Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu, 2013

Ngô Đình Diệm, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa giai đoạn 1955 – 1963, cùng hai em ruột Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn được an táng ở những nơi nào? Phải chăng các nấm mồ ấy đang phong kín lắm điều kỳ bí?  

Chân dung Ngô Đình Diệm trên bìa tờ Time ra ngày 4-4-1955

Chân dung Ngô Đình Diệm trên bìa tờ Time ra ngày 4-4-1955

N

gô Đình Khả (1857-1923) là phụ chính thân thần vào thời Nguyễn, từng giữ chức Thượng thư Bộ Lễ, từng làm Chưởng giáo / Hiệu trưởng đầu tiên của trường Quốc Học ở Huế. Ông Khả cùng với Thượng thư Bộ Công rồi Thượng thư Bộ Lại kiêm Bộ Hộ là Nguyễn Hữu Bài (1863-1935) bộc lộ thái độ cương quyết trước giặc Pháp khiến dân Việt truyền tụng: Phế vua, không Khả; đào mả, không Bài. Hai gia đình đại quan này lại có quan hệ thông gia.

Ngô Đình Khả cưới Phạm Thị Thân năm Kỷ Sửu 1889, lần lượt sinh 9 con, gồm 6 trai và 3 gái. Trước khi đề cập đến nơi an nghỉ nghìn thu của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, bài viết này giới thiệu mấy dòng về 6 người kia.

Ngô Đình Diệm (thứ hai từ trái sang) cùng gia quyến

Ngô Đình Diệm (thứ hai từ trái sang) cùng gia quyến

Ngô Đình Khôi chào đời năm Quý Tị 1893, là trưởng nam của Ngô Đình Khả. Ông Khôi lấy Nguyễn Thị Giang – trưởng nữ của Nguyễn Hữu Bài – sinh một trai duy nhất Ngô Đình Huân. Tháng 8-1945, cả hai cha con bị Việt Minh bắt, đưa ra làng Hiền Sỹ, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, xử tử ngày thứ năm 6-9-1945 nhằm ngày 1 tháng 8 năm Ất Dậu.

Phanxipăng thăm mộ Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi & Ngô Đình Huân trên đường Đoàn Hữu Trưng, phường Phước Vĩnh, TP. Huế. Ảnh: Tôn Nữ Cẩm Nhung

Phanxipăng thăm mộ Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi & Ngô Đình Huân trên đường Đoàn Hữu Trưng, phường Phước Vĩnh, TP. Huế. Ảnh: Tôn Nữ Cẩm Nhung

Ngô Thị Giao chào đời năm Giáp Ngọ 1894. Lấy Thừa phái Trương Đình Tùng, nên Ngô Thị Giao được gọi mụ Thừa Tùng, sinh 9 con, gồm 5 gái, 4 trai. Mụ Thừa Tùng mất năm Bính Tuất 1946, an táng tại nghĩa trang Mến Thánh Giá, gần khu vực Chín Hầm, ở xã Thủy An, thành phố Huế.

Nữ tu Maria Mađalêna Trương Thị Lý viếng mộ cha mẹ là Trương Đình Tùng và Ngô Thị Giao. Ảnh: Phanxipăng

Nữ tu Maria Mađalêna Trương Thị Lý viếng mộ cha mẹ là Trương Đình Tùng và Ngô Thị Giao. Ảnh: Phanxipăng

Ngô Đình Thục chào đời năm Đinh Dậu 1897, tu sĩ Kitô giáo, được thụ phong linh mục, giám mục, tổng giám mục, từng làm việc ở Việt Nam, Roma và châu Phi. Ông Thục mất năm Giáp Tý 1984 tại Hoa Kỳ.

Ngô Thị Hiệp chào đời năm Quý Mão 1903, lấy ông Nguyễn Văn Ấm, nên được gọi mụ Ấm, sinh 9 con, gồm 4 trai, 5 gái, trong đó có hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (1928-2002). Mất năm Ất Dậu 2005 tại Australia, mụ Ấm được chôn trong nghĩa trang Rookwood tại thành phố Sydney của nước ấy.

