Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tư, 2013

Nhất Linh thổi clarinette

Nhất Linh thổi clarinette

Hội An với nấm mồ Nhất Linh

Sau khi tiếp nhận các nguồn tin trên, tôi mấy lần ghé Hội An, hỏi một số người địa phương về nấm mồ Nhất Linh, đều nghe đáp:

– Ở Hội An có từ đường Nguyễn Tường, chứ không có mộ Nhất Linh.

Mùa hè 2010, lại về thăm phố cổ, tôi quyết định dành thời gian tìm kiếm âm phần thủ lĩnh của Tự Lực Văn Đoàn, người từng chủ trương: “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ”. Thoạt tiên, tôi liên hệ với một số cơ quan chức năng tại đây. Giám đốc Trung tâm Văn hoá – Thể thao thành phố Hội An là Võ Phùng cho biết:

– Chắc chắn không có mộ Nhất Linh ở Hội An.

Công tác tại Trung tâm kia, lại dành nhiều thời gian nghiên cứu về cuộc đời lẫn sự nghiệp Nhất Linh, song nhà thơ Phùng Tấn Đông vẫn nhấn mạnh:

– Chưa hề dời mộ Nhất Linh từ Sài Gòn ra Hội An. 

Giám đốc Trung tâm Quản lý bảo tồn di tích Hội An là Nguyễn Chí Trung nói:

– Hội An không có mộ Nhất Linh. Nhân vật nổi tiếng vậy mà chôn ở Hội An thì dân địa phương biết liền chứ. Tuy nhiên, anh thử tìm hiểu thêm, biết đâu…

Trần Tuấn – trưởng phòng kỹ thuật Palm Garden Beach Resort & Spa ở Cửa Đại – vừa lái xe đưa tôi đi, vừa cười:

– Chẳng khác mò kim đáy bể, anh Phanxipăng ạ!

Từ đường phái nhì Quảng Nam của dòng họ Nguyễn Tường trên đường Lê Quý Đôn, toạ lạc giữa các di tích đã được Nhà nước xếp hạng là Khổng miếu và lăng ngài Tham tri Trần Ngọc Dao (3). Tôi tạt vào từ đường, gặp chị Nguyễn Thị Quyên. Chị tươi cười:

– Mộ nhà văn Nhất Linh cùng vợ và con gái Nguyễn Thị Kim Thư đã được gia quyến cải táng về Hội An ngày 28-4-2001. Dạo đó, các con của Nhất Linh gồm Nguyễn Tường Việt, Nguyễn Tường Thiết, Nguyễn Thị Kim Thoa cùng đến đất này lo hiếu sự.

Trong từ đường, gian phía tây có thờ chân dung Nhất Linh.

Phanxipăng và Nguyễn Thị Quyên trước bàn thờ Nhất Linh cùng gia quyến trong từ đường. Ảnh: Trần Tuấn

Phanxipăng và Nguyễn Thị Quyên trước bàn thờ Nhất Linh cùng gia quyến trong từ đường. Ảnh: Trần Tuấn

Chị Quyên nhiệt tình đưa tôi ra xã Cẩm Hà, tới Nghĩa trang nhân dân thành phố Hội An, bước vào khu âm phần dành cho tộc Nguyễn Tường. Trông thấy mộ vợ chồng Nhất Linh, ngay lập tức, Trần Tuấn thảng thốt:

– Hỡi ôi! Mộ Nhất Linh dời về đây từ năm 2001, lẽ nào người Hội An lâu nay mù tịt? Mộ bậc tài danh lẫy lừng mà sao nhỏ nhắn quá, bị chìm khuất quá, khó tìm kiếm quá!

Nội dung bia mộ Nhất Linh đan xen Hán tự phồn thể lẫn giản thể và Việt ngữ.

