Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2013

Bấy lâu ni, hai cây cầu nớ ở Huế thường bị gọi tên theo kiểu… bứt râu ông nọ, cắm cằm bà kia!

Cầu Bạch Hổ & cầu Dã Viên bắc ngang sông Hương qua bản đồ năm 1925

Cầu Bạch Hổ & cầu Dã Viên bắc ngang sông Hương qua bản đồ năm 1925

X

uôi ngược theo đường sắt xuyên Việt, ngang qua thành phố Huế, hành khách thấy xe lửa vượt sông Hương trên chiếc cầu gồm đôi đoạn tách rời. Hướng dẫn viên các đoàn du lịch thường giới thiệu: “Đây là cầu Bạch Hổ, một trong những cây cầu nổi tiếng bắc ngang dòng Hương”. Sách Sổ tay địa danh Việt Nam của Đinh Xuân Vịnh (NXB Lao Động in lần đầu năm 1996 – NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội tái bản năm 2002) còn viết: “Bạch Hổ: cầu ở Huế bắc qua sông Hương ở góc đông nam thành, xưa gọi là cầu Lợi Tế”. Đúng thế chăng?

Nếu lấy kinh thành Huế làm mốc định vị thì cây cầu đang xét đâu nằm ở góc đông nam. Chính xác là góc tây nam. Và tên gọi chính thức của nó chẳng phải cầu Bạch Hổ hoặc cầu Lợi Tế.

Không ảnh cầu Bạch Hổ & cầu Dã Viên

Không ảnh cầu Bạch Hổ & cầu Dã Viên gần như vuông góc với nhau

Cầu Bạch Hổ

Cây cầu mang tên Bạch Hổ hoặc Lợi Tế không có đường ray xe lửa và cũng không bắc ngang sông Hương, mà bắc qua sông Kẻ Vạn – con sông đào nối sông Hương với sông An Hòa, tạo nên nhánh phía tây của tuyến thủy lộ gọi là Hộ Thành Hà. Cầu vốn được dựng bằng gỗ khoảng năm Mậu Thìn 1808, đời vua Gia Long. Thoạt tiên, công trình này mang tên cầu Bạch Hổ. Tới đời vua Minh Mạng, cầu được đổi tên là cầu Lợi Tế.

Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo vào đời Duy Tân (tập Kinh sư – bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo được xuất bản bởi Nha Văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1960, trang 20) ghi nhận: “Lợi Tế kiều – tên cũ là Bạch Hổ, năm Minh Mạng thứ II (1820) đổi tên, năm Thành Thái thứ IX (1897) gác sắt.”

Trong đoạn vừa dẫn, ắt dịch giả bị nhầm lẫn chăng? Bởi năm Canh Thìn 1820 là Minh Mạng nguyên niên, còn niên hiệu Minh Mạng thứ II ứng với năm Tân Tị 1821. Cũng pho sách Đại Nam nhất thống chí, bản đời Tự Đức, do Phan Trọng Điềm dịch và Đào Duy Anh hiệu đính (NXB Thuận Hóa, Huế, 1992, trang 19) thì in: “Cầu Lợi Tế: trước gọi là cầu Bạch Hổ, năm Minh Mệnh thứ XX đổi tên hiện nay.” Niên điểm ấy nhằm năm Kỷ Hợi 1839, hẳn chính xác hơn về mặt sự kiện. Tấm bia 利濟橋 Lợi Tế kiều bằng đá thanh, cao 98cm kể cả phần đế, hiện còn nguyên trạng nơi đầu cầu. Bia nọ có khắc dòng lạc khoản: Minh Mạng nhị thập niên Kỷ Hợi ngũ nguyệt cát nhật tạo. Nghĩa là tạo dựng vào một ngày tốt tháng 5 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Minh Mạng XX, tức tháng 6-1839.

Nhà sưu tập cổ vật Hồ Tấn Phan bên bia đá “Lợi Tế kiều” ở đầu cầu Kim Long. Ảnh: Thái Lộc

Nhà sưu tập cổ vật Hồ Tấn Phan bên bia đá “Lợi Tế kiều” ở đầu cầu Kim Long. Ảnh: Thái Lộc

Sở dĩ cầu mang tên “khai sinh” là Bạch Hổ kiều (cầu Cọp Trắng) nhằm đối ứng với Thanh Long kiều (cầu Rồng Xanh) bắc qua Ngự Hà ở phía đông. Toạ lạc bên ngoài Đông Thành Thủy Quan, tiếp giáp sông Đông Ba, cầu Thanh Long từng mang các tên cầu Hàm Tế, cầu Thích Khách, pont de l’Attentat (cầu Mai Phục). Cầu Thanh Long cũng có khi mang tên cống Thanh Long, hiện nằm cuối đường Huỳnh Thúc Kháng, đầu đường Đào Duy Anh. Theo nguyên lý ngũ hành Dịch học, phía đông thuộc hành Mộc – màu xanh; còn phía tây thuộc hành Kim – màu trắng.