Mộ chồng Nguyễn Văn Ấm, vợ Ngô Thị Hiệp, con gái Nguyễn Thị Hàm Tiếu tại Sydney, Úc

Mộ chồng Nguyễn Văn Ấm, vợ Ngô Thị Hiệp, con gái Nguyễn Thị Hàm Tiếu tại Sydney, Úc

Ngô Thị Hoàng chào đời năm Giáp Thìn 1904, lấy thầu khoán Nguyễn Văn Lễ, nên thường được gọi mụ Cả Lễ, sinh một con gái độc nhất là Nguyễn Thị Anh kết hôn với luật sư Trần Trung Dung – Bộ trưởng Quốc phòng thời Ngô Đình Diệm làm Tổng thống. Mụ Cả Lễ mất năm Kỷ Hợi 1959, an táng gần khu vực Chín Hầm.

Mộ mụ Cả Lễ nhũ danh Ngô Thị Hoàng. Ảnh: Phanxipăng

Mộ mụ Cả Lễ nhũ danh Ngô Thị Hoàng. Ảnh: Phanxipăng

Ngô Đình Luyện chào đời năm Giáp Dần 1914, có bằng kỹ sư do École centrale Paris (ECP) cấp, lấy hai chị em ruột người Sài Gòn. Năm 1963, lúc Ngô Đình Diệm từ trần, ông Luyện làm đại sứ Anh quốc. Tạ thế năm Mậu Thìn 1988, ông Luyện được chôn trong nghĩa trang Montrouge tại Paris, thủ đô nước Pháp.

Mộ Ngô Đình Luyện trong nghĩa trang Montrouge tại Paris, Pháp. Ảnh: Nguyễn Văn Tiên

Mộ Ngô Đình Luyện trong nghĩa trang Montrouge tại Paris, Pháp. Ảnh: Nguyễn Văn Tiên

(Còn nữa)

Read Full Post »

Fluolac của Việt Nam

Tuy nhiên, GS.TS.BS.NGND. Hoàng Tử Hùng vẫn tin vào triển vọng bào chế shellac thành một vật liệu hiện đại có tác dụng phòng chống sâu răng, song rẻ tiền & tiện dụng, dễ sản xuất, dễ bảo quản, nhằm phù hợp hoàn cảnh nước nhà đang còn thiếu thốn trang thiết bị chuyên dụng lẫn nhân sự. Dĩ nhiên, dung dịch shellac đơn thuần như đã sử dụng trước giờ vẫn còn một số nhược điểm cần khắc phục, do đó nhất thiết phải thay đổi vài tính chất vật lý & hoá học nhằm đáp ứng loạt tiêu chuẩn quốc tế.

Khi nghe TS.BS. Hoàng Tử Hùng trình bày thế, một chuyên gia về vật liệu nha khoa ở Đại học Adelaide (Úc) là GS. John Mc Intyre tỏ ra đồng tình.

TS.BS. Hoàng Tử Hùng liền cùng các cộng sự tại khoa Răng hàm mặt trực thuộc Đại học Y dược TP.HCM & khoa Hoá trực thuộc Đại học Kỹ thuật TP.HCM (6) mạnh dạn chế tạo mẫu vecni shellac biến tính hoá học, đồng thời cho thêm fluor. Những khảo sát in vitro (trong phòng thí nghiệm) & in situ (tiền lâm sàng) cho thấy: thử nghiệm đạt thành công bước đầu. Chế phẩm “made in Vietnam” đó tạm được đặt tên Fluolac.

GS.TS.BS.NGND. Hoàng Tử Hùng

GS.TS.BS.NGND. Hoàng Tử Hùng

Với kết quả đáng mừng ấy, Bộ Y tế quyết định triển khai nghiên cứu chế tạo Fluolac. Đề tài khoa học công nghệ này do Bộ Y tế quản lý, giao GS.TS.BS. Hoàng Tử Hùng làm chủ nhiệm. Cùng thực hiện đề tái có các BS. Huỳnh Lan Anh, Phan Ái Hùng, Trần Thuý Nga, Đào Thị Hồng Quân & kỹ sư Huỳnh Kỳ Phương Hạ. Chương trình tiến hành 3 năm ròng, từ tháng 6-1996 đến tháng 3-1999, với sự hợp tác nghiên cứu của khoa Công nghệ hoá học trực thuộc Đại học Kỹ thuật TP.HCM & khoa Nha trực thuộc Đại học Adelaide của Úc. Chương trình đã “trình làng” sản phẩm Fluolac là loại vecni shellac biến tính epoxy chứa 5% natri florua (NaF) có khả năng bám dính bề mặt răng & bảo vệ răng, giúp răng chống sâu đạt hiệu quả. Ngày 21-5-2000, đề tài này được Hội đồng Khoa học kỹ thuật Bộ Y tế nghiệm thu chính thức.

