Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín, 2012

SỰ THẬT VỀ MỐI TÌNH

HÀN MẠC TỬ – HOÀNG THỊ KIM CÚC

 
Soạn Đôi nét về Hàn Mạc Tử , Quách Tấn ghi nhận: “Khi Tử làm Sở Đạc điền Quy Nhơn, Tử có yêu một thiếu nữ ở cùng một con đường – đường Khải Định (1) – biệt hiệu là Hoàng Cúc.”

            Nàng mang họ tên đầy đủ là Hoàng Thị Kim Cúc, ái nữ của tham tá Hoàng Phùng – thuở nọ đảm trách chức vụ giám đốc Sở Địa chính còn gọi Sở Đạc điền tỉnh Bình Định. Với nguồn tư liệu hiện thời, tôi chưa hề thấy Hoàng Thị Kim Cúc mang biệt hiệu Hoàng Cúc bao giờ cả. Biệt hiệu nàng là Hoàng Hoa. Có lẽ bắt nguồn từ những câu thơ Hàn viết thuở tương tư nàng. Như bài tứ tuyệt Hoa cúc:

            Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa,

            Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha.

            Vẻ mặt khác chi người quốc sắc,

            Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta.

            Hoặc rõ rệt hơn là trong bài Sao, vàng, sao – bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa – mà Hàn từng gửi “tiểu thư khuê các”:

            Trời nhật nguyệt cầu vồng bắc tứ phía,

            Ôi Hoàng Hoa, hồn phách đến nơi đây,

            Hương ân tình cho kết lại thành dây,

            Mong manh như lời nhớ thương hàng triệu

            Sinh thời, Hoàng Thị Kim Cúc thỉnh thoảng cũng sáng tác thơ và ký bút danh Hoàng Hoa, hoặc Hoàng Hoa thôn nữ, hoặc H.H.

Năm 1933, Hoàng Thị Kim Cúc tròn đôi mươi

            Hoàng Thị Kim Cúc chào đời ngày 5-12-1913 nhằm mùng 8 tháng 11 năm Quý Sửu. Hàn Mạc Tử chào đời ngày 22-9-1912 nhằm 12 tháng 8 năm Nhâm Tý. Khoảng cách tuổi tác như thế, theo quan niệm dân gian quả rất xứng đôi vừa lứa: “Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một”. Lứa thì vừa đấy, song chàng với nàng chẳng hề “đôi lứa xứng đôi” – dẫu chỉ xứng đôi trên tình trường như nhiều người bấy lâu ngộ nhận. Sự nhầm tưởng kia, trớ trêu thay, lại xuất phát từ những hồi ký do thân bằng quyến thuộc của Hàn viết và công bố sau khi Hàn mất!

            Để bạn đọc tiện khám phá sự thật vấn đề, tôi xin sao lục mấy lá thư của chính người trong cuộc là Hoàng Thị Kim Cúc.

            Thư đề ngày 13-3-1971 gửi Quách Tấn: “Hồi đó Tử thường đến chơi với Hoàng Tùng Ngâm là em chú bác với tôi. Bạn Ngâm đông lắm. Trong gia đình tôi, không ai để ý đến bạn của Ngâm. Câu chuyện tâm tình của Tử, trừ Ngâm ra, cũng không ai biết. Tôi được biết trước khi thầy tôi sắp về hưu, do một người bạn khác nói lại, chứ không phải Ngâm.”

            Thư đề ngày 15-4-1971 gửi Quách Tấn: “Hồi ấy tuy nhà Tử ở gần tôi, song Tử và tôi cách xa nhau như hai ngọn núi, Tử thì kín đáo và bẽn lẽn như con gái, còn tôi thì bí mật và xa lạ như cung trăng! Tuy thế Tử cũng đã tìm cách để gặp, nhưng rồi vẫn cũng chưa toại nguyện (…). Năm 1936, khi Tử ở Sài Gòn về Quy Nhơn, tôi vẫn còn ở Quy Nhơn đến mấy tháng sau mới về Huế.”

            Thư đề ngày 15-10-1971 gửi Quách Tấn: “Về tuồng cải lương (2) thì tôi được biết do đoàn Dạ Lý Hương đóng vào đầu năm 1970 (hồi đó tôi vào Sài Gòn được nghe nhiều người kể lại, trong đó có bác sĩ Lê Khắc Quyến kể nữa) và lần lượt đã trình diễn trên tivi khoảng mấy tháng sau tại các tỉnh miền Trung. Họ đã diễn tả đúng đoạn văn của ông trong tập Văn số 73 trang 93. Nghĩa là họ diễn đoạn Tử nhờ người đến cầu hôn bị ông bà thân nhà gái từ chối, hất hủi, vì lẽ Tử không xứng mặt đồng sàng! Cô Cúc không có trong vở tuồng, không xuất hiện trên sân khấu, chỉ có ông bà thân của cô và Tử thôi. Ông bà đã lột hết tài nghệ phơi bày rõ rệt tâm địa của con người chỉ biết tiền, ham danh vọng, khinh miệt người, hống hách… Như vậy, ông đã thấy rõ, vì động chạm sai lạc đến thầy mẹ tôi và Tử nên tôi mới lên tiếng, chứ không phải vì tôi!”

            Thư đề ngày 16-10-1987 gửi Nguyễn Bá Tín – em ruột Hàn: “Vào đầu năm 1936, sau khi ông trợ Cát là cậu tôi ghé nhà chơi, lúc ra về bỏ quên thư của Tử gửi cho cậu tôi mà nội dung chỉ nói về chuyện tâm tình của Tử. Tử có tới gặp tôi 2 lần. Lần đầu chỉ nói bâng quơ vài câu rồi chào về. Lần thứ 2, Tử mạnh dạn trong dáng điệu rụt rè, lắp bắp mấy lời tỏ tình, rồi đưa tặng tôi tập thơ Bâng khuâng với mảnh giấy nhỏ có mấy hàng chữ. Tôi bàng hoàng rồi cũng rụt rè từ chối, không nhận sách, không nhận thư (…). Gần cuối năm 1936, khi Tử về dự Hội chợ Huế, mang theo một xấp Gái quê vừa in xong, có gặp tôi cùng đi với anh em tôi trong Hội chợ. Tử đưa tặng anh em tôi mỗi người một tập, có đề chữ tặng, không tặng tôi mà chỉ yên lặng nhìn! Mấy hôm sau, Ngâm cho biết: Tử có về nhà tôi ở Vỹ Dạ mà lại đứng ngoài ngõ nhìn vô, rồi từ đó chúng tôi không gặp nhau, lại không thư từ, thăm viếng, hứa hẹn, mỗi người một ngả, cách xa nhau như hai ngọn núi (…). Nếu không có bức thư ông trợ Cát để quên ở nhà tôi thì có lẽ tôi vẫn dửng dưng vô sự. Và Ngâm cũng không nói gì với tôi về mối tình của Tử. Ngâm thấy không thể giấu được nên mới kể đại khái rằng: ‘Trí nó cảm chị lâu rồi, từ hôm chị bán gian hàng ở hội chợ của Tòa sứ Quy Nhơn tổ chức (…). Trí đã nhờ Ngâm đưa thư cho chị, Ngâm không đưa. Trí nhờ nói với chị về nỗi lòng, Ngâm từ chối. Trí làm thơ tặng chị đăng trong báo Phụ Nữ Tân Văn, Ngâm cắt mấy bài thơ rồi mới đưa báo cho chị (…). Thật tội cho thằng Trí! Nó kể cho em nghe nhiều nhiều, mà Ngâm đâu có nói gì với chị, vì Ngâm không muốn làm bận rộn tâm trí chị, khi thấy chị chưa nghĩ gì về chuyện yêu đương!’. Thật thế, lúc đó tôi đã 21 tuổi rồi (3) mà sao còn quá ngơ ngác!”

Thủ bút của Hoàng Thị Kim Cúc trong thư đề ngày 16-10-1987 gửi Nguyễn Bá Tín

            Thư đề ngày 11-5-1988 gửi Hoàng Toại – anh cả của Hoàng Thị Kim Cúc: “Lâu nay em chưa có dịp kể cho anh nghe và em cũng không kể cho ai hết, tuy thế đã có nhiều người biết chuyện, biết qua sách báo sai lạc, biết qua sự phỏng đoán và tưởng tượng của họ. Câu chuyện xảy ra trên nửa thế kỷ rồi anh nợ, em cũng im lặng cho nó đi qua, vì câu chuyện thuộc về dĩ vãng. Không ngờ mấy năm sau đây mấy nhà viết sách tìm tòi moi móc, moi những chuyện không đúng sự thật như bài báo của Kiêm Đạt ở bên đó (4) mà anh đã cắt gửi về cho em coi chẳng hạn (…). Hồi em ở Quy Nhơn với ba, Hàn Mạc Tử có để ý đến em, nhờ Ngâm hỏi ý kiến em, Ngâm không hỏi. Anh ấy kiếm cách gặp em kể lể nỗi niềm, em thấy trước là câu chuyện không đi đến đâu nên từ chối. Câu chuyện chỉ có chừng nấy, em yên trí là không liên quan gì với nhau nữa, không dè thi sĩ cứ thầm yêu trộm nhớ, làm thơ rồi nhờ bạn bè tặng sách báo cho em, em vẫn cứ im lặng, không trả lời trả vốn (…). Sau khi Hàn Mạc Tử qua đời, Ngâm mới kể rành mạch nỗi lòng của Hàn Mạc Tử đối với em. Em hết sức cảm kích và vô cùng ngậm ngùi. Anh có nhớ hồi anh làm ở văn phòng nào đó, ông Trần Tái Phùng cũng làm một chỗ với anh, một hôm anh đi làm về, đưa cho em một tờ giấy nhỏ có ghi hai câu thơ của Hàn Mạc Tử do ông Trần Tái Phùng đưa cho anh đem về hỏi em. Hai câu thơ đó là:

            Xiêm áo hôm nay tề chỉnh quá

            Muốn ôm hồn Cúc ở trong sương.

            Em xem xong chỉ cười mà không trả lời (…). Hôm nay em mới kể câu chuyện tâm tình đó với anh, kể ra cũng quá chậm, song chắc anh cũng hiểu tâm trạng em mà hoan hỷ cho em (…). Kha Anh, Kha Em hay Em Nhỏ thì có biết chuyện, song cũng biết lơ mơ vì em không nói chi hết; mấy em ở trong nhà cũng chỉ biết qua sách báo (…). Trong gia đình, anh là người đầu tiên mà em kể chuyện tâm tình của em.”