Năm 1990, cầu Bạch Hổ bị sập vì quá tải, nên được xây mới bằng bê tông cốt thép. Rộng 6,8m, dài 24,7m, cầu Bạch Hổ hiện nằm ngay đầu đường Kim Long – trục lộ men tả ngạn sông Hương, xuyên qua phường Kim Long, dẫn tới chùa Thiên Mụ, rồi từ đó có thể chạy suốt lên huyện vùng cao A Lưới – nên đang được gắn biển đề cầu Kim Long. Tuy nhiên, cách gọi này lại trùng tên với hai cây cầu khác ở gần đấy. Từ điển Địa danh thành phố Huế của Trần Thanh Tâm và Huỳnh Đình Kết (NXB Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2001, trang 221) cho hay rằng trong Giáp Ngọ Bình Nam đồ do Đoan quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774 có cây cầu bắc qua sông Kim Long được ghi chú “Kim Long kiều”, nay còn dấu vết chiếc cống nhỏ trên đường Kim Long. Một chiếc cầu nữa lại bắc qua sông Kẻ Vạn, trước cửa Chánh Tây, thoạt đầu tên là cầu Bạch Yến, đến năm Minh Mạng thứ II (1821) đổi thành “Kim Long kiều”, qua năm Minh Mạng XX (1839) đổi thành “Cửu Lợi kiều”.

Cầu Bạch Hổ / cầu Lợi Tế hiện mang tên cầu Kim Long. Ảnh: Phanxipăng

Cầu Bạch Hổ / cầu Lợi Tế hiện mang tên cầu Kim Long. Ảnh: Phanxipăng

Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH: tập san Đô Thành Hiếu Cổ) năm 1933 công bố thiên khảo cứu La Citadelle de Hué – onomastique (Kinh thành Huế – địa danh) của Léopold Cadière đã ghi nhận về cầu Lợi Tế: “Auparavant, c’était le pont Bạch Hổ, ou du Tigre Blanc. Aujourd’hui encore pour le peuple, c’est toujour le pont Bạch Hổ, bien qu’une stèle en pierre indique le nom donné par Minh Mạng.” Nghĩa: Trước kia, đây là cầu Bạch Hổ, tức Cọp Trắng. Mãi tới nay, mặc dù có tấm bia đá khắc tên cầu Lợi Tế do vua Minh Mạng đặt, dân chúng vẫn gọi là cầu Bạch Hổ.

 (Còn nữa)

Read Full Post »

Nhạc sĩ Phạm Duy & vợ là ca sĩ Thái Hằng cùng các con

Nhạc sĩ Phạm Duy & vợ là ca sĩ Thái Hằng cùng các con

Chiều chủ nhật 27-1-2013. Tôi lần giở một số báo chí xuân Quý Tị mới phát hành, đồng thời nghe những ca khúc do Phạm Duy soạn về mùa xuân được thể hiện bởi nhiều chất giọng. Chợt hung tin dồn dập xuất hiện trên máy điện thoại & máy tính: Phạm Duy vừa tạ thế.

Qua sóng viễn liên, nữ ca sĩ Ánh Tuyết nói:

– Phạm Duy mất lúc 2 giờ rưỡi chiều nay trong Bệnh viện 115, anh Phanxipăng ạ. Em đang trực tại nhà riêng của nhạc sĩ, chuẩn bị viết cáo phó.

Lát sau, Ánh Tuyết nhắn tin: “Nhạc sĩ Phạm Duy (Phạm Duy Cẩn) sinh ngày 5-10-1921 tại Hà Nội. Từ trần lúc 14 giờ 30 ngày 27-1-2013 (nhằm 16 tháng chạp năm Nhâm Thìn) tại TP.HCM. Tang lễ tổ chức tại tư gia số 349/126 Lê Đại Hành, P.13, Q.11, TP.HCM. Lễ nhập quan lúc 09 giờ ngày 28-1-2013. Lễ động quan lúc 06 giờ ngày 3-2-2013 (nhằm ngày 23 tháng chạp năm Nhâm Thìn) mai táng tại hoa viên nghĩa trang Bình Dương.”