Sau giai đoạn bào chế thử nghiệm, Fluor được tiếp tục khảo sát lâm sàng & nghiên cứu sản xuất đại trà để ứng dụng vào các chương trình nha khoa công cộng. PGS.TS.BS. Hoàng Tử Hùng cho biết:

– Giờ đây, trên thế giới lưu hành 2 loại vecni phòng chống sâu răng được nhiều người ưa chuộng là Duraflor & Duraphat. Sản phẩm Fluolac của Việt Nam chứng tỏ nhiều ưu điểm vượt trội. Chẳng hạn fluor từ Fluolac không những được hấp thụ tương đương Duraflor & Duraphat, mà còn phát huy tác dụng cả trong trường hợp không tiếp xúc trực tiếp với mặt răng. Ví dụ bôi Fluolac lên răng số 6 thì dự phòng được luôn cho răng số 5 & số 7. Lại thêm, các mảng bám răng không ngăn cản sự hấp thụ fluor từ Fluolac. Nghĩa là chỉ cần chải răng bình thường trước khi bôi Fluolac, chứ không đòi hỏi làm vệ sinh răng bằng dụng cụ nha khoa chuyên nghiệp. Mà sử dụng Fluolac chỉ cần một lần là đủ. Đặc biệt, nhờ sàn xuất từ nguyên liệu nội địa rẻ tiền nên Fluolac có giá thành cực thấp, ước tính thấp hơn 10 lần so với sản phẩm cùng loại ngoại nhập.

GS.TS.BS. Hoàng Tử Hùng cười tươi rói:

– Mai đây, khi Fluolac được sản xuất đại trà, chỉ cần tập huấn cách sử dụng cho đội ngũ giáo viên mầm non & tiểu học trong vòng vài tiếng đồng hồ là có thể triển khai thực hiện cho tất cả thiếu nhi trên phạm vi toàn quốc. Đến lúc ấy, chúng ta thực sự an tâm vì có trong tay “vũ khí chiến lược phòng chống sâu răng”.

– Được vậy thì thế hệ tương lai sẽ rất vui mừng với hàm răng chắc, khoẻ, đẹp. Song, có lẽ đó không phải là vẻ đẹp răng lánh hạt huyền xưa xửa xừa xưa?

Nghe tôi chất vấn vậy, GS.TS.BS. Hoàng Tử Hùng trở nên ưu tư:

– Tất nhiên, theo quan niệm hiện đại, răng trắng mới đẹp. Một trong những hạn chế đáng kể của Fluolac là vecni còn màu vàng sẫm, gây mất thẩm mỹ đối với răng cửa. Dẫu trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ ngày nay phát triển, nhưng khả năng tẩy màu để sản phẩm đạt độ tinh khiết mà vẫn đảm bảo dược tính vẫn đang là điều rất khó khăn! ♥

Hầu khắp thế giới ngày nay, một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá bộ răng đẹp: trắng & trắng

Hầu khắp thế giới ngày nay, một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá bộ răng đẹp: trắng & trắng

_________________

(6)   Trường được thành lập ngày 27-10-1957 với tên chính thức đầu tiên là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật (TTQGKT), thường được gọi trường KT Phú Thọ. Ngày 15-9-1972, TTQGKT được đổi tên là Học viện (HV) QGKT. Năm 1973, Viện Đại học (ĐH) Bách khoa Thủ Đức được thành lập, gồm nhiều đơn vị, trong đó có HVQGKT. Tháng 5-1975, HVQGKT trở thành ĐHKT Phú Thọ. Ngày 27-10-1976, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 426/TTg, tổ chức lại 11 trường ĐH thuộc Viện ĐH Sài Gòn, còn 8 trường, trong đó ĐHKT Phú Thọ chuyển tên nên ĐH Bách khoa TP.HCM. Ngày 12-2-2001, với Quyết định 15/2001/QĐ-TTg và 16/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức lại ĐHQG TP.HCM, ĐHKT TP.HCM được mang tên cũ ĐH Bách khoa TP.HCM.