Chữ Hán:

錦江

阮祥门第十世

顯考号一灵阮府君之佳域 (4)

Phiên âm:

Cẩm Giàng

Nguyễn Tường môn đệ thập thế

Hiển khảo hiệu Nhất Linh Nguyễn phủ quân chi giai vực

Nghĩa:

Cẩm Giàng

Họ Nguyễn Tường, đời thứ 10

Mộ thân phụ có hiệu Nhất Linh của chúng tôi

Chữ Việt:

Sinh năm 1906

Mất năm 1963

Nam: Tường Việt, Triệu, Thạch, Thiết, nữ: Kim Thoa, cháu nội: Tường Anh, Phong, Thao phụng lập 4-2001

Phanxipăng bên mộ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Phạm Thị Nguyên tại Hội An. Ảnh: Trần Tuấn

Phanxipăng bên mộ Nhất Linh Nguyễn Tường Tam và Phạm Thị Nguyên tại Hội An. Ảnh: Trần Tuấn

Chị Quyên cất tiếng:

– Nghe tin tỉnh Hải Dương đang xúc tiến tạo dựng Khu lưu niệm Tự Lực Văn Đoàn. Đúng không anh Phanxipăng?

Quả đúng vậy. Tại thị trấn Cẩm Giàng thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, hội thảo Bảo tồn và phát huy di sản cố trạch của Tự Lực Văn Đoàn đã được tổ chức ngày 9-5-2008. Ngày 17-12-2008, UBND tỉnh Hải Dương ban hành công văn chỉ đạo quy hoạch khu vực cố trạch của Tự Lực Văn Đoàn tại thị trấn đó. Tháng 4-2009, UBND huyện Cẩm Giàng lập ban chỉ đạo quy hoạch; và theo kế hoạch thì giai đoạn 1 tạo dựng Khu lưu niệm Tự Lực Văn Đoàn đạt diện tích 1,2ha, trong đó có công viên văn hoá, thư viện, nhà khách.

Thế thì với ngôi mộ của vị chủ soái Tự Lực Văn Đoàn là nhà văn kiêm nhà báo Nhất Linh, thành phố Hội An nên sớm trù hoạch và triển khai biện pháp tôn tạo khả thi nhằm mở thêm chốn giao lưu văn hoá bổ ích, đồng thời là điểm du lịch thú vị thừa khả năng cuốn hút đông đảo tao nhân mặc khách muôn phương. ♥

Quả lựu. Tranh do Nhất Linh vẽ năm 1957

Quả lựu. Tranh do Nhất Linh vẽ năm 1957

____________

(3)   Có thể tham khảo bài Phó bảng của Phanxipăng đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 868 (11-1-2010) rồi truyền lên một số trang web, trong đó có weblog này:

https://phanxipang.wordpress.com/2012/08/26/pho-bang-i/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/08/27/pho-bang-ii/

(4)   Bút hiệu / bút danh chính của Nguyễn Tường Tam 阮祥叄 là Nhất Linh vẫn được ghi kiểu kép 壹零 nhưng bia lại khắc kiểu đơn 一灵. Qua bài Nấm cỏ đưa về tấc đất xuân, Phạm Phú Minh phê bình tấm bia này: “Riêng chữ thứ 9 từ trên xuống, có lẽ do thợ khắc sai, không có nghĩa, được đoán là chữ chi”. Kỳ thực, chữ 之 chi cũng được thể hiện theo dạng “thượng sơn, hạ nhị” như vậy, chẳng hạn bia nơi mộ Tăng Bạt Hổ trong khu di tích lưu niệm Phan Bội Châu ở Bến Ngự, Huế.

Phanxipăng

Đã đăng trên các tạp chí:

  • Thế Giới Mới 912 (29-11-2010)
  • Kiến Thức Ngày Nay 731 (1-12-2010)
  • Tài Hoa Trẻ 869 (9-10-2013)

Read Full Post »

Nhà văn kiêm nhà báo tài năng Nhất Linh (1905 – 1963) hiện được an táng đâu?

Những tư liệu khả tín cho biết: năm 2001, di cốt Nhất Linh đã được chuyển từ Sài Gòn về chôn ở Hội An.

Kỳ lạ thay, từ ấy tới nay, tôi mấy lần ghé phố cổ bên bờ sông Hoài, hỏi thăm nhiều người địa phương, kể cả các cán bộ ngành văn hoá, thì họ đều trả lời:

– Hội An không có mộ Nhất Linh!