Bao kỷ niệm liên quan Phạm Duy tái hiện trong tôi. Bây giờ chỉ xin kể dăm ba.

Nhớ năm 2000, lần đầu về thăm cố quốc sau 25 năm xa đất nước, nhạc sĩ Phạm Duy đã ghé Tân Thuận, Q.7, TP.HCM, thắp nhang lên mộ thi sĩ Lưu Trọng Lư. Bức ảnh chụp Phạm Duy & Phanxipăng trong tiệc thân mật tối hôm ấy do Nguyễn Hưng bấm máy, vẫn còn đây.

Phạm Duy & Phanxipăng ở Sài Gòn năm 2000. Ảnh: Nguyễn Hưng

Phạm Duy & Phanxipăng ở Sài Gòn năm 2000. Ảnh: Nguyễn Hưng

Năm 2005, Phạm Duy chính thức hồi hương vào tháng 5 thì tháng 7, Cục Nghệ thuật biểu diễn trực thuộc Bộ Văn hoá & Thông tin (1) ký quyết định cho 9 ca khúc của Phạm Duy phổ biến trên toàn quốc: Tình ca, Bà mẹ Gio Linh, Quê nghèo, Nương chiều, Ngày trở về, Ngậm ngùi (phổ thơ Huy Cận), Mộ khúc (phổ thơ Xuân Diệu), Áo anh sứt chỉ đường tà (phổ thơ Hữu Loan), Thuyền viễn xứ (phổ thơ Huyền Chi). Tháng 11 năm đó, 9 ca khúc nọ tái xuất trong tập Ngày trở về do NXB Trẻ cấp giấy phép, cùng lúc với CD Ngày trở về được các ca sĩ Quang Dũng, Thanh Liêm, Duy Quang, Hồng Hạnh, Mỹ Hạnh, Đức Tuấn, Hồ Quỳnh Hương, Mỹ Linh hát trên nền hoà âm bởi Duy Cường & Đức Trí. Kế tiếp, chương trình nhạc sống Ngày trở về của Phạm Duy được dàn dựng quy mô lớn ở TP.HCM, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội; được ghi DVD nhằm phát hành rộng khắp.

Rồi một số sáng tác của Phạm Duy dần được cấp phép biểu diễn trong nước, hình thành nên các “nhạc tập” Đưa em tìm động hoa vàng, Hương ca, Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà, Phượng yêu, Nghìn năm vẫn chưa quên, Hẹn hò, kèm theo CD phù hợp. Sách Nhớ & Tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu của Phạm Duy được NXB Trẻ chấp thuận. Công ty văn hoá Phương Nam đảm trách toàn bộ các khâu tổ chức xin phép, thiết kế, trình diễn, ghi âm, ghi hình, in ấn, phát hành, quảng bá.

Phạm Duy dạo chợ Tết Nhâm Ngọ 2002 ở Hà Nội. Ảnh: Liêm Hoa

Phạm Duy dạo chợ Tết Nhâm Ngọ 2002 ở Hà Nội. Ảnh: Liêm Hoa

Mới đây, Phanxipăng cẩn thận trao đổi ý kiến với thi sĩ Phạm Thiên Thư & nhạc sĩ Phạm Duy, đoạn viết bài Hoàng Thị ngày xưa, ngày nay đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 790 (20-7-2012) (2).

Cũng mới đây, qua điện thoại, Phạm Duy vui vẻ đồng ý đưa ca khúc do nhạc sĩ phổ thơ Hàn Mạc Tử vào phần phụ lục sách Bí mật Hàn Mạc Tử của Phanxipăng sắp in.

Ánh Tuyết thăm Phạm Duy tại nhà riêng ở Sài Gòn vào “ngày tận thế” 21-12-2012. Ảnh: Thanh Minh

Ánh Tuyết thăm Phạm Duy tại nhà riêng ở Sài Gòn vào “ngày tận thế” 21-12-2012. Ảnh: Thanh Minh

93 tuổi ta, Phạm Duy hưởng đại thượng thọ. Nhạc sĩ đại tài qua đời, dẫu biết trước điều này, bởi Phạm Duy không chỉ quá cao tuổi mà còn mắc một số bệnh về tim, gan, phổi, v.v., với nhiều biến chứng, thế nhưng nhiều người ở gần xa vẫn thương tiếc. Thôi thì đành mượn nhan đề đôi ca khúc do Phạm Duy sáng tác để rưng rưng vĩnh biệt đại thụ của tân nhạc Việt Nam:

Nghìn trùng xa cách người tình già trên đầu non.