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 401 (1-10-2001)

Read Full Post »

Những nhà khoa học tiên phong

Lưu tâm tới hệ quả đáng quý của tục nhuộm răng về phương diện khoa học ứng dụng, đầu tiên có số ít nha sĩ Việt kiều sinh sống tại Pháp vào thập niên 1960. Qua hàng loạt nghiên cứu thăm dò, họ đã xác định được vật liệu chính mang tác dụng phòng chống sâu trong tục nhuộm răng cổ truyền. Đó chính là shellac, tức nhựa cánh kiến đỏ, một loại nhựa thiên nhiên có nguồn gốc động vật do loài côn trùng nhỏ Laccifer lacca Kerr thuộc bộ Rệp (Coccidae) tiết ra. Theo tính toán, phải 150.000 con côn trùng này mới tiết được lượng nhựa thô đủ để tinh chế 0,5kg shellac.

Shellac tức nhựa cánh kiến đỏ. Ảnh: Ivory

Shellac tức nhựa cánh kiến đỏ. Ảnh: Ivory

Cần biết thêm rằng từ thời cổ, cư dân nhiều nước phương Đông từng khai thác & sử dụng nhựa cánh kiến đỏ vào 2 việc chính là gắn dính công cụ lao động & nhuộm – trong đó có nhuộm răng. Đến cuối thế kỷ XIX, người ta khám phá thêm một số ứng dụng của nhựa cánh kiến đỏ phục vụ cho công nghiệp, thủ công mỹ nghệ, quốc phòng: chế tạo sơn, vecni (4), vật liệu cách điện, v.v. Tại Việt Nam, năm 1905, Pháp đã lập xưởng tinh chế nhựa cánh kiến đỏ ở thị trấn La Phù, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, cũng nhằm đáp ứng thị trường theo loạt ứng dụng ấy. Nào ai ngờ vecni shellac mà cánh thợ mộc thường dùng để phủ bao đồ gỗ sẽ trở thành vật liệu nha khoa hiện đại.

Có thể nói rằng Bửu Điềm – Phùng Thị Cúc là đôi vợ chồng nha sĩ Việt Nam ở Pháp đã mở đường một cách ngoạn mục vào lĩnh vực nghiên cứu vai trò shellac đối với tục nhuộm răng, & bước đầu khảo sát một số đặc tính lý hoá sinh của loại vật liệu này. Trên cơ sở kết quả thu thập được rất đáng phấn khởi, hai người cùng hoàn thành xuất sắc luận văn bác sĩ nha khoa quốc gia Pháp năm 1973 với đề tài Le lacquage des dents au Vietnam et le shellac en dentisterie préventive / Tục nhuộm răng ở Việt Nam & shellac nha khoa phòng ngừa. Tên tuổi hai người, đặc biệt là vợ, giờ đây trở nên quen thuộc với đông đảo công chúng trong lẫn ngoài nước nhờ bao tác phẩm… điêu khắc được ký nghệ danh Điềm Phùng Thị – Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học, văn nghệ & văn chương Cộng đồng châu Âu (5).

Bàn thờ chồng & vợ nha sĩ Bửu Điềm – Phùng Thị Cúc tại Nhà trưng bày tác phẩm nghệ thuật Điềm Phùng Thị ở Huế. Ảnh: Phanxipăng

Bàn thờ chồng & vợ nha sĩ Bửu Điềm – Phùng Thị Cúc tại Nhà trưng bày tác phẩm nghệ thuật Điềm Phùng Thị ở Huế. Ảnh: Phanxipăng

Tích cực đào sâu, mở rộng hướng nghiên cứu hữu ích ấy, nhiều công trình khảo sát ứng dụng shellac trong nha khoa lần lượt được thực hiện ở Việt Nam lẫn nước ngoài. Đó là các công trình của Hoàng Thị Thục & Đặng Vũ Thắng (1968), Nguyễn Dương Hồng (1970), Võ Thế Quang (1985), Lý Thanh Tòng (1988), v.v.

Tại một hội nghị khoa học về răng-hàm-mặt được tổ chức tại TP.HCM vào thập niên 1980, TS.BS. Hoàng Tử Hùng nêu ý kiến:

– Để phòng ngừa sâu răng, nhiều quốc gia tiên tiến đang ứng dụng các biện pháp đạt kết quả khả quan: hoặc sử dụng chất trám bít hố rãnh, hoặc dùng vật liệu phóng thích các thành phần có khả năng ngăn chận sâu răng mà nổi bật là fluor. Vậy tại sao chúng ta không thử phối hợp cả hai? Cụ thể là có khả năng đưa fluor vào shellac nhằm tăng tác dụng phòng chống sâu răng được chăng?