Nhất Linh qua nét vẽ của Nguyễn Gia Trí

Nhất Linh qua nét vẽ của Nguyễn Gia Trí

Nhất Linh mang họ tên Nguyễn Tường Tam, chào đời năm 1905 (Ất Tị) tại thị trấn Cẩm Giàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, em ruột của Nhất Linh là Nguyễn Thị Thế viết trong Hồi ký họ Nguyễn Tường (NXB Sóng, Sài Gòn, 1974) rằng thẻ căn cước của anh mình ghi ngày sinh 1-2-1905 do Nhất Linh từng làm lại giấy khai sinh nhằm đủ tuổi dự thi, chứ thực tế năm sinh lại là 1906 (Bính Ngọ). Năm 2010, Nguyễn Tường Thiết – con trai của Nhất Linh – chú thích bài Hai vẻ đẹp của Nhất Linh rằng ngày sinh chính xác của cha là 25-7-1906. Cần thêm rằng nguyên quán của Nhất Linh là làng Cẩm Phô, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; hiện thời là phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

Thời học sinh trường Bưởi ở Hà Nội, Nguyễn Tường Tam đã đăng thơ trên báo Trung Bắc Tân Văn và đăng bài bình luận Truyện Kiều trên tạp chí Nam Phong. Năm 1923, thi đỗ tiểu học, rồi kết hôn với Phạm Thị Nguyên, quê làng Phượng Dực (1). Năm 1924, học y lẫn mỹ thuật ở Hà Nội, nhưng chỉ thời gian ngắn thì bỏ. Năm 1926, vào miền Nam, đoạn qua Cao Miên tức Campuchia. Năm 1927, sang Pháp, nghiên cứu nghề báo và nghề xuất bản. Năm 1930, tốt nghiệp cử nhân khoa học giáo khoa chuyên ngành lý hoá tại Pháp.

Trở về nước, Nguyễn Tường Tam dạy học tại các trường Thăng Long và Gia Long ở Hà Nội. Năm 1932, làm giám đốc báo Phong Hoá. Năm 1933, thành lập Tự Lực Văn Đoàn gồm bản thân Nhất Linh và Khái Hưng (Trần Khánh Giư còn gọi Nhị Linh), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ). Sau, Tự Lực Văn Đoàn thêm Xuân Diệu và Trần Tiêu (2). Năm 1936, tờ Phong Hoá bị đóng cửa, tờ Ngày Nay kế tục phong trào.

Năm 1938, Nhất Linh lập Đảng Hưng Việt, rồi đổi tên thành Đảng Đại Việt Dân Chính. Từ ấy, Tự Lực Văn Đoàn công khai chống Pháp. Năm 1941, tờ Ngày Nay bị đóng cửa. Năm 1942, Nhất Linh dạt qua Quảng Châu, Trung Hoa, bị bắt giam 4 tháng, hoạt động trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Cách. Năm 1945, Nhất Linh trở về nước, ở Hà Giang thời gian ngắn liền quay lại Trung Hoa, chỉ đạo Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí và Nguyễn Tường Bách tục bản báo Ngày Nay tại Hà Nội. Tháng 5-1945, tại Trùng Khánh, Trung Hoa, Nhất Linh sáp nhập Đảng Đại Việt Dân Chính và Đảng Việt Nam Quốc Dân thành Đảng Đại Việt Quốc Dân, gọi tắt là Việt Quốc.

Đầu năm 1946, trở về Hà Nội, Nhất Linh ra báo Việt Nam, giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến, và được đặc cách tham gia Quốc hội khoá 1 mà khỏi cần bầu cử. Cũng năm đó, dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, Nhất Linh làm trưởng đoàn Việt Nam đàm phán với Pháp. Được cử đứng đầu phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau nhưng Nhất Linh không đi mà trốn qua Trung Hoa, tham gia thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất Việt Nam nhằm ủng hộ Bảo Đại.

Năm 1951, Nhất Linh về nước, mở Nhà xuất bản Phượng Giang, tái bản sách của Tự Lực Văn Đoàn. Năm 1954, sang Pháp chữa bệnh.

Nhất Linh năm 1954. Ảnh: Lê Văn Kiểm

Nhất Linh năm 1954. Ảnh: Lê Văn Kiểm

Năm 1955, lên Đà Lạt sống, Nhất Linh mê sưu tập phong lan. Năm 1958, xuống Sài Gòn, Nhất Linh trở thành chủ tịch đầu tiên của Hội Văn bút Việt Nam. Cũng tại Sài Gòn, từ năm 1958, Nhất Linh thực hiện giai phẩm Văn Hoá Ngày Nay, phát hành được 11 số thì bị đình bản.