            Qua trích đoạn 5 lá thư của người trong cuộc, ắt bạn đọc đủ cơ sở để kết luận: mối tình đầu Hàn Mạc Tử dành cho Hoàng Hoa chỉ là tình đơn phương. Trao đổi với tôi về chuyện này, một bạn thân của Hàn Mạc Tử là nhà văn Trần Thanh Địch (5) thuở sinh tiền nhận định:

            – Năm 1941, ngay sau khi Hàn qua đời, anh Trần Thanh Mại soạn sách Hàn Mạc Tử đã có đoạn kết tiên đoán rất đúng: “Tôi vẫn biết trước, trong một ngày không lâu, người ta sẽ dành nhau cái vinh dự xây dựng cho thi sĩ Hàn Mạc Tử những chiếc Thánh giá vĩ đại, đến cả những lăng tẩm nguy nga nữa”. Tham dự một số buổi lễ kỷ niệm Hàn Mạc Tử được tổ chức đó đây trong thời gian qua, chắc anh Phanxipăng đã chứng kiến cảnh mấy phụ nữ tranh nhau tự nhận là “nàng thơ”, là “tình nhân” của thi sĩ quá cố. Thói đời mà! Thế nhưng, chị Cúc thì khác. Chị không nhận những gì mình không có. Tôi cho đó là đức tính trung thực đáng quý. Và nhiệm vụ của các cây bút ngày nay là hãy cố gắng đem “cái gì của César trả lại cho César”.

            Thiết tưởng cần soi sáng thêm đôi điểm về nhân thân Hoàng Thị Kim Cúc cùng một vài nhân vật liên quan từng được đề cập trong 5 bức thư trên. Biết đâu đôi điểm này lại có khả năng là một trong những “chìa khóa” giúp chúng ta “giải mã” phần nào hành trạng và tác phẩm của Hàn thi sĩ.

Kim Cúc cùng anh em ruột. Trái sang, hàng trước: Hoàng Thị Kim Cúc, Hoàng Tiêu Diêu tức Hoàng Xuân Tùy, Hoàng Thị Ngọc Anh; hàng sau: Hoàng Tế Ngộ, Hoàng Hoan Nghinh, Hoàng Do

            Nhiều người dân Huế hiện tại vẫn còn nhớ Hoàng Thị Kim Cúc ít nhất ở hai cương vị: nhà giáo kiêm nữ cư sĩ (6). Lật các tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa do Ban liên lạc cựu học sinh Đồng Khánh – Huế, nay là trường trung học phổ thông Hai Bà Trưng, thực hiện từ năm 1992 trở đi, chúng ta bắt gặp những dòng hồi ức của bao thế hệ học trò về “hình ảnh dịu dàng, vóc dáng nhỏ nhắn, vui vẻ ân cần nhưng cũng rất nghiêm khắc của Hoàng Thị Kim Cúc, cô giáo đầu đàn của bộ môn nữ công gia chánh thời ấy” (7). Hoàng Thị Kim Cúc cũng là tác giả bộ sách Món ăn nấu lối Huế (8)được nhiều người đọc và áp dụng.

            Thời ấy, Hoàng Thị Kim Cúc đến trường Đồng Khánh được các nữ sinh kính cẩn thưa “cô”, còn lúc ra đường, Hoàng Thị Kim Cúc thường được nhiều thanh thiếu niên gọi thân tình bằng “chị”. Đó là cách xưng hô phổ biến của mọi đoàn sinh đối với các nữ huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam (9). Mà chị Cúc là huynh trưởng với chức vụ Phó ban hướng dẫn trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam, phụ trách ngành nữ từ năm 1947. Như vậy, cư sĩ không chỉ tu tại gia mà còn tích cực hoạt động xã hội.

            Tôi gặp chị Hoàng Thị Kim Cúc lần đầu tại đồi thông chùa Từ Hiếu (Huế) trong hội trại mang tên Hoài Nhân do Gia đình Phật tử Việt Nam tổ chức năm 1974. Sau đó, tôi đôi lần ghé thăm chị Cúc ở nhà riêng tại Vỹ Dạ (Huế) mà lần cuối cùng là lúc chị nằm thoi thóp trên giường bệnh sau vụ tai nạn giao thông xảy ra tại TP.HCM ngày 11-8-1988 rồi được chuyển về Huế ngày 23-9-1988. Ngày 3-2-1989, tức 27 tháng chạp Mậu Thìn, Hoàng Thị Kim Cúc – pháp danh Tâm Chánh – lìa trần, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ di quan diễn ra ngày 15-2-1989, nhằm mùng 10 tháng giêng Kỷ Tỵ. Lúc ấy, tôi ở xa Huế nên không dự được. Vậy xin dẫn đoạn tường thuật đám tang Hoàng Thị Kim Cúc do Mai Văn Hoan viết: “Có lẽ đó là một trong những đám tang lớn nhất ở Huế gần đây mà tôi được biết. Đoàn xe tang nối dài từ Đập Đá đến trường Quốc Học. Quanh xe tang đính nhiều câu đối ca ngợi phẩm hạnh của bà. Tôi còn phát hiện có những bài thơ của các nhà sư hoạ lại bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ(10).

Đám tang Hoàng Thị Kim Cúc qua Đập Đá, Huế. Ảnh: Hồ Tấn Nghiêm

            Ngoài ông anh cả là Hoàng Toại định cư ở nước ngoài, Hoàng Thị Kim Cúc còn có mấy anh ruột tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève 1954: Hoàng Tiêu Diêu tức Hoàng Xuân Tùy (nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp), Hoàng Hoan Nghinh (nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ta tại Philippines). Người em ruột Hoàng Tế Ngộ ở lại Huế, trước khi quy tiên từng “thủ từ” trong ngôi nhà mà chị Cúc từng sinh sống.

            Anh em chú bác của Hoàng Thị Kim Cúc có Hoàng Tùng Ngâm vốn là bạn thân cùng nguyên quán Thừa Thiên, cùng tuổi Nhâm Tý 1912 và cùng làm chung Sở Đạc điền Quy Nhơn với Hàn. Năm 1954, Hoàng Tùng Ngâm tập kết ra Bắc, đổi tên là Hoàng Thanh Trai (5). Trước đó, năm 1939, chính nhờ “xúc tác” của Hoàng Tùng Ngâm, Hàn đã hứng khởi sáng tạo một số áng thơ tặng Hoàng Thị Kim Cúc – trong đó có Ở đây thôn Vỹ Dạ, tác phẩm gây nhiều tranh luận bấy lâu nay.

Tranh chân dung Hoàng Thị Kim Cúc (đen trắng) nơi bàn thờ trong nhà riêng tại Vỹ Dạ, Huế. Ảnh: Phanxipăng

                    __________

(1) Hiện là đường Lê Lợi.

(2) Vở tuồng cải lương Chuyện tình Hàn Mạc Tử do Viễn Châu và Thể Hà Vân hợp soạn năm 1957.

(3) 21 tuổi ta, 20 tuổi tây, tức là vào năm 1933.

(4) Bên đó: Hoa Kỳ

(5) Quý bạn đọc sẽ biết kỹ hơn về nhân vật này ở chương Những bạn thân đồng tuế đồng hương của Hàn đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 891 (5-7-2010) rồi đưa vào sách này.

(6) Cư sĩ: người tu trì Phật giáo tại gia.

(7) Trích bài viết Nhớ cô Hoàng Kim Cúc của Võ Thị Tiểu Kiều in trong tuyển tập Đồng Khánh mái trường xưa năm 1992.

(8) Do Nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn ấn hành lần đầu năm 1970, sau được nhiều NXB tái bản.

(9) Gia đình Phật tử có tiền thân là đoàn Thanh niên Đức dục và Gia đình Phật hoá phổ được thành lập tại Huế vào thập niên 1930.

(10) Trích bài “Tiếng thở dài”- chia sẻ với Hàn Mạc Tử đăng tạp chí Sông Hương số 2 năm 1990, sau in vào sách Cảm nhận thơ Hàn Mạc Tử (NXB Thuận Hoá, Huế, 1999).

(Còn nữa)

Mời quý bà con thưởng thức bài thơ Ở đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mạc Tử, qua các giọng ngâm

 

Read Full Post »

NƠI SONG THÂN CỦA HÀN AN NGHỈ CÓ GÌ LẠ?

 

Tiếp xúc Phạm Hành – chú “tiểu đồng” thuở xưa của Hàn Mạc Tử – ở Mỹ Chánh (Quảng Trị), tôi thu thập được một số thông tin cần thiết. Biết tôi hiện cư trú tại “Hòn ngọc Viễn Đông”, nhưng là người gốc Huế, lại có nhà vườn nơi Phường Đúc, hữu ngạn dòng Hương, nên ông Hành tiết lộ:

– Nì, Phường Đúc có mộ bác Toán, thân sinh của anh Trí đó.

Ngạc nhiên thay! Suốt thời hoa niên sống cùng gia đình tại Phường Đúc, tôi biết rõ địa bàn này lắm. Đây là khu vực có nhiều di tích lịch sử – văn hóa: chùa Báo Quốc, miếu Lịch Đại Đế Vương, ga xe lửa Huế, bến Trường Súng, cồn và cầu Dã Viên, lăng Tuy Lý Vương, đàn Sơn Xuyên, thành Lồi, v.v. Hoàn toàn chưa nghe ai nhắc tới mộ ông Phạm Toán tức Nguyễn Văn Toản, phụ thân của nhà thơ danh tiếng Hàn Mạc Tử.

Phạm Hành hỏi:

– Nhà vườn của anh ở Huế xa hay gần nhà thờ Trường An?

Nhà thờ Trường An chính là giáo đường Phường Đúc. Tôi đáp:

– Dạ thưa, cách khoảng mấy trăm… bước ạ.

Phạm Hành cười:

– Mộ bác Toán cũng gần đó, tại ấp Sơn Điền, cạnh nhà ông Pháp và ông Việt.

Cung thánh nhà thờ Trường An tức giáo đường Phường Đúc, TP. Huế. Ảnh: Phanxipăng

Ấp Sơn Điền, nơi nổi tiếng với nghề đúc đồng truyền thống gốc Phước Tích (Quảng Nam), lúc đó thuộc thôn Dương Xuân Thượng 4, xã Thủy Xuân, nay là phường Thủy Xuân, thành phố Huế. Vùng đất này tiếp giáp chứ không nằm trong địa bàn hành chính của Phường Đúc, địa phương cũng lừng danh với nghề đúc đồng gốc Đồng Xá (Bắc Ninh).

Thôn Dương Xuân Thượng 4 có nhà hai anh em ruột kề nhau trong xóm Khe Tre: ông Trần Quốc Pháp và Trần Quốc Việt. Xóm đó có ngôi đình Dương Xuân Thượng, cũng là nơi ngổn ngang gò đống kéo lên (1). Vậy biết đâu là mộ phụ thân của Hàn Mạc Tử, trong khi hầu hết dân chúng quanh vùng chẳng ai hay, ngay cả hội đồng giáo xứ lẫn linh mục quản xứ Phường Đúc cũng không am tường?