_________________

(1)   Từ ngày 31-7-2007, chuyển thành Bộ Văn hoá, Thể thao & Du lịch

(2)   Bài Hoàng Thị ngày xưa, ngày nay của Phanxipăng sau đó đăng lại trên mạng Chim Việt Cành Nam ở Pháp ngày 8-8-2012, rồi truyền vào weblog:

https://phanxipang.wordpress.com/2012/09/05/hoang-thi-ngay-xua-ngay-nay-i/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/09/06/hoang-thi-ngay-xua-ngay-nay-ii/

Tang lễ Phạm Duy. Ảnh: Lê Việt Yên

Tang lễ nhạc sĩ Phạm Duy. Ảnh: Lê Việt Yên

Mời quý bà con thưởng thức đôi bài hát của Phạm Duy:

  • Nghìn trùng xa cách

qua các giọng ca

Thái Thanh http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=lIgV3jHfX3

Thái Hiền http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=66ugIwqrXc

Khánh Ly http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=Hs3BuBFPSH

Duy Trác http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=SIWGSr3j8F

Hoạ Mi http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dwb8ykJWemRu

Ý Lan http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=8clcKeGJM7

Khánh Hà http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=L0pcN3ijKk

Đức Tuấn http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=CwLUKOD5vb

Nhật Hạ http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=dVYWOfeeEP7o

Ánh Tuyết http://www.youtube.com/watch?v=IqOctYWDfJE

  • Người tình già trên đầu non

qua giọng ca Duy Quang http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=gUJE1JiX0x

Read Full Post »

Sông Tương ngày nay, đoạn chảy qua thành phố Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa

Sông Tương ngày nay, đoạn chảy qua thành phố Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam, Trung Hoa

Than ngô hay thương ngô hay Thương Ngô?

Soạn tiểu luận Thơ Tú Xương / Đọc thơ Tú Xương in trong một số thư tịch, như tập II Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (NXB Văn Học, Hà Nội, 1982) và Trần Tế Xương – về tác giả và tác phẩm (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2003), Xuân Diệu (1916 – 1985) bình luận: “Tú Xương đã viết một giọng văn kín đáo hai nghĩa, vì như thế tiện hơn. Người về khóc trúc than ngô một mình, hiểu nghĩa văn học thì khóc trúc là trúc mà hai bà vợ vua Thuấn khóc chồng đã vẩy nước mắt vào, làm cho lốm đốm; than ngô là cây ngô đồng trong thơ cổ, hiểu nôm na thì trúc với ngô là ở nông thôn, khóc trúc than ngô là khóc cho nhân dân mà đa số là nông dân”.

Một số tài liệu chép áng thơ này, không ghi than ngôthương ngô. Thế có nghĩa yêu thương cây ngô đồng hoặc… quả bí ngô hay trái bắp ngô ư?

Thực ra, đây là một điển cố văn học, chính xác phải khóc trúc Thương Ngô. Vì là địa danh, Thương Ngô cần được viết hoa. Truyền thuyết kể rằng vào thời Ngũ Đế, vua Thuấn đi tuần thú phương nam, chẳng may tạ thế khi đến đất Thương Ngô ở lưu vực sông Tương – chi lưu chính của Trường Giang tại tỉnh Hồ Nam – khiến hai bà phi xinh đẹp là Nga Hoàng và Nữ Anh (con của vua Nghiêu – kẻ đã nhường ngôi cho vua Thuấn) tìm đến dòng sông nọ mà khóc lóc thảm thiết khiến nước mắt nhỏ xuống những cây trúc tạo vệt lốm đốm chẳng phai, hình thành giống trúc Tương phi, tức trúc Thương Ngô. Khóc xong, hai bà phi nhảy xuống sông tự trầm. Điển cố liên quan sông Tương như giọt Tương hay mạch Tương cũng xuất phát từ tích ấy.