Lúc bấy giờ, ý kiến đó bị nhiều người xem rằng không khả thi. Vì mỗi biện pháp có một cơ chế khác nhau, làm thế nào dung hoà nổi?

_________________

(4)   Vecni do phiên âm danh từ tiếng Pháp vernis. Tiếng Hà Lan cũng vernis. Tiếng Bồ Đào Nha: verniz. Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: vernik. Tiếng Phần Lan: vernissa. Tiếng Anh: varnish.

(5)   Mời quý bà con tham khảo bài Độc đáo tranh tượng Điềm Phùng Thị của Phanxipăng đã đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 696 (10-12-2009) rồi truyền vào weblog này:

https://phanxipang.wordpress.com/2013/10/02/doc-dao-tranh-tuong-diem-phung-thi-i/

https://phanxipang.wordpress.com/2013/10/04/doc-dao-tranh-tuong-diem-phung-thi-ii/

(Còn nữa)

Read Full Post »

Ai từng bị sâu răng hành hạ, ắt đều thấm thía nỗi đau nhức kinh khiếp mà chứng bệnh quái quỷ đó gây ra. Oái ăm thay, bệnh đó lại có quá đông người mắc phải. Tại Việt Nam, người bị sâu răng chiếm tỉ lệ hơn 60% số dân thuộc các lứa tuổi từ 6 trở lên (1). Do đó, phòng ngừa sâu răng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với mọi chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Nhằm đạt được mục tiêu ấy, một giải pháp nha khoa hiện đại đang được tích cực nghiên cứu & có khả năng sẽ được triển khai ứng dụng đại trà nay mai. Điều rất thú vị là đề tài khoa học lý thú nọ bắt nguồn từ một phong tục cổ truyền của dân tộc: nhuộm răng.

Phụ nữ Bắc Kỳ ở nước ta năm 1915 với răng đen

Phụ nữ Bắc Kỳ ở nước ta năm 1915 với răng đen

Răng đen, ai nhuộm cho mình?

Ở Việt Nam, cách nay không lâu, ngay trong nửa đầu thế kỷ XX, tục nhuộm răng quá quen thuộc với mọi người, mọi giới, nhất là phụ nữ. Bao khúc dân ca từng hết lời ngợi khen vẻ đẹp răng lánh hạt huyền (2) , chẳng hạn:

Răng đen, ai nhuộm cho mình?

Để duyên mình thắm, để tình ta say.

Răng đen, ai nhuộm mà hay?

Để tình ta thắm, càng say duyên mình.

Năm 1938, soạn sách Việt Nam văn hoá sử cương (3), Đào Duy Anh ghi nhận: “Nhiều người ngoại quốc cho rằng người Việt Nam vì ăn trầu cho nên có răng đen. Thực ra, tục ăn trầu và tục nhuộm răng không có quan hệ gì với nhau, duy hai tục ấy đều khiến cho răng thành vững chắc.”

Sách vừa dẫn còn chỉ rõ: tục nhuộm răng nào phải riêng của Việt Nam, mà là tục chung của nhiều xứ sở Á Đông xưa, như Campuchia, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, Nhật Bản.

Người Nhật Bản xưa cũng có tục nhuộm răng đen

Người Nhật Bản xưa cũng có tục nhuộm răng đen

Riêng tại Việt Nam, tục nhuộm răng xuất hiện tự bao giờ? Theo các nhà nghiên cứu, trong đó có Henri Maspéro, thì tục này đã tồn tại từ thời Hồng Bàng (2789 – 258 trước Công nguyên). Hàng loạt di chỉ được ngành khảo cổ khai quật suốt thời gian qua, đặc biệt là các mộ thuyền có niên đại ±2.000 năm trước, chẳng những khẳng định điều đó mà còn cung cấp thêm thông tin hữu ích: từ rất sớm, khoảng 13 ~ 15 tuổi, người Việt cổ, bao gồm cả nam lẫn nữ, đều nhuộm răng. Qua khảo sát các di cốt cổ nhân, đủ để kết luận rằng hễ răng được nhuộm thì hiếm có trường hợp bị sâu đục phá.