Ông Việt có con trai Trần Quốc Nhân, đồng trang lứa với tôi. Mùa hè năm 1995, lâu ngày mới gặp lại nhau, Nhân biết chuyện liền vui mừng dẫn lối:

– Chà… Khuất sau vườn nhà tớ a tề. Mộ ông Toan, ông Toàn, ông Toạn chi đó, phải không?

Đúng đối tượng rồi! Nằm nép trong cỏ cây um tùm hoang dại, nấm mộ xi măng được xây đơn giản kiểu hình hộp chữ nhật, trải thời gian dài thiếu tay người chăm sóc nên loang lổ rêu phong, đôi chỗ còn bị nứt nẻ. Mặt trên mộ có Thánh giá đắp nổi cùng mấy dòng chữ Pháp được khắc trổ, tuy nhiều mẫu tự bị tày mờ song vẫn đọc được:

Ici repose Vincent de Paul Nguyễn Văn Toản, commis des douanes et régies, mort le 2 juillet 1926.

Nghĩa:

Đây là nơi an nghỉ của Vinh Sơn Phaolô Nguyễn Văn Toản, tham sự thương chính, tạ thế ngày 2-7-1926.

Phanxipăng viếng mộ ông Nguyễn Văn Toản – thân phụ của Hàn – ở Thuỷ Xuân, TP. Huế, năm 1995. Ảnh: Hồ Minh Phước

Trần Quốc Nhân tường thuật:

– Cách đây cỡ 5-7 năm, một ông già từ Sài Gòn ra ghé nhà tớ, nhờ thuê người chạp mộ ni. Ông í to cao bệ vệ, đẹp lão, nói giọng Huế, xưng là em ruột thi sĩ Hàn Mạc Tử. Nhờ rứa, tớ mới biết. Từ nớ tới chừ, chả thấy ai thăm nom mộ nữa.

Đoạn Nhân thở dài:

– Nghĩ cũng lạ! Mộ Hàn Mạc Tử ở Ghềnh Ráng thì khách thập phương đến viếng không ngớt, còn mộ người cha của nhà thơ tài năng nằm đây thì cứ như vô chủ!

Nghe Nhân nói, tôi xác định “ông già Sài Gòn nói giọng Huế” chính là Nguyễn Bá Tín. Ngắm nhìn cảnh sắc khu mồ mả quá tiêu sơ, tôi bùi ngùi liên tưởng câu Kiều:

                   Trải bao thỏ lặn ác tà,

            Ấy mồ vô chủ, ai mà viếng thăm!

Kể ra, tử phần “ngỡ như vô chủ” này từ năm 1996 lại được nhà giáo kiêm nhà thơ Mai Văn Hoan tìm đến thắp nhang. Anh Hoan đã thông tin điều đó trên báo Thừa Thiên – Huế thứ năm 28-3-1996 rồi báo Giáo Dục Và Thời Đại chủ nhật 6-10-1996. Đồng thời, anh Hoan vận động học sinh các lớp chuyên Văn trường THPT Quốc Học thỉnh thoảng đến phát quang quanh mộ thân sinh của Hàn.

Thượng tuần tháng 9-1996, nhân dịp trở lại Huế dự lễ hội kỷ niệm 100 năm thành lập trường Quốc Học, tôi lần nữa viếng mộ cụ Toản cùng Mai Văn Hoan. Anh Hoan tắc lưỡi:

– May mà mộ xây bằng vôi. Chứ sè sè nắm đất bên đàng (1), chắc bị san thành bình địa lâu rồi!

Thực tế, mộ bằng xi măng. Do ai xây? Ông Nguyễn Bá Tín nói với tôi:

– Cuối năm 1925, cha tôi làm tham sự thương chánh ở Sa Kỳ (Quảng Ngãi) thì ngã bệnh, phải đưa ra bệnh viện Huế. Tôi lúc đó mới 10 tuổi, theo mẹ ra Huế để chăm sóc cha. Cha tôi được bác sĩ khám và kết luận: cancer au foie (4). Vậy là vô phương cứu chữa! Mẹ tôi thuê một chiếc đò đậu trên sông Hương, trước Đại chủng viện Phú Xuân, cho cha nằm tĩnh dưỡng. Cha tôi mất trong chiếc đò đó năm 1926. Huyệt mộ chôn cha là đất của cậu Ký Bích, em ruột mẹ tôi, ở ấp Sơn Điền, gần nhà thờ Phường Đúc. Mai táng xong, xây mộ ngay. Tôi chừng nấy tuổi đầu đã phải đứng trông coi thợ xây, và chính tay tôi khắc chữ lên mộ.

Trên cơ sở tư liệu hiện thời, có thể thấy Hoàng Diệp dẫu cẩn thận song vẫn bị sai sót khi viết trong chuyên luận Hàn Mạc Tử (sđd, trang 75) thế này: “Thân phụ của Hàn Mạc tử, ông Nguyễn Văn Toản giữ chức tham tá tại Sở Thương chánh Đồng Hới, nhưng khi bị bệnh thì đưa về chữa và mất tại nhà thương Huế. Năm ấy ông 45 tuổi.”

Hoàng Diệp viết tiếp: “Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Duy, con gái cụ Nguyễn Long, một ngự y dưới triều vua Tự Đức. Bà mất tại Gò Bồi thuộc tỉnh Bình Định năm 1951, thọ 71 tuổi”.

Mộ thân mẫu của Hàn nằm tại Gò Lé thuộc miệt Gò Bồi, xóm Thành Bắc, thôn Hữu Thành, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Nhân chuyến cứu trợ nạn nhân lũ lụt cuối năm 1999, tôi đã ghé Gò Bồi và tranh thủ thăm mộ này. Trước mộ có tấm bia được khắc:

Maria Nguyễn Thị Duy, sinh ngày 20-3-1881, chết ngày 20-3-1951.

Bia mộ bà Nguyễn Thị Duy – thân mẫu của Hàn Mạc Tử – ở Gò Lé, Gò Bồi, Tuy Phước, Bình Định, năm 1994. Ảnh: Trần Hoa Khá

Điều trùng hợp lạ lùng đã xảy ra với mẹ ruột của Hàn: tính theo dương lịch, ngày tháng chào đời y hệt ngày tháng lìa trần. Bạn đọc còn thấy lạ lùng hơn nếu biết rằng bà Duy mất, được tẩm liệm và mai táng trong cùng một ngày. Vì sao đến nỗi? Gặp hoàn cảnh éo le, bi đát quá chăng?

Quả thật, những năm tháng cuối đời của Nguyễn Thị Duy – ái nữ một quan ngự y – lại cực kỳ ảm đạm!

Con trai trưởng của bà Duy là Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân chẳng may bị tử nạn ô tô trên đèo Cả (Phú Yên) năm 1936. Hàn Mạc Tử tức Nguyễn Trọng Trí mệnh vong trong Bệnh viện Quy Hòa năm 1940. Con gái là Nguyễn Thị Như Nghĩa / Ngãi lận đận khôn xiết: lấy Tôma Phạm Văn Giong – một người dân tộc thiểu số gốc Lạng Sơn – vào năm 1933, sinh được hai gái tên Phạm Thị Kim Hương (năm 1934) và Phạm Thị Kim Đính (năm 1936), đến năm 1938 thì chồng bỏ đi biệt khiến Như Nghĩa dạt về Gò Bồi tảo tần nuôi con. Chỉ có Nguyễn Thị Như Lễ lấy chồng “hoàng phái” là Bửu Dõng – y tá ở Bệnh viện Quy Nhơn – thì tương đối khấm khá. Vậy cậu con trai Nguyễn Bá Tín bấy giờ ở đâu?

Tôi đặt câu hỏi ấy và nghe ông Tín trả lời thẳng thắn:

– Chắc anh biết giai đoạn 1945 – 1954, toàn Đông Dương biến thành bãi chiến trường. Mẹ tôi từ Quy Nhơn về Gò Bồi rồi mất ở đó. Lúc ấy, có chị Ngãi, chứ không có mặt tôi. Thật đau xót! Lý do: bấy giờ, tôi bị tù!

Sông Gò Bồi ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ảnh: Phanxipăng

Gò Bồi thuộc huyện Tuy Phước, địa bàn thấp trũng nhất tỉnh Bình Định, nên bà con gọi đùa xứ này là “quê hương 9 áo 1 quần”. Đây cũng chính là sinh quán một nhà thơ tài năng vang danh cùng thời Hàn: thi sĩ Xuân Diệu (1917 – 1985). Có lẽ nên thêm rằng theo một số nhà nghiên cứu văn học, Hàn Mạc Tử với Xuân Diệu và Nguyễn Bính (1918 – 1966) tạo nên ba đỉnh “tam giác vàng” cho phong trào Thơ Mới của Việt Nam.

Đến đất này, trò chuyện với quý bậc cao niên, tôi biết thêm rằng bà Nguyễn Thị Duy giai đoạn mãn đời chấp nhận mưu sinh bằng nghề “đổi nước” ở chợ Gò Bồi. (Dân Bình Định tránh dùng cụm từ “bán nước” nên có phương ngữ như vậy). Còn ngủ nghỉ, bà đành chịu ở đậu nhà thông gia là cha mẹ vợ của Nguyễn Bá Tín. Trong hoàn cảnh quá ư đặc biệt, chuyện sáng mất, chiều chôn, là điều dễ hiểu. Căn nhà nọ thuở xưa của ông Câu Bảy, ngày nay do Huỳnh Thị Mỹ – em của Huỳnh Thị Phụng là vợ Nguyễn Bá Tín – trú ngụ.

Bà Huỳnh Thị Mỹ (tóc bạc) cùng láng giềng tại nhà riêng ở Gò Bồi. Ảnh: Trần Hoa Khá

Đầu năm 2000, ông Nguyễn Bá Tín điện thoại báo tin cho tôi biết:

– Tôi quyết định cải táng mộ song thân, đưa vô Nha Trang, vì mấy lý do. Thứ nhất là để ông bà được nằm kề bên nhau. Thứ hai, tại Nha Trang, tôi có con gái Nguyễn Thị Mỹ Lộc ở đó, thuận lợi cho việc chăm sóc âm phần người quá cố.

Nhà thờ Núi tức giáo đường Chánh tòa Nha Trang. Ảnh: Phanxipăng

Kế hoạch của ông Tín được triển khai đầu tháng 7-2000. Hiện di cốt song thân của Hàn Mạc Tử đã được chuyển vào giáo đường Chánh Tòa, còn gọi nhà thờ Núi, tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Không chỉ “được nằm kề bên nhau”, ông Toản với bà Duy còn được gần gũi các con Nhân, Nghĩa, Thảo, Hiền.

Điều đáng tiếc là tại nhà thờ Núi, bia mộ cụ Nguyễn Văn Toản được con cháu phụng lập lại tồn tại ít nhất 2 điểm sai: thánh danh Vicent de Panl và ngày mất 2-7-1927. Đúng ra, tên thánh là Vincent de Paul / Vinh Sơn Phaolô, nhật điểm ly trần là 2-7-1926.