Thương Ngô / 蒼梧 / Cangwu còn gọi Cửu Nghi / 九疑 / Jiuyi là núi trồi 9 ngọn hao hao nhau, hiện đã trở thành Vườn quốc gia của Trung Hoa. Trong tập Bắc hành tạp lục, thi hào Nguyễn Du (1766 – 1820) từng sáng tác đôi bài thất ngôn bát cú Thương Ngô tức sự Thương Ngô mộ vũ, cùng chùm 15 bài thất ngôn tứ tuyệt Thương Ngô trúc chi ca.

Các chữ 九疑山 được khắc trên vách đá, bính âm phát Jiǔyí shān, âm Hán-Việt phát Cửu Nghi sơn. Cửu Nghi còn được gọi Thương Ngô

Các chữ 九疑山 được khắc trên vách đá, bính âm phát Jiǔyí shān, âm Hán-Việt phát Cửu Nghi sơn. Cửu Nghi còn được gọi Thương Ngô

Trần Tế Xương gieo vần gọn ghẽ, mà rất gợi: 

Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ,

Kẻ về khóc trúc Thương Ngô một mình.

Không những ca ngợi nết chính chuyên của người tình xưa, thi sĩ còn xốn xang tấc dạ nên bật đôi dòng lục bát nhằm kết thúc áng thơ. Thi khí dường nhẹ bổng nhưng sao nỗi niềm nặng trĩu:

Non non nước nước tình tình,

Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ!

Ai hoá ra kẻ. Ai hoá ra mình. Tuy hai mà một. Tuy một mà hai.

Được giải ảo thoả đáng, tình khúc áo bông càng khiến bao lớp tri âm thuộc muôn thế hệ thêm bồi hồi xuyến xao khi thưởng thức. ♥

Cửu Nghi sơn quốc gia sâm lâm công viên

Cửu Nghi sơn quốc gia sâm lâm công viên

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 722 (1-9-2010)

Mời quý bà con thưởng thức ca khúc Người đi Tam Đảo – thơ Trần Tế Xương do Phó Đức Phương phổ nhạc, Duy Thường trình bày:

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=T74mLekkq3

Read Full Post »

Tem bưu chính Việt Nam phát hành ngày 20-1-2007 do nữ hoạ sĩ Hoàng Thuý Liệu thể hiện dựa vào tranh hồi hoạ của hoạ sĩ Ngym

Tem bưu chính Việt Nam phát hành ngày 20-1-2007 do nữ hoạ sĩ Hoàng Thuý Liệu thể hiện dựa vào tranh hồi hoạ của hoạ sĩ Ngym

Tam Đảo ở đâu?

Dòng thơ Áo bông ai ướt? Khăn đầu ai khô? gói ghém muôn tâm tình quá khó diễn đạt rõ ràng rành mạch đủ đầy. Từ khăn đầu được sách Tú Xương – tác phẩm, giai thoại chú giải: “Phụ nữ ngày trước thường đội khăn. Đây có thể chỉ khăn tang chồng (ứng với hai câu dưới)”.

Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ có nghĩa di chuyển tới nơi đâu? Nửa sau áng thơ này được nhạc sĩ Phó Đức Phương phổ nhạc thành bài hát Người đi Tam Đảo. Nghe ca khúc nọ, cũng như đọc tác phẩm của Tú Xương, rất đông người đinh ninh rằng Tam Đảo là dãy núi đá gồm 3 đỉnh Thạch Bàn, Thiên Thị, Máng Chi / Phú Nghĩa. Với diện tích khoảng 850km2, đỉnh cao nhất 1.310m, khu vực Tam Đảo được Pháp xây dựng 163 ngôi biệt thự, tạo lập thị trấn nghỉ mát từ đầu thế kỷ XX, cách Hà Nội 68km.

Tam Đảo của Việt Nam. Ảnh: Iltownley

Tam Đảo của Việt Nam. Ảnh: Iltownley

Vậy Ngũ Hồ ở chỗ nào? Tam Đảo hiện thuộc 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang chẳng có Ngũ Hồ. Há lẽ là Ngũ Hồ nơi rừng núi Bạch Mã ở tỉnh Thừa Thiên – Huế? Hay Ngũ Hồ là 5 hồ nước dưới chân núi Phú Sĩ ở Zamanashi, Nhật Bản? Hay là Đại Ngũ Hồ / Laurentian Great Lakes gồm 5 hồ Superior, Michigan, Huron, Erie, Ontario toạ lạc giữa Canada và Hoa Kỳ?