Năm 1960, Nhất Linh thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết, ủng hộ đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông đảo chính nhằm lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Ngày 11-11-1960, cuộc đảo chính thất bại, chính quyền đương thời giam lỏng Nhất Linh trong nhà riêng gần chợ An Đông, dự định đưa ra toà án xét xử ngày 8-7-1963. Noi gương hoà thượng Thích Quảng Đức, Nhất Linh dùng độc dược pha vào rượu uống để tự tử ngày 7-7-1963, lưu lại những dòng tuyệt mệnh:

“Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả.”

Thơm danh liệt sĩ – nổi tiếng văn hào

Nhất Linh trút hơi thở cuối, để lại người vợ thân yêu Phạm Thị Nguyên cùng 7 con gồm 5 nam Nguyễn Tường Việt, Nguyễn Tường Triệu, Nguyễn Tường Thạch, Nguyễn Tường Thái, Nguyễn Tường Thiết, và 2 nữ Nguyễn Thị Kim Thư, Nguyễn Thị Kim Thoa.

Nhất Linh còn lưu cho đời cả loạt tác phẩm văn học nghệ thuật giá trị, bao gồm các tập truyện ngắn Nho phong, Người quay tơ, Anh phải sống (viết chung với Khái Hưng), Đi Tây, Hai buổi chiều vàng, Thế rồi một buổi chiều, Thương chồng, các tiểu thuyết Gánh hàng hoa (viết chung với Khái Hưng), Đời mưa gió (viết chung với Khái Hưng), Nắng thu, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng, Xóm cầu mới, Giòng sông Thanh Thuỷ, tiểu luận Viết và đọc tiểu thuyết, cả bản dịch Đỉnh gió hú của Emily Brontë.

Ngay sau khi Nhất Linh tự huỷ mình, nhà cầm quyền thuở ấy lập tức ra lệnh chôn ông gấp trong nghĩa trang chùa Giác Minh ở Gò Vấp vào sáng thứ bảy 13-7-1963 mà không chờ đợi con trai cả của người vừa khuất là Nguyễn Tường Việt từ Pháp về phục tang.

Đưa tang Nhất Linh tại Sài Gòn sáng 13-7-1963. Ảnh: Mạnh Đan

Đưa tang Nhất Linh tại Sài Gòn sáng 13-7-1963. Ảnh: Mạnh Đan

Sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị hạ bệ, lễ truy điệu Nhất Linh được tổ chức rất trọng thể tại sân Tao Đàn ở Sài Gòn. Bấy giờ, vang vọng áng văn tế Nhất Linh do thi sĩ Vũ Hoàng Chương soạn ngày 5-1-1964 mà đây là đoạn kết:

Hỡi ơi!

Tố Đoạn tuyệt thành hồ đoạn tịch, mộng dẫu chơi vơi nửa cuộc, sử còn thơm danh liệt sĩ Tường Tam;

Phượng Nhất Linh hề thiên nhất phương, lầu tuy ngơ ngác bên sông, gió vẫn nổi tiếng văn hào họ Nguyễn.

Lễ truy điệu Nhất Linh tại Sài Gòn năm 1964

Lễ truy điệu Nhất Linh tại Sài Gòn năm 1964

Năm 1975, tại Sài Gòn, Nguyễn Tường Thạch hoả thiêu di cốt cha, đoạn gửi bình tro trong chùa Kim Cương trên đường Trần Quang Diệu, quận 3.

Năm 1981, quả phụ Phạm Thị Nguyên từ Việt Nam sang Pháp đoàn tụ với các con. Bà mất năm đó, được an táng trong một nghĩa trang tại thủ đô Paris.

Năm 2001, toàn gia quyết định di dời hài cốt mẹ Phạm Thị Nguyên từ Paris và cha Nhất Linh từ Sài Gòn về Hội An. Sự kiện này được Phạm Phú Minh tường thuật trong bài Nấm cỏ đưa về tấc đất xuân đăng tạp chí Thế Kỷ XXI số tháng 7 năm 2002, và Khúc Hà Linh ghi nhận trong bài 12 năm cuối đời của người đứng đầu Tự Lực Văn Đoàn đăng báo Tiền Phong 24-2-2008 rồi in trong sách Anh em Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam: ánh sáng & bóng tối (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2008).