Bia mộ vợ chồng Nguyễn Thị Duy & Nguyễn Văn Toản tại nhà thờ Núi ở Nha Trang

________________

(1)   Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du.

(2)   1988?

(3)   Tính đến năm 1989, sau thời gian chấp bút những một năm ư?

(4)   Ung thư gan.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Bí mật Hàn Mạc Tử (VII)

ĐI TÌM CHÚ TIỂU ĐỒNG THUỞ NỌ

 

N

ăm 1987, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Nghĩa Bình (nay là Quảng Ngãi và Bình Định) thực hiện tuyển tập Thơ Hàn Mạc Tử. Đề tựa ấn phẩm ấy, qua bài Hàn Mạc Tử, anh là ai?, nhà thơ Chế Lan Viên mấy lần nhắc đến nhân vật tên Hành. Một ở đoạn mở đầu: “…em Hành đem cơm cho anh (1) trong suốt bốn năm trời anh phung hủi và trước khi vào Quy Hòa để qua đời trong đó, nghe đâu, Tử đã sụp lạy cảm ơn em.” Rồi ở đoạn kết: “Nhưng lạ chưa, nhớ nhất là tôi nhớ đến chú Hành, cậu bé có tên mà hóa vô danh, nhưng mà bốn năm trời cậu vẫn hằng ngày chăm sóc, đem cơm cho Tử. Gặp Hành lúc nào cũng thấy Hành cười! Quá chú ý đến tri kỷ, tri âm mà quên người ân nhân này đi là điều không phải đâu, hỡi các nhà viết sách sau này về Hàn Mạc Tử.”

Vào “mùa đông Mậu Thìn” (2), tại TP.HCM, lúc khởi thảo cuốn Hàn Mạc Tử anh tôi, Thiện Nam Nguyễn Bá Tín dành hẳn chương VI đề cập về người vừa là ân nhân vừa là người em thúc bá kia. Xin trích ít dòng: “Chú tiểu đồng mà các bạn Hàn Mạc Tử hay nhắc đến tên trong các tập hồi ký về nhà thơ bất hạnh là Phạm Hành. Em Hành sinh năm 1924, con thứ ba chú ruột tôi là Phạm Thân, vào Quy Nhơn ở với chúng tôi để đi học từ năm 1934 (…). Cuối năm 1937, khi tôi đổi lên Đà Lạt làm việc, chú Thân vào thăm anh Trí, lúc bấy giờ đã đau nhiều rồi, trong nhà lại vắng người, không ai chăm sóc anh. Chú bảo em Hành nghỉ học, ở nhà giúp đỡ anh Trí (…). Phạm Hành đó, ngày nay đã 65 tuổi (3), sống khỏe mạnh và vô bệnh tật tại Huế (4), thỉnh thoảng lại vào thăm chúng tôi (5).”

Hỏi địa chỉ Phạm Hành, tôi được Nguyễn Bá Tín cho biết ở một… chốn khác:

– Hành ở giáo xứ Mỹ Chánh thuộc xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Nhân đợt đi công tác miền Trung vào mùa hè năm 1995, lần đầu tiên tôi đã tranh thủ ghé Mỹ Chánh, tìm gặp “chú tiểu đồng” thuở nào của Hàn thi sĩ.

Nhỏ thó. Gầy gò. Mắt sáng. Tóc muối tiêu. Đó là lão nông Phạm Hành. Biết chúng tôi từ xa ghé thăm để tìm thêm tư liệu về Hàn Mạc Tử, ông vui vẻ mời vào ngôi nhà tuềnh toàng phên tre lợp mái tôn dựng giữa nương chè cằn cỗi, đoạn gọi các cháu đun nước pha trà tiếp khách.

Căn nhà của lão nông Phạm Hành tại Hải Lăng, Quảng Trị. Ảnh: Phanxipăng

Phạm Hành cười hiền lành:

– Cách đây lâu lâu, anh Tín trong Sài Gòn viết thư ra hỏi tui chuyện anh Trí để soạn sách. Sách in xong, anh gửi biếu tui một quyển đây nì.

Mở tủ, lấy ấn phẩm Hàn Mạc Tử anh tôi, ông tiếp:

– Tài năng của dòng họ tui dồn hết ở anh Trí. Mà cả dòng họ chỉ cần một người nổi tiếng như anh Trí cũng đủ vinh hạnh rồi.

Tôi gợi lại chuyện xưa và nghe Phạm Hành kể:

– Hồi nhỏ, tui hiếu động lắm tề! Thích trèo cây, câu cá. Thích nhứt là đi xe đạp. Những ngày anh Trí lánh mình chữa bệnh ở xóm Động (6), xóm Tấn (7), Gò Bồi (8), Ghềnh Ráng, thì bác gái (9) phái tui theo săn sóc cho anh. Lúc nớ, nhà rất neo đơn. Chị Ngãi và chị Lễ đã có gia đình đình riêng. Anh Tín làm việc trên Đà Lạt, sau đổi sang Lào. Anh Hiếu thì suốt ngày đánh cờ tướng và có vẻ… sợ lây bệnh hủi! Người ta xì xào: anh Trí cùi hủi. Tui nỏ (10) sợ. Vì có thấy anh lở lói chi mô? Mấy ngón tay anh hơi đơ đơ, chắc do viết nhiều. Trên má anh có nổi cái bớt nhỏ, hồng hồng. Hằng ngày, tui đạp xe bới cơm nước từ nhà tới cho anh, rồi anh lệnh mần chi thì mần nấy: mua bút giấy, mua sách báo, đem thư đi bỏ bưu điện. Mần chi cũng xong, miễn là được đi xe đạp. Tui còn giặt giũ cho anh và giúp anh tắm nữa. Anh Trí nhác tắm ghê! Mỗi lần cởi áo quần ra, tui thấy da anh hiện mấy vết bầm đỏ. Trong nhà nói anh bị bệnh “đơn”. Tới khi anh Bửu Dõng, chồng chị Ngãi, đưa anh vô nhà thương Quy Nhơn rồi chuyển lên trại Quy Hòa, tui cũng đi theo. Tui còn nhớ rõ hôm anh Trí đi Quy Hòa, chỉ có hai người lên xe hồng thập tự cùng với anh: bác gái và tui. Hôm nớ, bác gái mặc cái áo dài màu đà (11), tui thì ôm bọc vải trắng đựng áo quần và sách vở của anh Trí. Tới hồi quay lại nhà, bác không nói không rằng nhưng nước mắt ràn rụa!

Tôi hỏi:

– Trước khi phát hiện bản thân bị mắc bệnh hiểm nghèo và đi lánh, Hàn Mạc Tử sống trong nhà số 20 Khải Định (nay là 67 Lê Lợi, Quy Nhơn), liệu “chú tiểu đồng” còn nhớ gì không?

Phạm Hành lại móm mém cười:

– Nhớ chơ. Anh Trí cả ngày tiếp bạn, ngâm thơ, bàn chuyện làm báo. Anh nhiều bạn lắm, nhưng năng tới chơi thì có anh người Huế, tên Anh (12). Bạn gái của anh Trí, tui chỉ thấy một o người Bắc (13) tới thăm mấy lần, kể cả khi anh đi lánh bệnh. Sau khi anh mất, tui đọc sách báo, thiệt không ngờ anh Trí có số… đào hoa!

Phanxipăng thăm Phạm Hành tại Mỹ Chánh, Hải Lăng, Quảng Trị, hè 1995. Ảnh: Nhất Lâm

Ông Hành lại hồi tưởng về giai đoạn Hàn Mạc Tử lánh bệnh đó đây – giai đoạn anh đứng cách xa hàng thế giới (14) mà đau khổ vì phải tách rời xã hội và sống mòn trong một vũng cô liêu cũ vạn đời (15):

– Buồn, anh làm thơ và ngâm thơ, viết thư rồi trông thư, nhiều đêm thức trắng. Lúc nớ, cái chi cũng thiếu, nên anh quý giấy và tem lắm. Có lần bị mất một con tem, anh quay quắt suốt mấy ngày, lơ cả cơm! Nhưng nhiều lúc anh vui “dễ sợ”. Anh hát hò, đùa giỡn, kể chuyện hoang. Tui hợp anh cái tính… nghịch ngợm! Anh cũng rất thương tui, thường dạy tui học chữ, làm toán, đôi lúc giảng về thơ cho tui nghe nữa. Còn chuyện trước khi vô Quy Hòa, anh sụp lạy cảm ơn tui là không có mô! Anh em với nhau, ai mà làm rứa?

Những ngày Hàn vào bệnh viện như thế nào? Hãy nghe Phạm Hành tường thuật:

– Mới đầu vô nhà thương Quy Nhơn (16), anh Trí nằm trong khu cách ly. Anh Bửu Dõng làm y tá tại đó, xin cho tui ở lại để chăm nom anh Trí. Khoảng mươi bữa sau (17), có xe hồng thập tự chuyển anh lên trại phung Quy Hòa. Lên đây, đầu tiên các sœur phụ trách bố trí anh nằm phòng tập thể, sau thì sắp xếp cho anh tĩnh dưỡng phòng riêng (18). Hằng tuần, tôi đạp xe từ Quy Nhơn lên Quy Hòa để bới thức ăn bồi dưỡng cho anh, có thư từ hay sách báo chi thì đem luôn. Có lần đạp xe thả dốc, xe đứt phanh (19), cả tui với xe bay tòm xuống suối. Đồ ăn văng hết trơn! May mà xe chưa gãy! Tới hồi gặp anh, tui khai thiệt, anh lo lắng hỏi tui có bị thương không, biết nỏ hề hấn chi thì anh cười, chả màng tới chuyện ăn uống. Trong Quy Hòa, nhiều bệnh nhân cùi lở lói, chơ mô phải lành lặn như anh. Tui thấy ghê ghê, nhổ nước miếng thì anh cấm. Anh nói đừng làm rứa, vừa mất vệ sinh, vừa thiếu tôn trọng người bất hạnh. Ngày nọ, như thường lệ, bới đồ ăn vô Quy Hòa cho anh Trí, tui sững sờ khi nghe nói anh Trí chết rồi! Lạy Chúa! Ba chân bốn cẳng, tui quýnh quáng đạp xe về nhà báo tin. Mai lại, bác gái cùng chị Lễ vô Quy Hòa, lúc nớ người ta đã tẩm liệm và chôn cất anh Trí. Cũng năm đó, năm 1941, sau gần 8 năm vào Quy Nhơn, tui trở lại quê nhà là giáo xứ Thanh Tân ở Phong Điền, Thừa Thiên – Huế. Năm năm sau, năm 1946, tui cưới vợ và dời ra Mỹ Chánh đây sinh sống.