Tục cổ truyền nhuộm răng của người Việt nói riêng, của các dân tộc cư trú ven Thái Bình Dương nói chung, vốn được tiến hành ra sao?

Đó là quy trình gồm 3 giai đoạn. Thoạt tiên là 3 ngày liền kiêng thức ăn cứng cùng dầu mỡ; phải chải răng kỹ lưỡng rồi đắp chanh lên mặt răng & ngậm rượu nếp pha chanh hoặc giấm. Kế tiếp là 10 ngày nhuộm đỏ răng bằng nhựa cánh kiến. Rốt cuộc là 3 ngày nhuộm đen răng bằng hỗn hợp nhựa cánh kiến, bồ hòn & nhọ nồi (sulfat sắt FeSO4).

Vài ba năm, người ta còn lặp lại giai đoạn nhuộm đen 3 lần, mỗi lần cỡ 5 phút, để củng cố màu đen bóng, tránh phai nhạt thành răng cải mả.

Những cá thể đã thay xong lượt răng sữa thì mới bắt đầu nhuộm. Mỗi lần nhuộm, y như bị… tra tấn, bời liên tục nhiều ngày đêm ngậm những chất nóng-cay-chua khiến mồm miệng tày phù, phồng rộp. Toan Ánh đã mô tả trong cuốn Phong tục Việt Nam (Nhà sách Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1969) về hiện tượng này: “Môi, lưỡi & lợi người nhuộm răng sưng lên, khiến trong thời kỳ nhuộm răng, người ta ăn cơm không dám nhai mà chỉ nuốt chửng.”

Tại Việt Nam trước đây, cùng với dân tộc Kinh, các dân tộc Thái, Sila, Tày, Dao, Lào cũng nhuộm răng đen

Tại Việt Nam trước đây, cùng với dân tộc Kinh, các dân tộc Thái, Sila, Tày, Dao, Lào cũng nhuộm răng đen

Vậy nhưng, hầu hết dân Việt xưa đều chịu khó chịu khổ mà nhuộm răng. Không ít phụ nữ năm nào cũng nhuộm đi nhuộm lại cho hàm răng đen nhức. Bởi đấy là quan niệm thẩm mỹ thuở trước:

Lấy chống cho đáng tấm chồng,

Bõ công trang điểm má hồng, răng đen.

Đấy còn là quan niệm đạo đức một thời. Hồi ấy, ai để răng trắng đều bị thiên hạ chê là “răng lợn luộc” & bị xếp vào ngữ… bất chính!

Tuy nhiên, thời gian xa xưa nọ, chẳng ai để ý tới một hệ quả đáng quý là răng nhuộm thì thường được bảo vệ tốt, khó bị sâu.

_________________

(1)   Số liệu do GS.TS.BS.NGND. Hoàng Tử Hùng nêu: “Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ mắc bệnh răng miệng thuộc loại cao nhất thế giới. Tính đến năm 2000, chúng ta có trên 90% người lớn và trẻ em có các bệnh quanh răng, nha chu và trên 60% có vấn đề về bệnh sâu răng.”

(2)   Trích lời Lý mười thương – một khúc dân ca xứ Huế nổi tiếng:

Một thương tóc bỏ đuôi gà,

Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

Ba thương má lúm đồng tiền,

Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua.

(3)   Sách Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh ấn hành lần đầu bởi Quan Hải Tùng Thư ở Huế năm 1938, từ đó đến nay được tái bản nhiều lần bởi: NXB Bốn Phương, Sài Gòn, 1951; NXB TP.HCM 1992: NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 2002 & 2003; NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2012, v.v.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Không đề

16

 

Lắm đêm trắng ngẩn trang giấy trắng
Ngòi bút trồng cây si
Ngôn từ ấp úng.

 

Ném những dấu hỏi vào đêm
Tư bề thin thít
Vẳng bừng lên tiếng chuột rúc bên thềm.

 

Hình như thoảng hương
Đoá quỳnh lẻ nở cuối vườn hàng xóm
Xoè bàn tay lóng lánh hạt sương. ♥

 

Phanxipăng

Đã đăng báo Phụ Nữ thứ bảy 18-12-1993
In trong Album thơ 1 của Phanxipăng

Read Full Post »

Older Posts »