Chính xác, khi đề cập Tam ĐảoNgũ Hồ, Trần Tế Xương liên tưởng những hồ lừng danh ở đất nước Trung Hoa.

Đó là hồ Hàng Châu, còn gọi hồ Tây (4), tại tỉnh Chiết Giang. Với diện tích 6,3km2, hồ Hàng Châu nổi tiếng bao đời qua mấy chữ nhất sơn, nhị đê, tam đảo, ngũ hồ  一山, 二 堤, 三島, 五湖. Nhất sơn là 1 ngọn núi, thực chất là đồi, mang tên Cô Sơn. Tam đảo gồm 3 đảo Nguyễn Công Đôn, Hồ Tâm Đình, Tiểu Doanh Châu. Ngũ hồ gồm 5 hồ Ngoại Tây, Ly Tây, Hậu Tây, Tiểu Nam, Nhạc.

Đó cũng là hồ Nhị Hải / Nhĩ Hải tại tỉnh Vân Nam. Từ xa xưa, với diện tích 250km2, hồ Nhị Hải đã được khái quát qua mấy chữ tam đảo, tứ châu, ngũ hồ, cửu khúc 三島, 四洲, 五湖, 九曲. Tam đảo gồm 3 đảo Kim Thoa, Ngọc Kỷ, Xích Văn. Ngũ hồ gồm 5 hồ Liên Hoa, Thái, Tinh, Thần, Chử.

Lưu ý rằng Ngũ Hồ còn chỉ 5 hồ Động Đình chủ yếu tại tỉnh Hồ Nam, bao gồm Đông Động Đình, Vạn Tử, Mục Bình, Đại Thông, Hoành Lĩnh, Lộc. Ngũ Hồ lại trỏ hồ Động Đình và các hồ lân cận, gồm 5 hồ Thái, Thanh Thảo, Xạ Dương, Đan Dương và Cung Đình. Và Ngũ Hồ cũng là danh từ chỉ 5 hồ to lớn với phong cảnh đẹp của Trung Hoa là Động Đình, Hàng Châu, Phan Dương, Sào, Thái.

Hồ Động Đình / Lake Dongtinh của Trung Hoa qua bản đồ

Hồ Động Đình / Lake Dongting của Trung Hoa qua bản đồ

Tam Đảo và Ngũ Hồ được các sách chú thích ra sao? Thơ Trần Tế Xương ghi: “Thắng cảnh ở Trung Quốc nhưng cũng có nghĩa là hai tiên cảnh”. Tú Xương – tác phẩm, giai thoại ghi: “Là cảnh tiên, cảnh đẹp (ở Trung Quốc). Cả câu ý nói chồng bà Hai đã đi xa, về nơi tiên cảnh”. Tú Xương toàn tập ghi: “Hai thắng cảnh ở Trung Quốc, cũng có nghĩa là hai tiên cảnh. Câu này có ý nói là chồng bà Hai đã đi xa về nơi tiên cảnh (đã mất)”.

____________

(4) Tây hồ 西湖 (bính âm: Xī Hú) là tên gọi rất nhiều hồ ở Trung Hoa – theo thống kê của Lonely Planet thì 800 hồ – và một số quốc gia khác. Nhật Bản có hồ Saiko. Việt Nam có hồ Tây ở Hà Nội và Thanh Hóa.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Hiện nay, áng thơ Áo bông che đầu / Áo bông che bạn / Nhớ bạn / Tự tình của Trần Tế Xương càng được đông đảo người biết thông qua ca khúc Người đi Tam Đảo do Phó Đức Phương phổ nhạc. Áng thơ kia chất chứa bao điều u ẩn mà hậu thế cần giải ảo. Nhân vật ai là những ai? Phải chăng địa danh Tam Đảo trong áng thơ chỉ dãy núi đá ở vùng đông bắc nước ta nổi tiếng về du lịch nghỉ dưỡng? Than ngô hay thương ngô hay Thương Ngô nhỉ?