Khách sạn Sài Gòn – Quy Nhơn, thuở trước là nhà thương Quy Nhơn – nơi Hàn Mạc Tử từng nằm trong khu cách ly. Ảnh: Phanxipăng

Tôi thắc mắc:

– Thấy ông Tín viết rằng thỉnh thoảng Phạm Hành có vào Sài Gòn thăm, đúng không ạ?

Ông Hành lắc đầu:

– Từ năm 1941 tới chừ, tui chưa hề gặp mặt anh Tín. Tiền mô mà vô Sài Gòn? Ngay cả Quy Nhơn, tui rất muốn quay lại dù chỉ một lần để viếng mộ anh Trí mà cũng không có điều kiện!

Bà Phong, vợ ông Hành, nói thêm:

– Mấy năm trước, ông nhà tui đổ bệnh lao phổi! May có sự giúp đỡ của cha xứ Hoàng Kính và bà con chòm xóm, gia đình mới đưa ông vô Bệnh viện Trung ương Huế nằm chữa chạy một thời gian.

Trước và sau chuyến tôi thăm hỏi ông Phạm Hành, được biết cũng có một số người đi tìm “chú tiểu đồng” thuở nào của Hàn Mạc Tử. Ngày 14-3-1996, nhà giáo kiêm nhà thơ Mai Văn Hoan (20) ra Mỹ Chánh gặp ông Phạm Hành rồi sau đó viết những dòng ghi nhận đăng trên tạp chí Cửa Việt số 45 (Quảng Trị, tháng 6-1998): “Phải đặt trong hoàn cảnh vào cái thời mà mọi người ai cũng sợ, không dám đứng gần người phung hủi mới thấy hết tấm lòng yêu thương của chú Hành đối với người anh con bác ruột đang cần được chăm sóc, an ủi. Con người vô danh ấy đã sống một cuộc đời bình lặng, âm thầm chịu đựng mọi bất hạnh, khó khăn, vất vả, thiếu thốn. Và hơn 60 năm trôi qua, con người ấy vẫn giữ nụ cười đôn hậu.”

Đêm Noёl năm 2000, tôi liên lạc bằng điện thoại từ Sài Gòn ra Quảng Trị để trao đổi với linh mục Phêrô Hoàng Kính – quản xứ Mỹ Chánh. Linh mục Kính cho hay:

– Thời gian qua, nhờ dăm bài báo viết về ông Phạm Hành nên lác đác có người đến thăm và có nghĩa cử giúp đỡ. Tuy nhiên, mọi sự chỉ mang tính chất… tượng trưng. Hoàn cảnh ông Phạm Hành, như anh biết đó, vẫn chưa thoát khỏi cơ cực, túng quẫn. Tội nghiệp! Biết làm cách chi cứu giúp gia đình “chú tiểu đồng” của Hàn Mạc Tử một cách thật hiệu quả bây chừ?

Ngày 8-3-2001 nhằm 14 tháng 2 Tân Tị, ông Phạm Hành qua đời tại nhà riêng, hưởng thọ 77 tuổi.

________________

(1)   Hàn Mạc Tử.

(2)   1988?

(3)   Tính đến năm 1989, sau thời gian chấp bút những một năm ư?

(4)   Các chi tiết này chẳng đúng.

(5)   Thực tế thì không có.

(6)   Xóm Động một thời trở thành sân bay quân sự, nay đã xây phố xá.

(7)   Xóm Tấn là hải cảng Quy Nhơn bây giờ.

(8)   Gò Bồi thuộc thôn Kim Xuyên, xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Tôi sẽ đưa quý bạn đọc đến nơi này qua chương sau.

(9)   Nguyễn Thị Duy, mẹ của Hàn.

(10)     Nỏ, phương ngữ miền Trung, nghĩa là không.

(11)     Màu đà: màu nâu.

(12)     Nguyễn Anh tức nhà thơ Hoàng Diệp.

(13)     Lê Thị Mai tức Mai Đình, người gốc Thanh Hóa.

(14)     Trích bài thơ Lưu luyến của Hàn Mạc Tử.

(15)     Trích bài thơ Cô liêu của Hàn Mạc Tử.

(16)     Địa điểm ấy một thời trở thành Sở Y tế Bình Định; nay là khách sạn Sài Gòn – Quy Nhơn; địa chỉ 54 Nguyễn Huệ, Quy Nhơn.

(17)     Chính xác là 12 ngày, từ 8 đến 20-9-1940.

(18)     Phòng riêng dành cho 2 người.

(19)     Phanh, do phiên âm từ tiếng Pháp fin, nghĩa là thắng.

(20)     Mai Văn Hoan chào đời năm Kỷ Sửu 1949 tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Vinh, Mai Văn Hoan đã dạy các trường cấp 3 Minh Hóa (1971 – 1973), Sư phạm 10+3 Quảng Bình (1973 – 1979), Hai Bà Trưng (1979 – 1985), Quốc Học (1985 – 2009). Mai Văn Hoan từng xuất bản các tập thơ Ảo ảnh (1988), Giai điệu thời gian (1989), Hồi âm (1991), Trăng mùa đông (1997), Giếng Tiên (2003), Lục bát thơ (2006), Điếu thuốc và que diêm (2009), cùng các tập lý luận phê bình văn học Cảm nhận thi ca (tập 1, 1991), Cảm nhận thơ Hàn Mạc Tử (1999), Cảm nhận thi ca (tập 2, 2008), Đôi nét chân dung các nhà văn Việt Nam ở Huế (2009).

(Còn nữa)

Read Full Post »

NHÀ BÁO HÀN MẠC TỬ 

Bối cảnh thời cuộc

Lịch sử báo chí Việt Nam được cắm mốc khởi phát vào năm 1861, khi tờ Le Bulletin officiel de l’Expédition de la Cochichine  (1) ấn hành tại Sài Gòn bằng tiếng Pháp. Báo quốc ngữ thì bắt đầu từ năm 1865 với sự ra đời tờ Gia Định báo. Dưới chính sách cai trị của Toàn quyền Albert Sarraut, báo chí Việt Nam bấy giờ dẫu cố gắng vẫn không thoát khỏi khuôn khổ kiểm duyệt gắt gao của chế độ thực dân xâm lược. Phải đợi đến giữa thập niên 1930, nhờ những chuyển biến tích cực của tình hình chính trị – xã hội ở trong lẫn ngoài nước, báo chí Việt Nam mới bước sang giai đoạn trưởng thành về lượng lẫn chất.

Ngày 30-5-1935, Mặt trận Bình dân Pháp thành lập và năm sau giành thắng lợi lớn qua hai vòng tổng tuyển cử Quốc hội Pháp (26-4 và 3-5-1936) rồi nắm quyền lãnh đạo Chính phủ Pháp với Thủ tướng Léon Blum từ ngày 4-6-1936. Cũng năm 1936, Mặt trận Bình dân Tây Ban Nha đạt kết quả khả quan qua đợt bầu cử Quốc hội nước ấy. Lúc bấy giờ, tại Đông Dương, các phong trào ái quốc không ngừng tăng trưởng. Việt Nam thuở đó tuy là thuộc địa của Pháp, song không khí tự do ngôn luận tới thời gian này được nới rộng, nên nhiều tờ báo và tạp chí liên tiếp ra mắt hoặc tục bản ở nhiều tỉnh thành mà Sài Gòn luôn giữ vai trò trung tâm báo chí sôi động hàng đầu.

Sự hoàn chỉnh các tuyến giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường hàng hải lẫn đường hàng không), sự nâng cấp hệ thống viễn thông (điện tín và điện thoại) trong nước cũng như quốc tế, cùng với việc nhập khẩu công nghệ ấn loát tiên tiến từ phương Tây càng tạo điều kiện thúc đẩy báo giới Việt Nam phát triển nhanh về nhiều phương diện. Theo hồ sơ lưu trữ của Pháp, đầu năm 1936 cả nước Việt Nam có 277 tờ báo, tạp chí, tập san đủ loại; cuối năm 1936 còn thêm 47 tờ; như vậy số đầu báo tăng 3,7% so với năm 1935.

Tượng chân dung Hàn Mạc Tử do Vỹ Nhuế Lê Đằng Giao thực hiện bằng xi măng năm 1973 tại Sài Gòn được linh mục Giuse Đinh Hoàn Năng – chánh xứ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở quận Bình Thạnh – trao tặng Phanxipăng sáng 25-3-2010, dịp giỗ Quốc Tổ Hùng Vương

Tôi thử tra cứu Thư tịch báo chí Việt Nam (NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1998) để điểm danh loạt báo chí xuất hiện ở nước ta năm 1935 và 1936. Năm 1935 có hàng loạt báo chí ra mắt hoặc tục bản: nhật báo Điện Tín (số 1 phát hành ngày 15-1), tạp chí Partout (23-1), bán tuần báo Tràng An (1-3), tuần báo Nghe Thấy (25-4), tuần san Đàn Văn (16-5), nhật báo Dân Quyền (20-6), báo Mai (5-8), tuần báo Công Dân (25-9), tuần báo Tân Thời (17-11), nhật báo Đuốc Nhà Nam bộ mới (2-12), tuần san Kiến Văn (29-12). Còn đây là loạt tờ trình làng năm 1936: Hà Nội báo (số 1 phát hành ngày 1 tháng 1), tuần báo Ích Hữu (25-2), tuần báo Ý Dân (27-3), tuần báo Nữ Lưu (22-5), tuần báo Hồn Trẻ tập mới (6-6), tuần báo Thế Giới Tân Văn (9-7), tuần báo Sông Hương (1-8), nhật báo Việt báo (18-8), bán nguyệt san Tương Lai (2-9), tuần báo Le Travail (2) (16-9), tuần báo Vì Chúa (23-9), tuần báo Tân Xã Hội (23-9), tuần báo Phổ Thông (16-10), bán nguyệt san Phổ Thông (1-12), v.v.

Có thể nói hai năm 1935 – 1936, báo chí Việt Nam như “trăm hoa đua nở” lắm sắc hương, lắm khuynh hướng. Báo chí ra nhiều, đương nhiên cần đông người viết. Mà Sài Gòn đóng vai trò trung tâm truyền thông đại chúng hàng đầu. Ấy là thời gian Hàn Mạc Tử chính thức gia nhập báo giới tại “Hòn ngọc Viễn Đông”.

Hàn: nhà báo giàu năng lực

Trước khi rời Quy Nhơn vô Sài Gòn làm báo, Hàn từng gửi thơ đăng trên một số tờ như Thực Nghiệp Dân Báo, Công Luận, Lời Thăm Các Thầy Giảng. Bước hẳn vào làng báo, chấm morasse (3) rồi phụ trách trang văn chương cho tờ Sài Gòn do ông bà Nguyễn Đức Nhuận chủ biên, Hàn tác nghiệp thế nào? Bên cạnh việc sáng tác thơ, Hàn còn liên tục thực hiện nhiều bài với nhiều thể loại: lý luận, phê bình, giới thiệu, phỏng vấn, ghi chép, dịch thuật, tổng hợp tư liệu.

Bấy giờ, dư luận xôn xao quanh cuộc bút chiến giữa hai quan niệm nghệ thuật. Cuộc bút chiến thực sự mở màn khi tờ Đời Mới ra ngày 24-3-1935 đăng bài Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh của Hải Triều nhằm phản ứng với bài Hai cái quan niệm nghệ thuật của Thiếu Sơn đã đăng trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 38. Với tư cách một thi sĩ lãng mạn, Hàn thiên về nghệ thuật vị nghệ thuật. Nhưng với tư cách một ký giả, Hàn cố giữ thái độ khách quan trong việc trình bày các luận điểm của hai quan niệm đối lập qua bài Nghệ thuật là gì? đăng trên báo Sài Gòn ra ngày 26-10-1935.

Một đoạn rue d’Espagne ở Sài Gòn qua bưu ảnh Pháp

Cũng trên số báo nọ, với bút danh Lệ Thanh, Hàn còn tung bài Phỏng vấn tác giả “Kép Tư Bền”. Đó là sự nhanh nhạy cần thiết trong nghiệp vụ báo chí. Bởi lúc ấy, nhà văn Nguyễn Công Hoan vừa xuất bản tập truyện Kép Tư Bền (nhà in Tân Dân, Hà Nội, 1935), liền gây những luồng dư luận trái ngược. Theo hồi ký Nhớ và ghi của Nguyễn Công Hoan (NXB Tác Phẩm Mới, Hà Nội, 1978) thì: “Năm 1935, đường sắt đã nối liền Hà Nội đến Quy Nhơn. Năm này mình vào Quy Nhơn. Từ Quy Nhơn vào Nha Trang còn phải đi ô tô.” Có lẽ sau khi thăm Nha Trang rồi quay lại Quy Nhơn, Nguyễn Công Hoan lúc ấy 32 tuổi mới gặp Hàn Mạc Tử 23 tuổi.

Nguyên văn lời rao / chapeau đặt trên bài phỏng vấn được Hàn viết thế này: “Gần đây lại thấy tác giả Kép Tư Bền, Nguyễn Công Hoan ‘lết’ vào trong Nam. Trên mặt báo Đàn Bà Mới, ông Hoàng Văn tiếp đánh vào xương sống Kép Tư Bền bằng những lời đau độc. Trên mặt báo Tân Thời, ông Thúc Nhuận lại đóng vai trò trạng sư, biện hộ cho ông Hoan. Hai bên đều phải bút chiến. Nhưng hai bên đã làm quảng cáo không tiền cho ông Hoan, đã giới thiệu cho độc giả Nam Kỳ một nhà văn sĩ bình dân. Độc giả nhờ mấy ông trên này mới biết được tên tuổi ông Hoan, nhưng chưa được trò chuyện với ông lần nào, vậy tôi xin đưa độc giả đi.”

Thật ra, bài phỏng vấn kia lại là một kiểu dựng chân dung văn nghệ sĩ bằng bút pháp hài hước. Đây là hình ảnh nhà văn Nguyễn Công Hoan qua mắt Hàn: “Khuôn mặt dài mà lớn, lông mày to mà rậm, với cái nước da sô-cô-là.”

Nguyễn Công Hoan được Hàn dựng chân dung trực tiếp. Với nhiều nhân vật ở nước ngoài, Hàn buộc phải dựng chân dung gián tiếp thông qua nguồn tài liệu ngoại văn. Chẳng hạn các bài Uông Tinh Vệ thi sĩ đăng hai kỳ trên báo Sài Gòn ra ngày 18 và 25-11-1935, Chết vì một quyển sách đăng báo Sài Gòn ngày 25-11-1935, Một tên thủy thủ có văn tài lỗi lạc đăng báo Sài Gòn ngày 3-2-1936. Bài đầu viết về “sự nghiệp văn chương của nhà chính trị” Uông Tinh Vệ ở Trung Hoa, dựa theo một tờ báo ấn hành tại Thượng Hải. Bài thứ nhì viết về nhà văn yểu mệnh Pháp Louis Desprez (1861 – 1885). Bài thứ ba đề cập đến nhà văn Anh “lạ lùng kỳ dị” Joseph Conrad (1857 – 1924).

Hàn từng dịch thơ của Uông Tinh Vệ, Fumi Matsuo, Ryuko Kawaji, Sakutaro Haghiwara để đăng báo. Và thông tin sau có thể khiến không ít bạn đọc bất ngờ: Hàn còn dịch cả thơ của tác giả Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản nhằm giới thiệu trong bài báo Karl Marx thi sĩ đăng trên tờ Công Luận ngày 4-5-1935.

Hàn: nhà báo tha thiết yêu nghề

Trên tạp chí Văn số 73-74 (Sài Gòn, 1967), hồi ký Những ngày sống chung với Hàn Mạc Tử ở Sài Gòn của Hoàng Trọng Miên đã kể lại một số ấn tượng về Hàn thuở cùng trọ tại căn gác 162 rue d’Espagne (4) (nay là đường Lê Thánh Tôn) để cùng làm báo: “Từ trên căn gác d’Espagne nhìn xuống đường, thấy một chiếc mũ panama đã ngã màu vàng xỉn, nhấp nhô giữa đàm đông người qua lại, bất chấp xe cộ rộn ràng, vừa đi vừa gật gù, là chúng tôi đã nhận ra Hàn Mạc Tử. Anh hình như không bao giờ để ý gì đến chung quanh trong lúc đi ngoài đường phố, và cũng vì lơ đãng mà mấy lần suýt bị xe hơi cán ở trước chợ Bến Thành. (…) Ngoài chuyện thơ văn ra, Tử không biết gì khác nữa.”

Tại Sài Gòn, tiệm giày Hà Nội trên đường Lê Thánh Tôn, xưa là rue d’Espagne, nơi mà Hàn Mạc Tử ở trọ trên gác vào năm 1935 để làm báo Sài Gòn. Ảnh: Phanxipăng

Với ngoại hình và phong thái nom vừa thư sinh vừa lãng tử, Hàn thuở ấy ngỡ nhởn nhơ vô tư, song kỳ thực lại bận rộn lắm chuyện. Đương nhiên, thơ văn luôn được Hàn quan tâm trước tiên và nhiều nhất, ở hai khía cạnh: sáng tác lẫn dư luận. Bấy giờ, Hàn đang thai nghén tập thơ Gái quê của riêng mình. Đảm trách trang văn chương cho tờ Sài Gòn, Hàn phải thường xuyên bám sát các vấn đề thời sự liên quan. Lần giở chồng báo cũ, hậu thế cũng đủ đoán định được sức đọc, sức nghĩ và sức viết của Hàn thời đó. Có những số báo Sài Gòn, cây bút Hàn “bao sân” trang văn chương bằng cả loạt bút danh như Lệ Thanh, L.T., Sông Lệ, Phong Trần, Mlle Bích Ngọc, Mlle Mộng Cầm (5). Trên tờ Sài Gòn ra ngày 18-11-1935, Hàn đăng kỳ 1 bài Uông Tinh Vệ thi sĩ cùng cả chùm thơ Trên bờ, Kén chồng, Ngán cảnh chùa, Hỏi thăm cô Bích Ngọc, Cô Bích Ngọc trả lời. Tuần sau, Sài Gòn ra ngày 25-11-1935, Hàn đăng kỳ 2 Uông Tinh Vệ thi sĩ và bài Chết vì một quyển sách, lại thêm bài thơ Mong đợi với dòng tiểu dẫn: “Gửi khách sông Lam”. Bài thơ ấy trước đấy không lâu, lấy nhan đề Tương tư, Hàn đã đăng trên tờ Công Luận ngày 30-3-1935. Tác phẩm Tương tư / Mong đợi kia lại được Hàn chuyển titre thành Tình quê khi đưa vào thi tập Gái quê, gồm 22 dòng ngũ ngôn độc vận mà đây là mấy dòng cuối:

Với ngày xanh hờ hững,

Cố quên tình phu thê,

Trong khi nhìn mây nước,

Lòng xuân cũng não nề…

Bài thơ ấy lâu nay càng được phổ biến khá sâu rộng qua các ca khúc phổ nhạc bởi Phạm Duy, Phan Bá Chức, Anh Ngọc Anh.

Nghề báo, cộng thêm bao lý do riêng tư nữa, còn giúp Hàn thường xuyên xê dịch từ Sài Gòn ra Phan Thiết, Quy Nhơn, Đà Nẵng, Huế. Hoàng Trọng Miên (tlđd) kể: “Trong cuộc đời làm báo, Hàn Mạc Tử có để lại cho anh em ký giả thời ấy một kỷ niệm khá buốn cười. Lúc làm lễ khánh thành con đường sắt xuyên Việt, chạy lần đầu tiên từ Nam ra Bắc, nối liền quãng còn trống từ Nha Trang đến Đà Nẵng, nhựt báo Sài Gòn cử Hàn Mạc Tử làm phóng viên theo phái đoàn báo chí tháp tùng với các đại biểu phủ Toàn quyền Đông Dương để viết bài tường thuật”.

Sự cố đã xảy ra vào sáng sớm hôm sau, lúc các cô đầm Tây phương xinh đẹp là chiêu đãi viên nhốn nháo vừa kêu la oai oái, vừa xắn tay chùi rửa “của nợ” mà quan khách nào vung vãi khắp phòng vệ sinh. Còn trong wagon couchette (6), Hàn nằm và nói bằng giọng ngái ngủ:

– Đêm qua mình đau bụng cả đêm. Ăn phải bơ (7), phó mát (8), món lạ khó chịu quá!

Mặc dù Hoàng Trọng Miên không ghi rõ thời điểm, song tôi đã tra cứu sử liệu về quá trình hình thành hệ thống đường sắt Đông Dương và xác định được ngày tháng xuất hiện sự cố khá buồn cười kia: 3-10-1936.

Cuối năm 1936, theo trí nhớ của Hoàng Diệp, Hàn rời Sài Gòn ra Huế cộng tác với Tràng An – tờ báo do Bùi Huy Tín làm chủ nhiệm – sau khi xuất bản thi tập Gái quê. Kế đó, Hàn về lại Quy Nhơn, cùng Nguyễn Minh Vỹ, Hoàng Diệp, Chế Lan Viên, Yến Lan, Nguyễn Viết Lãm thực hiện giai phẩm Nắng Xuân kịp phát hành dịp Tết Đinh Sửu 1937. Trong Nắng Xuân, Hàn đăng bài thơ Mùa xuân chín cùng bài thơ Thi sĩ Chàm. Đặc biệt, giai phẩm còn có “phóng sự vui” Quan nghị… gật được Hàn viết và ký bút danh trào lộng: Trật Sên. Đọc tác phẩm đó, mới thấy thêm tố chất sắc sảo đáo để của nhà báo Hàn Mạc Tử lúc chĩa ngòi bút chế giễu Nguyễn Văn Tôn là nghị viên “Trung Kỳ nhân dân đại biểu viện”.

Sau giai phẩm Nắng Xuân, vì hoàn cảnh bệnh tật, Hàn không thể đích thân tham gia làm báo nữa, song vẫn viết bài cộng tác với các phương tiện truyền thông đại chúng tới gần mãn đời. Tháng 7-1938, tờ Tân Tiến ở Sài Gòn in ý kiến của Lam Giang Tử về luật thơ Mới. Hàn liền viết bài Không nên có luật thơ Mới gửi đăng báo Tiến Bộ ở Sài Gòn ngày 6-8-1938. Bấy giờ, tiểu thuyết Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách xuất hiện đã hơn một thập niên, song vẫn được quần chúng tìm đọc rồi xì xầm khen ít, chê nhiều. Hàn bèn viết bài Thân oan cho “Tố Tâm” đăng báo Tiến Bộ ngày 10-9-1938. Qua đó, Hàn phát biểu chủ kiến: “Nên đặt văn tài trên mọi sự chia rẽ tư tưởng khác. (…) Khi quý trọng hay chê dè một quyển truyện nào, ta nên đặt lòng tự ái và đảng phái ra ngoài”. Trên báo Tiến Bộ ngày 3-6-1939, Hàn đăng bàiMột cuộc cách mạng trong văn giới Việt Nam, can đảm ngợi khen “các văn sĩ cách mạng ở nước ngoài như Maxime Gorki, Romain Rolland, Henri Barbusse, Félicier, André Gide, Chatlenge, Andrée Viollis, v.v., đã tạo được ở ta những Hải Triều, Hải Thanh, Trần Huy Liệu, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Đính, v.v.”.

Bên cạnh nhiều bài thơ do Hàn sáng tác và công bố rải rác trên báo chí, Hàn còn viết bài giới thiệu Chế Lan Viên, một thi sĩ điên đăng tờ Tiến Bộ ngày 20-8-1938, Bích Khê, nhà thơ  thần linh đăng tờ Trong Khuê Phòng ngày 10-6-1939.

Có thể khẳng định rằng đến phút ly trần, Hàn vẫn là nhà báo luôn tha thiết yêu nghề.

_________________

(1)   Nam Kỳ viễn chinh công báo.

(2)   Lao Động.

(3)   Morasse: sửa lỗi ấn công.

(4)   Espagne, tiếng Pháp, là tên nước Tây Ban Nha.

(5)   Mlle là viết tắt danh từ tiếng Pháp mademoiselle, mang nghĩa: cô. Khác Mme là viết tắt danh từ tiếng Pháp madame, mang nghĩa: bà.

(6)   Toa giường nằm.

(7)   Beurre.

(8)   Fromage, có nhiều cách phiên âm: phó mát, phô ma, phô mai, v.v. 

(Còn nữa)

Ca khúc “Tình quê” – thơ của Hàn Mạc Tử, do Phạm Duy phổ nhạc

Mời quý bà con thưởng thức ca khúc Tình quê, thơ của Hàn Mạc Tử, phổ nhạc bởi:

  • Phạm Duy,

do Thái Thanh trình bày http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=3pDCIRpY1P

do Duy Quang trình bày http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=YZ3tUhU8Bo

  • Phan Bá Chức,

do Như Quỳnh trình bày http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=CPJzwGrLKx

do Ánh Tuyết trình bày http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=rBYTmoyryx

Read Full Post »

THẦY KÝ ĐẠC ĐIỀN HÀN MẠC TỬ

Trong hồi ký Hàn Mạc Tử trong riêng tư (cảo bản đánh máy – trang 30), Nguyễn Bá Tín ghi nhận: “Mất cơ hội đi Pháp, mộng viễn du không thành, (…) anh trở về Quy Nhơn sống với gia đình, rồi tiếp tục làm thơ viết báo. Bạn bè ngày càng kết giao nhiều, xa cũng như gần, nhờ tiếng tăm anh được Mộng Du thi xã nhắc đến trang trọng.”

Năm 1932, kinh tế Đông Dương gặp cơn khủng hoảng, cả nhà Hàn chỉ một mình trưởng nam Nguyễn Bá Nhân “chèo chống” nên không tránh khỏi khó khăn. Hàn tính chuyện đi làm để giảm bớt gánh nặng cho gia đình. Lúc ấy, ở Quy Nhơn, người gốc Huế định cư khá đông, trong số đó có thầu khoán Đỗ Phong giới thiệu Hàn một chân tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở Địa chính tỉnh Bình Định. Dân gian bấy giờ quen gọi Sở Địa chính là Sở Đạc điền. Hàn được phân công làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch. Theo ông Nguyễn Bá Tín, đấy là “cái việc dễ nhất, nhàn nhất và… ít tiền nhất là ngồi biên chép các tờ trích lục đã cũ, lãnh lương về chỉ đủ anh trả tiền mua báo, mua giấy và tem thư.” (1) Văn phòng mà Hàn làm việc là gian nhà mà từ năm 1969 đến nay đã trở thành tịnh xá Ngọc Nhuận, địa chỉ 5 đường Ngô Quyền, thành phố Quy Nhơn.

Phòng Địa chính Quy Nhơn, nơi Hàn làm việc một thời, nay là tịnh xá Ngọc Nhuận. Ảnh: Trần Hoa Khá

Thù lao nhận theo chế độ “khoán sản phẩm”, song công việc lúc có lúc không nên đương nhiên thừa thì giờ mà thiếu… tiền bạc. Dẫu sao, cũng là viên chức nhà nước, Hàn vẫn được gọi thầy ký đạc điền.

Thừa thời gian thì Hàn đọc sách, làm thơ và giao du với bạn hữu. Đọc sách, sẵn thư viện trong Hội quán (2) tọa lạc gần nhà chàng. Cơ sở này được linh mục Paul André Maheu, tên Việt là cố Mỹ, sáng lập năm 1922, cùng thời với nhà in và tờ Lời thăm các thầy giảng – bán nguyệt san mà Hàn cộng tác. Linh mục Maheu, thừa sai của giáo phận Quy Nhơn, cũng chính là người đứng ra quyên góp để xây dựng trại phung Quy Hoà (3) vào năm 1929.

“Hãy cho tôi biết anh thường hay đọc những sách gì, tôi sẽ nói anh là ai.” Danh ngôn ấy thật khó vận dụng đối với nhiều trường hợp. Như Hàn Mặc Tử giai đoạn này chẳng hạn. Quách Tấn ghi nhận trong Đôi nét về Hàn Mạc Tử  rằng: “Tử rất siêng đọc sách. Trong quyển sổ ghi tên người mượn sách của thư viện Quy Nhơn, người ta thấy tên Tử chiếm gần nửa phần! Các bạn thân gọi bỡn thằng nghiện sách.” Theo trí nhớ của bằng hữu và gia đình thì Hàn đọc… tùm lum, từ sách thần học, triết học, lịch sử, địa lý đến truyện, thơ. Hàn nghiền ngẫm sách thần học, giáo lý Kitô, rồi đem ra tranh cãi với bà chị kế. Ông Nguyễn Bá Tín kể: “Chị Như Lễ có học, ít nhiều có khiếu văn chương, rất hợp với anh. Nhưng ngồi lại là hay tranh cãi, nhất là cãi giáo lý và chị thường bị anh chỉ trích là Pharisiêu (4) (…). Tôi nghĩ là hai chị em không có đề tài để nói chuyện ngoại trừ tranh cãi giáo lý.” (5)

Qua trao đổi trực tiếp, ông Nguyễn Bá Tín thuở sinh thời còn cho tôi biết thêm:

– Giai đoạn anh Trí học Pellerin ở Huế rồi trở lại Quy Nhơn thì tôi vào Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat, nghỉ hè mới về thăm gia đình. Lúc đó, anh rất mê đọc thơ và làm thơ. Anh đọc nhiều thơ Pháp, nhất là Baudelaire (6) và các tác giả thuộc trường phái đặc trưng như Mallarmé (7), Valéry (8). Lại thấy anh đọc cả Breton (9), ông tổ trường phái siêu thực. Lúc đó, anh Trí làm thơ thì chủ yếu là thơ luật Đường xướng họa với anh Nhơn (10), thỉnh thoảng tôi cũng tham gia cùng hai anh.

Đề tựa tập Thơ Hàn Mạc Tử (Sở Văn hóa – Thông tin Nghĩa Bình, 1987), Chế Lan Viên còn nhớ: “Tử thường đọc Baudelaire: Sois sage ô ma douleur et tiens – toi plus tranquille! (Hãy ngoan hỡi em đau thương và em đứng yên nào!)”. Tuy nhiên, trong một bức thư gửi Hoàng Trọng Miên vào tháng 6-1939, Hàn bộc bạch: “Miên có hỏi Trí về quan niệm thơ. Đối với Trí quan niệm rất khác thường, không giống Baudelaire lắm.”

Công ty TNHH MTV In Bình Định, trước là thư viện Hội quán, nơi Hàn một thời đọc sách. Ảnh: Phanxipăng

Về thơ phú thuở ấy, thầy ký đạc điền tuổi đôi mươi được ông anh cả Mộng Châu – “một nhà thơ Đường luật sành nghề” theo đánh giá của Quách Tấn – tiếp tục chỉ bày những “kỹ năng kỹ xảo” cầu kỳ cổ điển. Bài thất ngôn bát cú Cửa sổ đêm khuya của Hàn, về sau đưa vào Lệ Thanh thi tập, được nhiều người biết vì lối chơi tổ hợp “thuận nghịch độc” công phu. Bài này có thể đọc 4 cách: đọc xuôi; đọc ngược; bỏ 2 chữ sau rồi đọc ngược; bỏ 2 chữ trước rồi đọc xuôi. Cũng lối chơi độc đáo đó, Hàn thuở ấy còn có bài Đi thuyền viết theo kiểu “thủ vĩ ngâm” song chưa được phổ biến mấy. Vậy dựa theo ký ức của ông Nguyễn Bá Tín, tôi xin chép ra đây:

Bèo trôi nước dợn sóng mênh mông,

Cỏ mọc bờ xa bóng liễu trông.

Chèo vững thiếp qua vời khổ hải,

Giữ bền chàng đến vận trung không.

Theo lần nguyệt xé mây mù mịt,

Họa đáp thông reo trống não nùng.

Neo thả biết đâu nơi định trước,

Bèo trôi nước dợn sóng mênh mông.