____________

(1)   Phượng Dực hiện là 1 trong 3 làng thuộc xã cùng tên ở huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội. Xưa, Đồng Khánh dư địa chí ghi nhận rằng “xã Phượng Dực thuộc tổng Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội”. Năm 1888, Pháp lập tỉnh Hà Đông, có phủ Thường Tín gồm 3 huyện Thanh Đàm, Thượng Phúc, Phú Xuyên.

(2)   Qua bài Phải chăng Trần Tiêu là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn? đăng tạp chí Nghiên Cứu Văn Học 7-2008, Cù Huy Hà Vũ cho rằng Trần Tiêu chưa bao giờ là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Người mẫu

Giữa trời & đất. Tượng đá: Trắc Quốc Sâm. Ảnh: Phanxipăng

Giữa trời & đất. Tượng đá: Trắc Quốc Sâm. Ảnh: Phanxipăng

 

 

Trút bỏ mảnh vải cuối cùng

Em trở thành tù-nhân-bất-động

Bị biệt giam giữa đề-lao-lằn-phấn.

 

 

Anh – gã thực dân

Xâm lược dần dần em – thuộc địa

Khai thác kiệt cùng những đường cong.

 

 

Từng khối đất sét em hoá thân

Da thịt trinh tân thiếu nữ

Sinh lực thanh xuân phập phồng hơi thở.

 

 

Cả tình em, anh cũng nỡ tạo hình?

 

 

Khi pho tượng thạch cao hoàn thành

Em cùng mọi người nâng ly mừng chúc

Nào ai hiểu vì sao em khóc.

 

 

Em dối lòng gọi giọt lệ bằng mỹ danh: Hạnh Phúc.

 

 

Tiệc tàn

Xác chai quẳng ngổn ngang lăn lóc

Tác phẩm anh thành công

Em

 rỗng

không!

 

                        18.V.1992

 

  

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Mỹ Thuật Thời Nay 24 (8-1992)

In trong sách Album thơ 1 của Phanxipăng (NXB Trẻ, 1995)

Read Full Post »

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,

Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên.

 

Theo tôi, đó là đôi dòng lục bát hay nhất Truyện Kiều.

Không chỉ riêng Phanxipăng khẳng định thế, mà một số học giả tiền bối cũng phát biểu tương tự; chẳng hạn Đặng Thai Mai, Nguyễn Hiến Lê.

Hình tượng mỹ nữ khỏa thân này là sáng tạo của Nguyễn Du, chẳng xuất hiện trong Kim Vân Kiều truyện bằng chữ Hán của Thanh Tâm Tài Nhân. Với văn học trung đại Việt Nam, sáng tạo ấy khá táo bạo.

GS. NGND. Nguyễn Đình Chú nhận xét: “Nguyễn Du nói rõ ràng mà chẳng rõ ràng gì. Hai chữ rõ ràng của Nguyễn Du cứ như là một sự đánh lừa người đọc, nhưng là sự đánh lừa hóm hỉnh, dễ thương, mà xét cho cùng chính là chuyện ông tự giữ cho mình mà cũng là giữ cho người đọc, ở sự trong sáng của tâm hồn. Khi đến với bức tượng khỏa thân này, người đọc cứ tha hồ mà tưởng tượng, tự hình dung, tự chiêm ngưỡng. Thế là đủ. Không nên khác nữa.”

Tuy nhiên, khi minh họa Truyện Kiều, bằng nghệ thuật tạo hình, các cây cọ đã rõ ràng hóa hình tượng Thúy Kiều thoát y trong bối cảnh thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa. Ở đây, xin giới thiệu phiên bản 4 bức tranh.

Tranh: Phạm Thúc Chương

Tranh: Phạm Thúc Chương

Tranh: Ngọc Mai

Tranh: Ngọc Mai

Tranh: Lê Lam

Tranh: Lê Lam

Tranh: Bùi Xuân Phái

Tranh: Bùi Xuân Phái

Read Full Post »

Phanxipăng trước cổng đền Trần. Ảnh: Vũ Thị Kim Xuân

Phanxipăng trước cổng đền Trần. Ảnh: Vũ Thị Kim Xuân

Viếng đền Trần

Cách đền Mẫu chỉ quãng ngắn, cùng nằm ven đường Bãi Sậy bên bờ hồ Bán Nguyệt, là đền Trần tọa lạc trên mặt bằng 1.110m2.