Tú Xương do hoạ sĩ Ngym tức Trần Quang Trân vẽ Trần Tế Xương theo trí nhớ

Tú Xương do hoạ sĩ Ngym tức Trần Quang Trân vẽ theo trí nhớ

Vì hàng loạt lý do khách quan lẫn chủ quan, nhiều đơn vị tác phẩm của Trần Tế Xương / Tú Xương (1870 – 1907) lưu truyền lắm dị bản. Áng thơ mà chúng ta đang khảo sát là ví dụ tiêu biểu. Nhan đề tồn tại những 4 kiểu khác nhau. Có sách như Thân thế và thơ văn Tú Xương (NXB Cây Thông, Hà Nội, 1951), Tú Xương – tác phẩm, giai thoại (Hội Văn nghệ Hà Nam Ninh, 1987), Thơ Tú Xương (NXB Văn Học, Hà Nội, 1998), Tú Xương toàn tập (NXB Văn Học, Hà Nội, 2010) in nhan đề Áo bông che đầu. Có sách như Tú Xương con người và nhà thơ (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1961), Thơ Trần Tế Xương (Ty Văn hoá Nam Hà, 1970), Thơ Tú Xương (NXB Đồng Nai, 2008) in nhan đề Áo bông che bạn. Có sách như Văn thơ Trần Tế Xương (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1957) in nhan đề Nhớ bạn. Lại có các tài liệu http://htx.dongtak.net/spip.php?article109http://scvnlive.net/vbb/archive/index.php/t-4171.html ghi nhan đề bài thơ là Tự tình. Nội dung cũng tam sao thất bản, nên ở đây xin trưng bản mà cá nhân tôi cảm thấy ưng ý:

Ai ơi! Còn nhớ ai không?

Trời mưa, một mảnh áo bông che đầu.

Vì ai, ai có biết đâu!

Áo bông ai ướt? Khăn đầu ai khô?

Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ,

Kẻ về khóc trúc Thương Ngô một mình.

Non non nước nước tình tình,

Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ! (1)

Phanxipăng viếng mộ Tú Xương bên hồ Vị Xuyên, TP Nam Định. Ảnh: Trần Nam Xuyên

Phanxipăng viếng mộ Trần Tế Xương bên hồ Vị Xuyên, TP. Nam Định. Ảnh: Trần Nam Xuyên

Ai là ai?

Trong áng thơ lục bát này, thủ pháp trùng âm điệp ngữ được phát huy quá đỗi tài ba tương tự những khúc dân ca tuyệt diệu. Đại từ ai chỉ 2 nhân vật khác nhau. Một ai chỉ nhà thơ. Một ai chỉ bạn của thi sĩ. Vấn đề đặt ra: bạn đó là kẻ nào?

Theo ý kiến của một số người, đó là bạn cùng giới với Tú Xương. Sách Thơ Trần Tế Xương chú thích: “Bạn của nhà thơ đến thăm gặp mưa, nhà thơ phải cởi áo bông của mình che đầu cho bạn khỏi ướt. Bây giờ bạn đã đi xa, nhà thơ nhớ bạn và nhớ sự việc cũ”. Có người thấy loạt từ láy Non non nước nước tình tình, lại liên hệ một số áng thơ khác của Tú Xương như Nhớ bạn phương trời, bèn đoán rằng đó là nhà cách mạng Phan Bội Châu (1867 – 1940).

Một số người lại nghĩ rằng đó là bạn khác giới với Tú Xương, thậm chí là những cô đầu Hồng Hồng Tuyết Tuyết (2) hành nghề hát ả đào. Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977) từng nhận xét: “Không có công gì nhiều và to nữa, ngoài một lần che khăn đầu bằng áo bông của mình và ông nhân cái ý khăn đầu ấy, cái việc nhỏ nhặt tầm thường này đáng lẽ không đáng kể là công đâu. Khốn nhưng không kể ra thì lấy gì mà nhắc để hỏi: Ai ơi! Còn nhớ ai không? Cho nên kể cái công nhỏ nhặt tầm thường mà lại duy nhất này. Thoạt mới nghe thì thật buồn cười (vì Tú Xương vốn có tài hài hước), nhưng nghĩ kỹ ta thấy cái cử chỉ lấy áo bông của mình che đầu người khác mới dịu dàng làm sao! Nó phải là cái cử chỉ của một người ưa dịu dàng. Và cái cử chỉ càng nhỏ nhặt và tầm thường bao nhiêu, càng tỏ ra lòng yêu mến nâng niu của mình to lớn và đặc biệt bấy nhiêu. Cái người ưa dịu dàng, cái người được trìu mến nâng niu ấy phải là một người liễu yếu đào tơ để mặc anh đàn ông chiều chuộng mình. Hoặc nếu quá ra thì là một người đàn bà õng ẹo đòi người đàn ông chiều chuộng mình. Vậy là người đàn bà này phải là người cô đầu nay đây mai đó (Người đi Tam đảo, Ngũ hồ) mà Tú Xương gặp lại, chứ không phải người đàn bà con nhà tử tế. Vì thời này đàn bà con nhà tử tế không ai đi với bạn đàn ông. Và nếu có thì khi người bạn đàn ông có che áo bông lên đầu mình dù có thích mấy đi nữa, cũng chỉ mỉm cười và sẽ hất tay người ấy ra”.