Xem qua cách xử lý chữ nghĩa như trên, chắc bạn đọc hoàn toàn nhất trí với ý kiến Hoài Thanh – Hoài Chân nêu trong sách Thi nhân Việt Nam (NXB Hoa Tiên tái bản, Sài Gòn, 1967, trang 205) rằng: “Cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sự nảy nở một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mạc Tử.” Rất may, đúng niên điểm 1932 đó, “cuộc cách mệnh về thi ca đã nhóm dậy” và nhanh chóng “bành trướng mãnh liệt” với tên gọi là Thơ Mới. Lẽ tất nhiên, Hàn cùng bạn bè mình nồng nhiệt hưởng ứng “dòng thơ mạnh nhất trong những dòng thơ đi xuyên qua thời đại”. Không những thế, rồi đây Hàn còn khơi mở một chi lưu của dòng thơ kia với nhãn hiệu đầy ấn tượng: Trường thơ Loạn.

Bạn bè của thầy ký đạc điền ở Quy Nhơn thuở bấy giờ gồm những ai? Đồng trang lứa thì có Hoàng Tùng Ngâm, Lê Đình Ngân, Bửu Đáo. Ngoài ra, chàng còn giao du với một số trí thức yêu chuộng văn chương như nhà giáo Trần Cảnh Hảo, thầu khoán Bùi Xuân Lang.

Thầy giáo Trần Cảnh Hảo dạy văn – sử – địa ở Collège de Quinhon (11), cùng trường với cử nhân Mai Xuân Viên phụ trách môn Hán văn. Hai ông nằm trong ban giám khảo cuộc thi thơ năm 1933 được tổ chức tại phố biển này. Thầy Hảo đề nghị bổ sung một thành viên vào ban giám khảo: thầy ký Trí. Thấy Nguyễn Trọng Trí trẻ quá, thầy cử Viên lấy làm ngạc nhiên. Thầy Hảo liền giới thiệu chàng chính là Phong Trần từng được cụ Phan Bội Châu ca ngợi thi tài, thì ai nấy đều khâm phục. Ban tổ chức quyết định chọn một bài của chàng để ra đề: bài Đàn nguyệt. Nguyên tác:

Hỏi chơ mấy tuổi? Đáp mười lăm,

Non nước từng phen nổi tiếng tăm.

Bạc mạng đàn chơi đau nửa kiếp,

Đồng tâm tơ buộc chặt quanh năm.

Chường mình trước án trông đầy đặn,

Nép mặt trong hoa nói thỉ thầm.

Mười khúc đoạn trường say chửa tỉnh,

Thuyền ai thấp thỏm muốn ôm cầm!

Gần trăm người đủ độ tuổi, cựu học lẫn tân học, từ nhiều nơi về ứng thí. Kết quả: giải nhất trao cho bài họa của Tạ Linh Nha, người Quảng Ngãi. Quanh bài thơ thất ngôn bát cú Đàn nguyệt của Hàn, ông Nguyễn Bá Tín cung cấp một số thông tin:

– Trong nhà, tôi biết chơi đàn tranh với đàn nguyệt, chứ anh Trí hoàn toàn chẳng biết đàn địch chi cả. Nhưng anh mê nhạc lắm. Bài vịnh cây đàn nguyệt, ký bút hiệu Lệ Thanh, anh viết tặng “mệ” Dung – một nữ ca sĩ kiêm cầm thủ dòng dõi hoàng tộc. Bài thơ thật hay, nghe nói cụ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu rất thích.

Thời gian ấy, Hàn bắt đầu quen Quách Tấn qua thư. Tác giả Mùa cổ điển thuật lại qua hồi ký Đôi nét về Hàn Mạc Tử: “Mùa xuân 1933, nhân được nghỉ phép, Tử đi cùng gia đình bà Bùi Xuân Lang lên Đà Lạt thăm tôi. Vui mừng khôn xiết tả, tôi xin nghỉ mấy hôm đưa Tử đi xem thắng cảnh. Trước hết đi xem các cảnh gần. Cảnh nào cũng làm cho Tử trìu mến. Đến Cam Ly, Tử nhất định ở lại suốt ngày.”

Thác Cam Ly – cảnh sắc ở Đà Lạt từng làm Hàn say mê – qua bưu ảnh xưa

Viếng phố núi, Hàn say mê ngắm hồ Xuân Hương, hồ Than Thở. Bài thơ Đà Lạt trăng mờ rất nổi tiếng của Hàn, cũng theo Quách Tấn thì “tuy mãi về sau Tử mới làm song nguồn hứng đã khơi từ những ngày đến Đà Lạt.”

Hàn Mạc Tử đưa bài thơ này vào tập Thơ điên còn gọi Đau thương (12).. Gồm 4 khổ, Đà Lạt trăng mờ đã được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc (13).

Một người bạn đồng lứa với Hàn vừa nhắc ở đoạn trên là Hoàng Tùng Ngâm. Nhân vật ấy bấy giờ còn là bạn đồng nghiệp của Hàn vì làm chung bộ phận bảo tồn điền trạch. Thầy ký Ngâm lại là cháu ruột của tham tá Hoàng Phùng – giám đốc Sở Đạc điền Quy Nhơn. Ngày ngày, sau giờ làm việc, Hoàng Tùng Ngâm về trú ngụ cạnh nhà người bác. Hàn thường ghé thăm Ngâm và… sững sờ khi trông thấy tư thất của giám đốc có một trang “quốc sắc thiên hương” thấp thoáng vào ra. Hỏi, thì biết đó là ái nữ của “sếp”. Họ tên nàng là Hoàng Thị Kim Cúc. Thầm yêu trộm nhớ nàng, Hàn cảm tác loạt thơ tứ tuyệt Hoa cúc, Hồn cúc, Trồng hoa cúc, sau này còn thêm Sao, vàng sao – bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đừng cho lòng bay xa – và Ở đây thôn Vỹ Dạ – bấy nay lưu hành dưới nhan đề không đúng bản gốc là Đây thôn Vỹ Dạ. Mối tình này, mãi tới nay, đối với nhiều bạn đọc vẫn là điều… bí mật! (14)

Một người bạn khác từng sống gần gũi Hàn Mạc Tử giai đoạn 1936 – 1940 là Hoàng Diệp. Thuở Hoàng Diệp còn sống ở đường Chi Lăng, thành phố Huế, tôi đã gặp ông và nghe ông nói:

– Nhiều tình tiết liên quan Hàn Mạc Tử, thiên hạ viết thiếu chính xác. Tỉ như niên điểm Hàn thôi việc Sở Đạc điền Quy Nhơn để vào Sài Gòn làm báo. Không ít tài liệu cho rằng năm 1934. Theo tôi, có lẽ Quách Tấn nhớ đúng hơn: mùa thu 1935.

Tôi thắc mắc:

– Ông Nguyễn Bá Tín, em ruột của Hàn, bảo rằng lương bổng anh mình nhận ở Sở Đạc điền Quy Nhơn quá thấp so với đồng sự. Mỗi tháng chỉ được 6 – 12 đồng. Đó là một trong những lý do khiến Hàn tìm “miền đất hứa”, phải không ạ?

Vuốt chòm râu bạc phơ, Hoàng Diệp cười:

– Vấn đề tài chính có khả năng là một lý do. Nhưng với người nghệ sĩ, đó chẳng phải nguyên nhân chính. Cốt yếu nhất, chắc chắn là chuyện tâm hồn, chuyện tính cách. Một cá tính sáng tạo mãnh liệt như Hàn đời nào chịu đựng nổi nếp sống công chức đều đều, tẻ nhạt? Ôi, mà công chức đàng hoàng, hậu hĩnh gì cho cam. Đằng này lại là công chức công nhật. Một thầy ký quèn! Vậy thì Hàn vào Sài Gòn, theo nghề báo chí là rất thích hợp.

____________

(1) Trích hồi ký Hàn Mạc Tử trong riêng tư, sđd, trang 31.

(2) Cercle d’Etudes de Quinhon, nay là Công ty TNHH một thành viên In Bình Định, địa chỉ 144 đường Tăng Bạt Hổ, Quy Nhơn.

(3) Trại phung Quy Hoà cách trung tâm thành phố Quy Nhơn 5km về phía nam. Mời quý bạn đọc tham khảo bài Quy Hoà: thung lũng tình thương của Phanxipăng đăng trên tạp chí Tài Hoa Trẻ 144 (31-1-2001) và 145 (7-2-2001), Tây Ninh Nguyệt San 63 (3-2001), rồi đưa vào phần phụ lục sách này.

(4) Pharisiêu, tiếng Do Thái, nguyên nghĩa những người tách biệt, thường được dịch là kẻ giả hình.

(5) Trích hồi ký Hàn Mạc Tử trong riêng tư, sđd, trang 26.

(6) Charles Pierre Baudelaire (1821 – 1867) sáng tác tập thơ Les Fleurs du Mal đã được Việt dịch bởi Vũ Đình Liên là Những bông hoa ác (NXB Văn Học, Hà Nội, 1995) và Lê Trọng Bổng là Hoa của nỗi đau (NXB Thế Giới, Hà Nội, 1999).

(7) Stéphane Mallarmé (1842 – 1898).

(8) Ambroise Paul Toussaint Jules Valéry (1871 – 1945)

(9) André Breton (1896 – 1966).

(10) Mộng Châu Nguyễn Bá Nhân (1905 – 1936). Nhân biến âm thành Nhơn.

(11) Trường Quốc Học ở Quy Nhơn tức Collège de Quinhon khởi thuỷ gồm cả tiểu và trung học, tên tiếng Việt hồi ấy là Cao đẳng tiểu học Quy Nhơn. Quý bạn đọc xem thêm cước chú (3) nơi chương trước.

(12) Thi tập này gồm 46 bài thơ, chẳng thể xuất bản thành sách lúc Hàn Mạc Tử còn sống. Bởi thấy thi tập này bấy lâu nay bị ấn hành với nhiều nhầm lẫn đáng tiếc, thậm chí lời đề tặng cũng bị tuỳ tiện sửa chữa, nên Trần Thanh Địch và Nguyễn Bá Tín phối hợp ấn hành Thơ điên tức Đau thương sát hợp nguyên tác (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1995).

(13) Bài thơ Đà Lạt trăng mờ của Hàn Mạc Tử đã được phổ thành ca khúc bởi Phạm Duy, Hải Linh, Hồ Hoàng Hạ, Trương Thìn, Walther Giger, v.v.

(14) Mời quý bạn đọc tham khảo các chương sau: Sự thật về mối tình Hàn Mạc Tử – Hoàng Thị Kim Cúc, “Ở đây thôn Vỹ Dạ” – nhan đề nguyên tác & một số lời bình.

(Còn nữa)

Đà Lạt trăng mờ. Ảnh: MPK

Mời quý bà con thưởng thức ca khúc Đà Lạt trăng mờ, thơ của Hàn Mạc Tử, phổ nhạc bởi:

  • Hải Linh, do ca đoàn Hồn Nước trình bày

http://www.box.net/rssdownload/161299813/Dalat%20Trang%20Mo.mp3

  •  Phạm Duy, do ca sĩ Tuấn Ngọc thể hiện

 http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=vjKZBnzFj2

Read Full Post »

Older Posts »