Bức hoành chính giữa cổng tam quan nổi bật bốn chữ 陳大王祠. Phiên âm: Trần Đại Vương từ. Ấy là nơi phụng thờ Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300). Tương truyền trong quá trình chiến đấu chống giặc Nguyên Mông manh tâm xâm lược nước ta, Trần Hưng Đạo đã chọn vị trí chiến lược trọng yếu này – nơi hội tụ ba dòng sông Hồng, Luộc, Châu Giang – làm cứ địa để đóng quân một thời gian. Sau đó, tại đây, người địa phương liên tục đơm soạn nhang đèn hoa quả tưởng nhớ công lao bậc anh hùng kiệt xuất của dân tộc. Đền Trần chính thức được hưng công xây dựng từ niên hiệu Tự Đức XVI (Quý Hợi 1863), đến niên hiệu Tự Đức XXII (Kỷ Tị 1869) thì hoàn mãn.

Đền Trần có lối kiến trúc tổng thể kiểu chữ tam, gồm đại bái, trung từ, hậu cung. Tòa đại bái 5 gian kết cấu “chồng rường đấu sen” bằng gỗ, mái lợp ngói vảy rồng, bờ nóc chính diện đắp lưỡng long chầu nguyệt, trái lẫn phải đắp hoa văn chữ triện. Nối thông với tòa đại bái là tòa trung từ cũng 5 gian, có thờ nhị vị danh tướng Yết Kiêu và Dã Tượng. Hậu cung đặt 6 bệ thờ Trần Hưng Đạo cùng phu nhân và nhị vị cô nương, vương phụ, vương mẫu, Bắc Đẩu, Nam Tào.

Khánh đồng trong đền Trần. Ảnh: Phanxipăng

Khánh đồng trong đền Trần. Ảnh: Phanxipăng

Đôi câu đối trong đền Trần được nhiều người thích thú:

Đằng Giang lãng thiếp thần uy tại;

Cát Hải ngư trường thánh đảm lưu.

Tạm dịch:

Bạch Đằng sóng cuộn, thần uy đó;

Cát Hải ngư trường, thánh vẫn lưu.

Đúng kỳ húy nhật Trần Hưng Đạo, ngày 20 tháng 8 âm lịch thường niên, đền Trần ở Hưng Yên mở hội tế lễ tưởng nhớ công lao của đấng thiên tài quân sự đã đánh tan bè lũ Nguyên Mông, bảo vệ nền độc lập cho Tổ quốc. Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận đền Trần là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia vào ngày 21-1-1992.

Viếng đền Trần ở Hưng Yên, tôi sực nhớ những đền thờ Hưng Đạo Đại Vương tại các tỉnh thành khác trên toàn quốc mà mình từng đến: Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Vũng Tàu, Long Khánh, Biên Hòa, TP.HCM, v.v. Sách Di tích lịch sử – văn hóa Hưng Yên (Bảo tàng Hưng Yên ấn hành, 2008) luận: “Việc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn được tôn thờ ở nhiều nơi không chỉ là niềm tưởng nhớ tới một vị anh hùng dân tộc, một nhà quân sự tài ba lỗi lạc, mà còn ở hình tượng một vị đức Thánh Cha (trong tín ngưỡng dân gian), bên cạnh Thánh Mẫu che chở cho các con dân qua muôn trùng thác ghềnh của lịch sử dựng nước và giữ nước, đấu tranh chống chọi với thiên tai, phù hộ cho trăm nghề phát đạt, mang tới cuộc sống ấm no, an lành”.

Tượng danh tướng Dã Tượng trong đền Trần. Ảnh: Phanxipăng

Tượng danh tướng Dã Tượng trong đền Trần. Ảnh: Phanxipăng

Hồ Bán Nguyệt quá khứ & tương lai

Trong Hưng Yên địa chí (Nhà in Ngô Tử Hạ, Hà Nội, 1934), Nhật Nam Trịnh Như Tấu ghi nhận: “Hưng Yên xưa ở trên bờ bể, địa thế gồm một phần tỉnh lỵ ngày nay, hạt Kim Động và hạt Khoái Châu. Về sau, sông, bể bồi đắp mãi cho địa thế Hưng Yên rộng thêm ra. Bể mỗi ngày một lùi ra ngoài. Sông Phú Lương là một chi lưu sông Nhị Hà (5) chảy theo chiều khác. Một phần lòng sông Phú Lương thành hồ Bán Nguyệt (hình nửa mặt trăng), tới nay hãy còn di tích. Trải qua mấy thế kỷ, nước hồ vẫn xanh biếc phản chiếu ánh sáng mặt trời và toà sứ xây trên bờ hồ.”