Kỳ thực, người đó rất đàng hoàng và đích thị tình nhân một thuở của Trần Tế Xương. Nàng là một tiểu thư đất Nam Định, tục danh Cõn, con gái út của tiến sĩ Vũ Công Độ (3). Nhóm thực hiện sách Tú Xương – tác phẩm, giai thoại bao gồm Nguyễn Văn Huyền (chủ biên), Đỗ Huy Vinh, Mai Anh Tuấn căn cứ vào lời thuật của một số bô lão ở Vị Xuyên mà ghi chép: “Khi còn trẻ, hai người đã yêu thương nhau, nhưng gia đình ông Nghè không thuận. Cô Cõn phải lấy chồng ở xã Mai Xá (nay thuộc ngoại thành Nam Định), tên là Hai Đích. Năm 23 tuổi, chồng chết, cô trở về Nam Định, ở vậy, nuôi con. Ông Tú cũng đã lấy vợ, trái tim vẫn lưu luyến mối tình xưa, nhưng không vượt quá khuôn khổ. Bài thơ này làm nhằm một đêm nhà thơ si tình, lượn qua nhà người tình cũ, gặp mưa, phải lấy vạt áo bông che đầu, càng thổn thức khôn nguôi”.

Xin nêu thêm một số chi tiết thú vị. Mặc dù goá bụa lúc còn quá trẻ, lại xinh xắn khéo giỏi, nàng Cõn được nhiều “đại gia” ve vãn, song quả phụ cương quyết giữ lòng trung trinh thờ chồng và nuôi con, bởi thế khi nàng 50 tuổi đã được vua Khải Định ban tặng 4 chữ Tiết hạnh khả phong. Quả phụ Hai Đích, tức nàng Cõn, chỉ có một mụn con gái mang họ tên Hoàng Thị Sính. Sính lớn lên, kết hôn với quan huyện Vũ Thiện Thuật, sinh hạ nhà thơ Vũ Hoàng Chương (1916 – 1976).

Hoàng Thị Sính cùng vợ chồng con trai Vũ Hoàng Chương – Đinh Thị Thục Oanh & cháu nội Vũ Hoàng Tuân

Hoàng Thị Sính cùng vợ chồng con trai Vũ Hoàng Chương – Đinh Thị Thục Oanh & cháu nội Vũ Hoàng Tuân

____________

(1) Khảo dị:

* Dòng 1: Hỏi ai ai có thương không? / Hỏi ai, ai đó thương không? / Hỡi ai, ai có thương không? / Hỡi ai, ai có nhớ không? / Ai ơi ai có nhớ không? / Ai ơi có nhớ chi không? / Ai ơi còn nhớ ai không?

* Dòng 2: Đêm mưa, một mảnh áo bông che đầu.

* Dòng 3: Rạng ngày, ai biết ai đâu? / Nào ai có biết ai đâu? / Nào ai có tiếc ai đâu?

* Dòng 4: Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô?

* Dòng 5: Người đi Tam đảo, Ngũ hồ,

* Dòng 6: Kẻ về khóc trúc thương ngô một mình / Kẻ về khóc trúc than ngô một mình / Kẻ về khóc trúc than ngô sao đành?

* Dòng 7: Non non, nước nước, tình tình,

* Dòng 8: Vì ai tươi thắm cho mình ngẩn ngơ! / Vì ai lận đận cho mình ngẩn ngơ!

(2) Trích từ bài ca trù nổi tiếng của Dương Khuê (1839 – 1902).

(3) Vũ Công Độ (1805 – ?): Người làng Vị Hoàng, tổng Đông Mặc, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định; nay là phường Vị Hoàng, TP.Nam Định, tỉnh Nam Định. Vốn là giám sinh trường Quốc Tử Giám. 28 tuổi, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Minh Mạng XIII, tức năm 1832. Bia đá còn lưu danh tại di tích Văn Thánh / Văn Miếu ở Huế. Làm quan đến chức Thái bộc tự khanh quyền Bố chánh Thái Nguyên.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »