng ngũ Phật tử sắm sanh lễ vật đặt vào bát to để cúng dường chư tăng vừa mãn hạ nhằm mục đích: “cầu nguyện cha mẹ đang còn hiện tại sống lâu trăm tuổi, không bệnh, không khổ; cha mẹ bảy đời trong thì quá khứ thoát khổ ngạ quỷ, sinh trong nhân loại hay trên chư thiên, phước lạc vô cùng” (tr.31).

– Vì sao vậy?

Thử nêu câu hỏi đó với các vị sư sãi, bạn sẽ nghe huyền thoại ly kỳ về lòng hiếu thảo của ngài Mục Liên như vầy:

– Tôn giả Mục Liên là đệ tử thượng túc của Đức Phật Thích Ca. Lúc ngài đạt được 6 phép thần thông, muốn cứu song thân để báo đáp ân đức sinh thành dưỡng dục nên ngài dùng thiên lý nhãn quan sát khắp thế giới luân hồi và thấy mẹ mình bị đoạ trong ngạ quỷ nơi ngục A Tì, không có đồ ăn thức uống, thân thể chỉ còn da bọc xương. Tôn giả vận dụng phép mầu đến bên mẹ, dâng bát cơm. Bà mẹ là Thanh Đề liền lấy tay trái che bát, tay phải vốc cơm, nhưng không thể nào ăn được, vì hễ cơm đến miệng thì hoá thành… lửa đỏ! Tôn giả khóc lóc bi thảm, chạy về bạch Phật, xin cứu giúp mẹ mình. Đức Phật cho biết rằng bà Thanh Đề tội lỗi nặng nề lúc sinh tiền, giờ một mình Mục Kiền Liên chẳng thể giải cứu; chỉ còn cách là đúng ngày rằm tháng 7 rước chư tăng mười phương, dâng bát cúng dường để nhờ tất cả đồng tâm hiệp ý cầu nguyện thì mới giải thoát bà mẹ khỏi thống khổ. Lễ Vu Lan Bồn xuất hiện từ đó, là dịp con cái thể hiện lòng hiếu thảo.

Sự tích Mục Kiền Liên đã được các nhà làm phim Việt Nam, Hong Kong, Ấn Độ, v.v., dàn dựng. Truyện này còn có dị bản là La Bộc cứu mẹ, đã được Toan Ánh chép trong quyển thượng Tín ngưỡng Việt Nam (Nam Chi Tùng Thư xuất bản, Sài Gòn, 1967 – NXB TP.HCM tái bản, 1997).

Chùa Trung Nghĩa tại quận Gò Vấp mùa Vu Lan. Ảnh: Phanxipăng

Ngày Vu Lan, chùa chiền tiến hành tự tứ và trai tăng, cầu siêu và hiệp kỵ. Nhiều nơi, các đoàn sinh Gia Đình Phật Tử thực hiện bích báo theo chủ đề “Nhớ ơn cha mẹ”, trình diễn văn nghệ với nhiều tiết mục ca ngợi “Ơn nghĩa sinh thành”. Có nơi, như chùa Quán Thế Âm ở quận Phú Nhuận, lại lập đàn cử hành trai tiếu bạt độ suốt 2 ngày đêm, thu hút khá đông người dự.

Thực chất, Vu Lan chính là ngày hội báo hiếu. Đúng như tuyển tập Saigon by night do Trung tâm Thông tin thương mại (thuộc Bộ Thương mại) ấn hành năm 1993 đã nhận xét cuối bài Ullambama Festival and the Middle of the 7th Lunar Month rằng: “Lễ Vu Lan vừa tô đậm một nét đẹp đạo đức, vừa thể hiện một giá trị mỹ học. Đó là sự phản ánh cụ thể về truyền thống dân tộc, duy trì căn bản đạo đức gia đình là nêu cao chữ hiếu. Không chỉ báo hiếu cha mẹ quá vãng mà dịp để những người con nhớ đến cha mẹ đang còn sống giữa cõi đời. Trong hai ý nghĩa đó, mỗi lần lễ hội Vu Lan, người ta đi chùa dự lễ thường có tặng nhau những bông hồng cài áo”.