Thời thuộc Pháp, công sứ Wintrebert (6) cho đắp con đường từ cửa đền Mẫu sang điếm canh đê, chia đôi hồ Bán Nguyệt. Giữa đường có cầu sơn đỏ. Sau Cách mạng tháng 8-1945, đường kia đã bị phá. Dần dà, bờ hồ được kè đá và trồng cây xanh – chẳng hạn nhãn, dừa, đại / sứ, vú sữa, phượng vỹ. Giữa hồ, đắp một gò nhỏ hình tròn. Cuối hồ có vườn hoa thiếu nhi với các trò chơi ngựa gỗ, đu dây, cầu trượt, v.v. Vào dịp Tết lễ, hồ Bán Nguyệt trở thành nơi tổ chức thi bơi, đua thuyền, bắn pháo hoa. Sách Hưng Yên vùng phù sa văn hóa viết: “Người Hưng Yên đi làm ăn phương xa mỗi khi nhớ về quê hương thì hình ảnh xáo động trong tâm tư chính là hồ Bán Nguyệt”.

Một góc hồ Bán Nguyệt hiện nay. Ảnh: Thuỷ Linh

Một góc hồ Bán Nguyệt hiện nay. Ảnh: Thuỷ Linh

Thông tin đáng mừng: công viên hồ Bán Nguyệt sẽ hình thành với diện tích 7,5ha, trong đó diện tích cây xanh – mặt nước 4,65 ha, diện tích công trình văn hoá 1,95 ha, diện tích đất giao thông 0,92 ha. Ngày 15-12-2009, UBND tỉnh Hưng Yên ra quyết định số 2640/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 công viên hồ Bán Nguyệt. Công viên này được tổ chức không gian theo hướng lấy toàn bộ mặt nước hồ Bán Nguyệt làm trung tâm, từ đấy tạo lập 3 vùng chức năng chính:

1. Công trình văn hóa, khu vườn hoa và cây xanh ven hồ;

2. Hệ thống giao thông, chiếu sáng, cấp thoát nước, vệ sinh môi trường được đầu tư đồng bộ;

3. Các khu vực bảo đảm không gian cảnh quan mang tính yên tĩnh tương đối.

Giám đốc Bảo tàng Hưng Yên là thạc sĩ Phạm Trung Hiếu (7) cho biết:

– Chủ đầu tư thiết kế và thi công là Bảo tàng Hưng Yên đã công bố chi tiết bản quy hoạch công viên hồ Bán Nguyệt với tỉ lệ 1/500 vào ngày 14-1-2010. Đại diện các sở, ngành, địa phương đều thống nhất quan điểm rằng đây là dự án có tính chất góp phần tái hiện lịch sử Phố Hiến, mang ý nghĩa giáo dục phổ cập các giá trị về văn hoá vật thể lẫn phi vật thể, là nơi nghỉ ngơi, giải trí phục vụ cho các hoạt động văn hoá, lịch sử truyền thống, tham quan du lịch. Trong những công trình chuẩn bị xây dựng tại công viên hồ Bán Nguyệt, có một công trình đặc biệt: nhà bảo tàng, nơi lưu giữ và trưng bày hình ảnh cùng hiện vật nhằm tái hiện quá trình lịch sử Phố Hiến nói riêng, toàn tỉnh Hưng Yên nói chung. ♥

Thấp thoáng Nguyệt hồ. Ảnh: Phanxipăng

Thấp thoáng Nguyệt hồ. Ảnh: Phanxipăng

____________

(5) Sông Hồng còn nhiều tên gọi khác: Nguyên, Thao, Cái, Nhĩ / Nhị, v.v.

(6) Tên Việt hóa của công sứ này: Be. Đó là một trong “Bắc Kỳ tứ hung”: Nhất Đác (Darles), nhì Ke (Eckert), tam Be (Wintrebert), tứ Bích (Bride).

(7) Thạc sĩ Phạm Trung Hiếu chẳng may mới bị đột tử tại Hưng Yên ngày 4-11-2010 nhằm 28 tháng 9 Canh Dần.

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 753 (10-7-2011)

Read Full Post »

Older Posts »