Chùa Phước Long tại quận 9 mùa Vu Lan. Ảnh: Phanxipăng

____________

(1)   Xích thằng nghĩa là tơ hồng, ngụ ý nhân duyên tiền định. Xuất phát từ điển cố xích thằng hệ túc / 赤繩繫足. Tương truyền đời Đường, Vi Cố gặp ông lão dưới trăng; ông lão đem dây màu đỏ buộc chân nam nữ thì đôi lứa ấy nên vợ chồng.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Phó bảng (II)

Phó bảng có gì lạ?

Tập 3 Từ điển bách khoa Việt Nam (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003) đề cập Phó bảng: “học vị các kỳ thi Hội trong chế độ khoa cử đời Nguyễn. Theo thang bậc, thấp hơn học vị Tiến sĩ, có thể coi là những Tiến sĩ bảng phụ. Trong một khoa thi Hội, có thể vừa có học vị Tiến sĩ, vừa có học vị Phó bảng. Cũng có khi chỉ lấy đỗ Phó bảng, mà không lấy đỗ Tiến sĩ.”

Từ điển bách khoa trình bày vậy quá sai lệch. Thực tế, chẳng khoa thi Hội nào chỉ lấy đỗ Phó bảng mà không lấy đỗ Tiến sĩ cả.

Tuy được gọi Ất tiến sĩ, song giữa Phó bảng với Giáp tiến sĩ / Tiến sĩ tồn tại sự cách biệt khá xa. Chánh bảng, danh sách tân Tiến sĩ được viết trên giấy đỏ, được đặt trên án đỏ, che lọng đỏ, do đó mới hình thành từ vựng Châu bảng. Châu / chu / 朱 mang nghĩa sắc đỏ. Châu bảng được quan quân trịnh trọng đưa vào Hoàng thành trình vua, sau đó đem ra Phu Văn Lâu treo 3 ngày. Danh sách tân Phó bảng chỉ treo 1 ngày mà chẳng có nghi thức gì. Các Phó bảng không được dự lễ Truyền lô, không được vua ban yến, không được thưởng hoa ở Ngự uyển rồi cưỡi ngựa dạo quanh Kinh thành, không cờ quạt ân tứ vinh quy, và không được khắc tên vào bia đá dựng tại Văn Thánh / Văn Miếu.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia còn ghi: “Phó bảng không được dự thi Đình để xếp loại Tiến sĩ. Từ năm 1851 vua Tự Đức có cho thêm một số Phó bảng có điểm số thi Hội gần với điểm chuẩn đỗ chánh bảng được tham dự thi Đình để có thêm cơ hội phấn đấu. Nếu đạt điểm chuẩn đỗ Tiến sĩ thì được công nhận là Tiến sĩ, nếu không đạt vẫn được công nhận là Phó bảng.”

Bùi Ân Niên –  trường hợp hy hữu

Bùi Văn Dị / Tự được vua Tự Đức ban tên Bùi Ân Niên, chào đời năm Nhâm Thìn 1832 tại xã Châu Cầu, tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội, nay là TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Năm Canh Tuất 1850 và Nhâm Tý 1852, mới 18 và 20 tuổi, thi đỗ Tú tài. Năm Ất Mão 1855, 23 tuổi, thi đỗ Cử nhân. Năm Ất Sửu 1865, niên hiệu Tự Đức XVIIII, thi Hội, đỗ thứ 4 hạng Trúng cách, nhưng vào thi Đình bị hỏng, đành nhận học vị Phó bảng.

Sau đó, Bùi Ân Niên lần lượt đảm chức Tri huyện Lang Tài, rồi Việt Yên, rồi Yên Dũng ở tỉnh Bắc Ninh, Án sát tỉnh Ninh Bình, về Huế công tác ở Nội Các, làm quan duyệt quyển các khoa thi Hội. Năm Bính Tý 1876, được thăng Thị lang Bộ Lễ, làm Chánh sứ sang triều đình nhà Thanh. Mậu Dần 1878, Quyền Tham tri Bộ Lại. Tân Tị 1881, làm Đại thần quản lý Nha Thương Bạc. Năm sau, giữ chức Khâm sai Phó Kinh lược sứ Bắc kỳ. Giáp Thân 1884, vào Kinh, đảm trách Tả Tham tri Bộ Lại, lại được làm “Nhật Giảng quan” để giảng sách cho vua Kiến Phúc. Lúc chủ quyền quốc gia lọt vào tay Pháp, ông ghé Thanh Hoá ẩn dật với hiệu Hải Nông. Nhưng cuối năm Đinh Sửu 1877, vua Đồng Khánh triệu ông về Kinh, cho giữ chức Tham tri Bộ Binh kiêm Thương tá Viện Cơ Mật, đồng thời làm Giảng quan. Năm sau, làm Quyền Thượng thư Bộ Lễ kiêm Phó Tổng tài Quốc Sử Quán, phụ trách biên soạn phần Đệ tứ kỷ trong bộ sách Đại Nam thực lục. Vua Thành Thái lên ngôi, ông càng được trọng dụng: vừa làm Giảng quan, vừa làm Phụ đạo Đại thần. Năm Canh Dần 1890, vua Thành Thái hỏi:

– Khanh làm quan trải 3 triều, lại hưởng tuổi thọ, nay còn gì ao ước không?

Bấy giờ, Bùi Ân Niên đã 59 tuổi, tâu:

– Thần nhờ ơn nước như thế này là thịnh lắm rồi, còn dám mong mỏi gì hơn nữa. Duy có một việc, thần vẫn thắc mắc trong dạ từ trước đến nay là khoa thi năm Ất Sửu, thần đã Chánh trúng cách mà lại đỗ xuống Phó bảng, không hiểu tại duyên cớ nào.

Vâng mệnh bà Từ Dũ, vua Thành Thái gia ân đặc cách, ban cho Bùi Ân Niên học vị Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân. Bia đá chỉ khắc độc nhất họ tên 1 Tiến sĩ là di vật vô tiền khoáng hậu lâu nay được bảo lưu tại Văn Thánh / Văn Miếu ở Huế.

Hiện vật ghi nhận sự kiện có 1 không 2: bia Tiến sĩ đặc cách dành riêng cho Phó bảng Bùi Ân Niên được khắc dựng năm Canh Dần 1890, niên hiệu Thành Thái đệ nhị, tại Văn Thánh, Huế. Ảnh: Phanxipăng

Năm Ất Tị 1905, Bùi Ân Niên mất. Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) điếu bạn thân bằng đôi câu đối:

Ngư ky cựu phố, hoa sơ lạc,

Long bảng tân bi, thạch vị đài.

Trong sách Giai thoại làng nho (Nam Chi Tùng Thư xuất bản, Sài Gòn, 1966), Lãng Nhân dịch:

Bến cá bàn xưa, hoa đã rụng,

Bảng rồng bia mới, đá chưa rêu.

Mấy chữ thạch vị đài / đá chưa rêu sao mà thâm trầm và hóm hỉnh, không chỉ buồn cười về bước công hầu của một sĩ phu, mà cả quan niệm quý khoa (thi đỗ) hơn quý hoạn (làm quan) đã hằn sâu vào xã hội tự bao đời!

266 vị Phó bảng

Tính đến kỳ thi Hội cuối cùng vào năm Kỷ Mùi 1919, niên hiệu Khải Định thứ IV, trải 90 năm tuyển chọn đại khoa, đất nước ta đã có 266 vị Phó bảng.

Đây là 3 Phó bảng lừng danh:

* Nguyễn Văn Siêu (1795 – 1872): nguyên quán làng Kim Lũ, nay thuộc xã Đại Kim, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội. Đỗ Phó bảng khoa Mậu Tuất 1838, niên hiệu Minh Mạng XIX. Làm Phó sứ sang Thanh năm Kỷ Dậu 1849, đoạn giữ chức Án sát Hà Tĩnh rồi Hưng Yên. Là người thiết kế quần thể đài Nghiên, tháp Bút, cầu Thê Húc, tu sửa đền Ngọc Sơn ở hồ Gươm. Lưu lại các tác phẩm Phương Đình dư địa chí, Phương Đình tuỳ bút lục, Phương Đình vạn lý tập. Về tài năng văn chương, Nguyễn Văn Siêu cùng Cao Bá Quát được người cùng thời tôn sùng “thần Siêu, thánh Quát”.

* Hoàng Kim Tích tức Hoàng Diệu (1829 – 1882): người xã Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, nay là huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Đỗ Phó bảng khoa Quý Sửu 1853, niên hiệu Tự Đức VI. Làm Tri huyện Tuy Phước rồi Tri phủ Tuy Viễn ở Bình Định, Tri huyện Hương Trà ở Thừa Thiên, Tri phủ Đa Phúc ở Phúc Yên rồi Lạng Giang ở Bắc Giang, Án sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh, Tham tri Bộ Hình rồi Bộ Lại. Năm 1880, làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội & Ninh Bình). Ngày 25-4-1882, giặc Pháp tấn công, thành Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết ở Võ Miếu.

* Phan Châu Trinh (1872 – 1926): người xã Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Tiên Kỳ, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu 1901, năm sau học trường Hậu Bổ, ra làm Thừa biện Bộ Lễ ít lâu thì từ quan, ngược xuôi Nam Bắc, kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước – trong đó có Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu. Ất Tị 1905, sang Nhật Bản rồi sang Pháp. Đinh Mùi 1907, giảng dạy Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội. Mậu Thân 1908, bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Canh Tuất 1910, bị Pháp quản thúc tại Mỹ Tho. Tân Hợi 1911, cùng con trai là Phan Châu Dật sang Pháp. Ất Sửu 1925, hồi hương, tiếp tục kêu gọi dân quyền, dân sinh, dân khí. Phan Châu Trinh mất ngày 24-3-1926 tại Sài Gòn.

Tượng đá Phan Châu Trinh – đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu 1901 – do Nguyễn Long Bửu tạc và dựng tại quận Tân Bình, TP.HCM. Ảnh: Phanxipăng

Cũng nên kể thêm phương danh các Phó bảng: Nguyễn Bá Nghi, Phạm Thế Húc (em của Tiến sĩ Phạm Thế Hiển), Phan Đình Tuyển (thân phụ của Tiến sĩ Phan Đình Phùng), Trần Doãn Đạt (thân phụ của Tiến sĩ Trần Hy Tăng / Trần Bích San), Phan Đình Vận (con của Phó bảng Phan Đình Tuyển và em của Tiến sĩ Phan Đình Phùng), Đặng Huy Xán (em của Đặng Huy Trứ) (1) , Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Hoan (con trai của Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến), Cao Xuân Tiếu (con của Cao Xuân Dục và thân phụ của Cao Xuân Huy), Nguyễn Thiện Kế (em của Nguyễn Thiện Thuật), Nguyễn Sinh Huy / Nguyễn Sinh Sắc (thân phụ của Nguyễn Sinh Cung tức chủ tịch Hồ Chí Minh), v.v. ♥

­­­­­­—————–

(1)   Quý bà con có thể tham khảo bài Người trồng mầm nhiếp ảnh Việt Nam của Phanxipăng đã đăng Thế Giới Mới 453 (10-9-2001) rồi truyền vào weblog này ngày 29-5-2011 https://phanxipang.wordpress.com/2011/05/29/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%bb%93ng-m%e1%ba%a7m-nhi%e1%ba%bfp-%e1%ba%a3nh-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/

            ● Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 868 (11-01-2010)

Read Full Post »

Phó bảng (I)

  • Học vị Phó bảng xuất hiện thời gian nào?
  • Việt Nam có bao nhiêu Phó bảng?
  • Giai thoại lý thú liên quan Phó bảng.
  • Một số Phó bảng lừng danh. 

Vài nét về khoa cử Việt Nam xưa

Cuộc thi đầu tiên của nước ta do triều đình tổ chức là khoa Tam trường được vua Lý Nhân Tông mở năm Ất Mão 1075, chọn 6 người mà thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Vua Trần Thái Tông cho tổ chức khoa thi Thái học sinh vào năm Nhâm Thìn 1232, sau đó cứ 7 năm thi 1 lần, đến năm Giáp Dần 1374, vua Trần Duệ Tông đổi tên thành khoa thi Tiến sĩ. Vua Lê Thái Tông (1433 – 1442) đặt lệ 5 năm mở 1 kỳ thi Hương, 6 năm mở 1 kỳ thi Hội. Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497), thi cử được định lệ theo nhà Minh: cứ 3 năm mở 1 khoa; thi Hương vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; thi Hội vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

Sau khi thống nhất giang sơn, vua Gia Long cho mở khoa thi Hương vào năm Đinh Mão 1807. Khoa thi Hội đến năm Nhâm Ngọ 1822 mới được tổ chức lúc vua Minh Mạng trị vì. Khi khoa cử khá hoàn bị, triều Nguyễn mở nhiều kỳ thi, được chia làm 2 loại:

* Thường khoa là khoa thi Tiến sĩ, gồm 3 kỳ thi: Hương, Hội, Đình. Thi Hương ở các trường Hà Nội, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định, An Giang, chọn Cử nhân để thi Hội. Thi Hội và thi Đình (còn gọi Điện thí / Phúc thí) ở kinh đô Huế.

* Chế khoa được tổ chức từ thời vua Tự Đức, có Hoành tài, Nhã sĩ, Cát sĩ.

Trước Kỳ Đài Huế, nhìn ra sông Hương, Phu Văn Lâu được xây dựng năm Kỷ Mão 1819 dùng làm nơi niêm yết những chỉ dụ quan trọng cùng kết quả các kỳ thi do triều đình công bố. Ảnh: Phanxipăng

Phó bảng là Ất tiến sĩ

Xem xét lịch sử khoa cử Việt Nam, thấy ngay rằng đến triều Nguyễn xuất hiện nét mới đáng lưu ý: khoa thi Hội từ năm Kỷ Sửu 1829, niên hiệu Minh Mạng thứ X, ngoài việc chọn các Tiến sĩ 進士, còn lựa thêm các Phó bảng 副榜. Danh sách thí sinh đạt danh hiệu Tiến sĩ được yết ở chánh bảng. Danh sách thí sinh kém hơn nhưng vẫn đỗ được yết ở bảng phụ thì gọi là Phó bảng.

Sách Khoa cử & các nhà khoa bảng triều Nguyễn của nhiều soạn giả (NXB Thuận Hoá, Huế, 2000) ghi nhận: “Những thí sinh đỗ kỳ thi Hội (gọi là Trúng cách hoặc Chánh trúng cách) sẽ được vào thi Đình. Sau khi yết bảng thi Hội, các quan Chủ khảo và Tri cống cử căn cứ theo điểm các thí sinh ở các trường thi, lập bảng Giáp và bảng Ất, mỗi thứ hai bảng. Bảng Giáp ghi danh những người đỗ chính thức, bảng Ất ghi danh những người lấy đỗ Phó bảng. Những người có tên trong bảng Giáp sẽ được dự kỳ thi Đình. Đến đời Tự Đức, có khoa thi vì số người đỗ ở bảng chính quá ít, nên vua rộng lượng xét cho những người đỗ Phó bảng cũng được vào thi Đình, như năm Tự Đức thứ XXX Đinh Sửu (1877), năm Tự Đức thứ XXXIII Canh Thìn (1880).”

Trong bài 90 năm học vị Phó bảng đăng trên tạp chí Huế xưa & nay số 2 (2-1993), Lê Quang Thái viết: “Thông thường, Phó bảng được gọi là Ất khoa tiến sĩ để phân biệt với Tiến sĩ là Giáp khoa tiến sĩ. Người ta còn gọi tắt Phó bảng là Ất tiến sĩ.”

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cũng ghi rằng Phó bảng là Ất tiến sĩ 乙進士.

5 vị Phó bảng đầu tiên

Khoa thi Hội năm Kỷ Sửu 1829, niên hiệu Tự Đức X, do Thượng thư Bộ Hình là Hoàng Kim Xán làm Chánh chủ khảo. Sách Khoa cử & các nhà khoa bảng triều Nguyễn (sđd) cho hay: “Khoa này bắt đầu dùng điểm số để chấm các bài thi và cũng bắt đầu chọn Phó bảng. Thứ tự xếp hạng căn cứ vào điểm số như sau: Hạng Ưu: 9 đến 10 điểm; hạng Ưu thứ: 7 đến 8 điểm; hạng Bình: 5 đến 6 điểm; hạng Bình thứ: 3 đến 4 điểm; hạng Thứ: 1 đến 2 điểm; hạng Liệt là không đủ 1 điểm (bất cập phân). Thí sinh nào qua được 3 kỳ mà đạt điểm tổng cộng từ 10 trở lên, xếp vào hạng Chánh bảng; nếu đạt được 3 kỳ mà điểm tổng cộng từ 4 đến 9 hoặc chỉ đạt được 2 kỳ mà cộng điểm 10 trở lên, xếp vào hạng Phó bảng.”

Khoa ấy chọn được 5 vị Phó bảng đầu tiên của nước nhà:

1. Phạm Văn Hợp: sinh năm Ất Mão 1795, người xã Minh Tảo, huyện Từ Liêm, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc TP. Hà Nội.

2. Dương Đăng Dụng: sinh năm Giáp Tý 1804, người xã Ỷ La, huyện Từ Liêm, tỉnh Sơn Tây, nay thuộc TP. Hà Nội.

3. Phan Văn Nhã: sinh năm Bính Dần 1806, người xã Yên Đông, huyện La Sơn, tỉnh Nghệ An, nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Phan Văn Nhã là bác của Tiến sĩ Phan Đình Phùng (1847 – 1895).

4. Nguyễn Thường: sinh năm Giáp Tý 1804, người xã Minh Lương (sau đổi thành Trung Lương), huyện Thiên Lộc, tỉnh Nghệ An, nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

5. Trần Ngọc Dao: sinh năm Kỷ Mùi 1799, người xã Mậu Tài, huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên, nay là xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trần Ngọc Dao là người Thừa Thiên đầu tiên đỗ đại khoa, từng đảm trách Tuần vũ Định Tường, Phó Đô Ngự sử, Tham tri Bộ Binh, tạ thế năm Ất Tị 1845, niên hiệu Thiệu Trị V, được an táng tại Hội An, Quảng Nam.

Phanxipăng ghé Hội An, viếng lăng mộ ngài Tham tri Bộ Binh Trần Ngọc Dao, 1 trong 5 Phó bảng đầu tiên của nước ta. Lăng mộ này đã được Nhà nước công nhận di tích vào năm 2008. Ảnh: Suy Min

(Còn nữa)

Read Full Post »

Con đường gốm sứ. Ảnh: Phanxipăng

Nét xuân sơn

Dạo xem con đường gốm sứ ven sông Hồng, khi thì “toàn tập”, khi thì từng đoạn ngắn, lắm khi chỉ một vài hoạ tiết, qua nhiều buổi – sáng, trưa, chiều, tối – trong những điều kiện thời tiết khác nhau, tôi nhận ra rằng công trình nghệ thuật quần chúng này thực sự góp phần tích cực vào việc làm tốt làm đẹp thủ đô đúng đại sự kiện: sinh nhật thứ 1000.

Dừng chân phía đầu cầu Chương Dương, ngắm đôi rồng thời Lý chầu dãy số ghi hai niên điểm đáng nhớ 1010 – 2010 được bố trí trên nền những vòng cung đa sắc và ngoài cùng là muôn đoá hoa đào tươi thắm, rồi tạt qua khỏi chợ Long Biên một quãng ngắn trên đường Trần Nhật Duật, nhìn dòng chữ Thăng Long Hà Nội 1010 2010 xanh thẫm – xanh nhạt – xanh nõn chuối – cam – đỏ với biểu trưng chính thức của Hà thành là logo gác Khuê Văn do hoạ sĩ Phạm Ngọc Tuấn thiết kế (2) gần bên mặt trống đồng Ngọc Lũ, tôi nhận ra sự khéo léo phối kết hợp gốm sứ nhiều kiểu thức trên bức tranh tường: mảnh vuông, phiến chữ nhật, viên gạch và nhiều hình dạng khác theo đối tượng được tạo hình cụ thể.

Không chỉ tranh bằng phẳng, con đường gốm sứ ven sông Hồng có những chỗ mà các hoạ tiết nhô ra tạo nên phù điêu. Qua đó, rất nhiều điều được quần chúng thoải mái đón nhận qua kênh mỹ thuật thị giác. Có 21 trường đoạn tranh gốm nối tiếp nhau theo các chủ đề: chuỗi hoạ tiết theo dòng lịch sử từ Đông Sơn qua Lý, Trần, Lê, Nguyễn; hoa văn của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng Việt Nam; làng quê Việt Nam; lễ hội dân gian; gốm sứ Việt Nam; gốm sứ thế giới; tranh thiếu nhi Việt Nam và quốc tế với khát vọng hoà bình; tranh gốm phong cách đương đại do các hoạ sĩ quốc tế thể hiện; thế giới các loài hoa; dấu ấn định đô Thăng Long; mùa xuân phố cổ, v.v. Ngoài ra, công trình này còn bộc lộ tình hữu nghị quốc tế khi thể hiện hoa văn cùng cảnh sắc đặc trưng của nhiều quốc gia, tái tạo tranh Vicent van Gogh (1853 – 1890), v.v.

Con đường gốm sứ. Ảnh: Phanxipăng

Gốm phủ men màu được nung từ 1.2000C trở lên, gắn chặt bằng keo Mora, dẫu gặp lắm sự cố đáng tiếc nẩy sinh như bị nứt vỡ, bong tróc, song Nguyễn Thị Thu Thuỷ cùng cộng sự tích cực tìm phương án sửa chữa, thay thế, duy tu, bảo dưỡng. Không chỉ chừng ấy, tác phẩm lớn này còn cần đảm bảo vệ sinh, phòng tránh những hành động nghịch phá, v.v.

Dọc theo con đường gốm sứ ven sông Hồng, bây giờ mọi người thấy hiển hiện logo các cơ quan, đoàn thể, doanh nghiệp đã nhiệt tình tài trợ cho công trình nghệ thuật cộng đồng này. Đó là UBND của nhiều tỉnh thành trong cả nước như Hà Nội, TP.HCM, Thừa Thiên – Huế, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hoà Bình, Điện Biên, Thái Nguyên, Hưng Yên, Nghệ An, Đồng Tháp, Vĩnh Long. Đó là các đại sứ quán Italia, Argentina, Tây Ban Nha, Hà Lan tại nước ta. Đó là các ngân hàng Vietcombank, Habubank, SeABank, BIDV. Đó là các công ty Vietnam Airlines, Vinaphone, Petrolimex, Vinapaco, Vinaconex, Vnsteel, Viglacera, Hanosimex, Hapro, Handico, Hanel, Mova, Cyvad, Vincom, Garco 10, Impsa, FPT, CEO, PVFC, Hồng Hà, Việt Hà, Thái Dương, Trần Hồng Quân, Thạch Bàn, Quang Minh, Sông Đuống, Thung Lũng Vua, Đá Đỉnh Vòm. Đó là Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Quỹ Freedom to Create, Quỹ Ford Foundation, Viện Goethe ở Hà Nội, Viện Giáo dục quốc tế, v.v.

Tháng 8-2008, con đường gốm sứ ven sông Hồng được trao giải “Bùi Xuân Phái vì tình yêu Hà Nội”.

Sáng thứ ba 5-10-2010, bên chân cầu Long Biên, lễ khánh thành con đường gốm sứ ven sông Hồng được tổ chức trọng thể. Bà Ngô Thị Thanh Hằng – Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội – trân trọng gắn biển “kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội” vào công trình đặc sắc này. Bà Beatriz Fernández, đại diện Tổ chức Kỷ lục Guinness / Guinness World Records trao tận tay Nguyễn Thị Thu Thuỷ bằng chứng nhận bức tranh ghép gốm sứ lớn nhất thế giới. Lúc ấy, chỉ trường đoạn Hoa văn Việt Nam trong dòng chảy lịch sử từ của khẩu An Dương đến cửa khẩu Tân Ấp với chiều dài 810m có diện tích bề mặt 1.570,2m2 được công nhận kỷ lục Guinness.

Ngày 5-10-2010, tại Hà Nội, bà Beatriz Fernández trao nhà báo kiêm hoạ sĩ Nguyễn Thị Thu Thuỷ bằng chứng nhận của Tổ chức Kỷ lục Guinness: bức tranh ghép gốm sứ lớn nhất thế giới. Ảnh: Lại Viễn Đàm

Bà Beatriz Fernández nói:

– Chúng tôi phải tiến hành đo và tính toán kỹ lưỡng diện tích của bề mặt bức tranh. Theo quy định của Tổ chức Kỷ lục Guinness, chỉ những bề mặt liền mạch với nhau mới được tính là một bức tranh. Tuy con đường gốm sứ của Hà Nội có tổng độ dài hiện tại gần 4km và tổng diện tích lên đến gần 7.000m2 nhưng lại bị phân chia bởi các cửa khẩu nên không thể được coi là một bức tranh duy nhất. Nói chính xác thì con đường gốm sứ là công trình bao gồm nhiều đoạn tranh hợp thành. Với công trình này, chỉ đoạn tranh dài 810m, rộng 1.570,2m2 thì kỷ lục thế giới mới được xác lập (3).

Trên trang web của Tổ chức Kỷ lục Guinness http://community.guinnessworldrecords.com/_Worlds-largest-ceramic-mosaic/BLOG/2699741/7691.html thì số liệu đo đạc con đường gốm sứ ven sông Hồng được công bố lại là: dài 3,85km, rộng 6.950m2.

Cần thêm rằng vào tháng 5-2010, tại TP Rawson – thủ phủ tỉnh Chubut ở miền Nam nước Argentina, đoạn tranh tường gốm sứ Bát Tràng dài 8,6m, cao 1,2m, diện tích bề mặt 10m2, mang tên La Nueva Era / Kỷ nguyên mới đã được các nghệ sĩ Việt Nam thể hiện mỹ mãn.

Phanxipăng cùng Nguyễn Thị Thu Thủy vui với “Con đường gốm sứ ven sông Hồng” đạt những thành quả bước đầu quá phấn khởi

Ngay trước Tết Tân Mão, Nguyễn Thị Thu Thuỷ chuẩn bị hành lý sang Tây Ban Nha để chuẩn bị kế hoạch tặng thủ đô Madrid bức tranh tường gốm sứ vào mùa hè 2011. Nàng chúm chím:

– Con đường gốm sứ ven sông Hồng được dịch ra tiếng Anh là Hanoi Ceramic Mosaic Mural, tắt hoá thành Hanoi Mural. Theo dự kiến, con đường gốm sứ ven sông Hồng đến năm 2013 mới hoàn công. Xin tiết lộ với anh Phanxipăng một thông tin hấp dẫn: em vừa thử nghiệm thành công quy trình in ảnh lên cột gốm đường kính 60cm, cao 1,8m. Nhờ nung nặng lửa, hơn 1.2000C, những tấm ảnh đó chịu đựng được mưa nắng ngoài trời.

Tin rằng trong tương lai, tranh tường gốm sứ và cột gốm xinh xắn mang dấu ấn Nguyễn Thị Thu Thuỷ sẽ hiện hữu ở Huế, TP.HCM, cùng nhiều tỉnh thành khác trên đất nước Việt Nam và thế giới. ♥

____________

(2) Quý bà con có thể tham khảo bài Biểu trưng Hà Nội & Hội An của Phanxipăng từng đăng Thế Giới Mới 899 (30-8-2010) rồi truyền vào weblog này ngày 30-6-2011 https://phanxipang.wordpress.com/2011/06/30/bi%e1%bb%83u-tr%c6%b0ng-ha-n%e1%bb%99i-h%e1%bb%99i-an/

(3) Trước đó, kỷ lục bức tranh ghép gốm sứ lớn nhất thế giới thuộc 清明上河圖 Thanh minh thượng hà đồ ở TP Cáp Nhĩ Tân, tỉnh Hắc Long Giang, Trung Hoa. Đó nguyên là bức tranh của hoạ sĩ 張擇端 Trương Trạch Đoan (1085 – 1145) vẽ trên trường quyển (cuộn giấy dài) 24,8 x 528,7cm; được một tập đoàn dược phẩm ở Cáp Nhĩ Tân tái hiện với kích thước 7,44 x 200,87m có diện tích bề mặt 1.494,4m2 , hoàn thành tháng 8-2006, Guinness công nhận kỷ lục thế giới vào tháng 2-2007.

Phanxipăng

Đã đăng Kiến Thức Ngày Nay 738 (10-2-2011)

Read Full Post »

Older Posts »