Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2013

Hoa nhài

 

Trăng non. Ảnh: Thái Phiên

Trăng non. Ảnh: Thái Phiên

 

Đêm qua trăng khoả thân đầu gió

Hương trăng ngào ngạt toả gần xa

Sớm nay những tưởng hương đương tụ

Khóm nhài cuối ngõ trổ chùm hoa.

 

Phanxipăng

Đã đăng báo chí:

  • Văn Hoá Quảng Trị 8 (10-1992)
  • Long An Cuối Tuần 46-93 (27-11-1993)

Và in trong sách Album thơ 1 của Phanxipăng (NXB Trẻ, 1995)

Read Full Post »

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Gửi chất vấn

Tháng 10-1993, Thảo Phương viết Chân dung tự hoạ in cuối tập thơ Người đàn bà do đàn ông sinh ra, có đoạn:

 Tôi nghĩ: thơ là cái gì đó – “muốn” cũng không được, mà “không muốn” cũng không được. Tôi không biết chắc mình có còn bài thơ tiếp hay không? Và điều đó có quan trọng không? (…) Điều quan trọng là hãy trung thực và hết mình. Thà là chạm vào ba-ri-e của chính mình rồi giã biệt.

Một chiều, ngồi với thi sĩ Thảo Phương và ca sĩ Tuấn Phong nơi quán bia gần Nhà hát lớn Sài Gòn, tôi hỏi vui:

– Trong tiếng Pháp, barrière có ít nhất 2 nghĩa: rào cản và lá chắn. Chị chạm… cái gì?

Thảo Phương nâng ly bia, miệng cười mà khoé mắt rưng rưng:

– 2 nghĩa hả? Thì Thảo Phương chạm cả 2.

Thảo Phương thăm Hàn Quốc tháng 2-2008

Thảo Phương thăm Hàn Quốc tháng 2-2008

Tháng 2-2008, ngay sau Tết Nguyên đán Mậu Tý, Thảo Phương du lịch Hàn Quốc, sục sạo kiếm tìm thi tứ giữa tuyết trắng lạnh buốt. Trở về cố hương, một thời gian sau, chị phải vào Bệnh viện nhân dân Gia Định nhằm điều trị bạo bệnh: ung thư. Đội ngũ bác sĩ bó tay, gia đình bèn đưa Thảo Phương về nhà riêng tĩnh dưỡng.

Thời khắc hấp hối, Thảo Phương trào những dòng nước mắt khi chứng kiến các con và dâu của mình, cả người chồng cũ từ Hà Nội bay vội vào, cùng một số bà con, bằng hữu.

17 giờ rưỡi chiều chủ nhật 19-10-2008, nhằm 21 tháng 9 năm Mậu Tý, tại tư thất ở quận Phú Nhuận, Thảo Phương trút hơi thở cuối cùng, hưởng dương 59 tuổi. Linh cữu Thảo Phương quàng tại Nhà tang lễ 25 Lê Quý Đôn, quận 3. Sáng 22-10-2008, sau khi hoả táng tại Bình Hưng Hoà, di cốt Thảo Phương được đưa vào bảo tháp Xá Lợi cộng đồng trong khuôn viên chùa Vĩnh Nghiêm ở 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3. Ôi, chẳng rõ nữ thi sĩ quá cố từng mấy lần chạm barrière?

Xin gửi Thảo Phương chầu bia cùng câu chất vấn:

– Hỡi tài hoa khuất bóng! Sao chỉ chạm barrière, mà không vượt qua? ♥

Một số ấn phẩm của Thảo Phương. Ảnh: Phanxipăng

Một số ấn phẩm của Thảo Phương. Ảnh: Phanxipăng

Phanxipăng

Đã đăng báo Giáo Dục & Thời Đại 240 (7-10-2013)

Mời quý bà con thưởng thức ca khúc Nỗi nhớ mùa đông do Phú Quang phổ thơ Thảo Phương:

http://www.nhaccuatui.com/tim-kiem?q=N%E1%BB%97i+nh%E1%BB%9B+m%C3%B9a+%C4%91%C3%B4ng

 

Read Full Post »

Gửi mùa đông

Thảo Phương lưu lại các phẩm thơ: Thơ Thảo Phương (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1990), Bài ca buồn (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1992), Người đàn bà do đàn ông sinh ra (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1994), Khúc ca thời gian / Ballads of Time (28 bài thơ song ngữ Việt – Anh (4), NXB Văn Học, Hà Nội, 1999), Ngọn lửa của người (NXB Văn Học, Hà Nội, 2001).

Ngoài ra, Thảo Phương còn có album Nỗi nhớ mùa đông gồm 7 ca khúc phổ thơ Thảo Phương (2001), tập truyện ngắn Chiếc gạt tàn vỏ ốc (1997), kịch bản phim truyện Chim phí bay về cội nguồn (2003). Với phim này, đạo diễn Đặng Lưu Việt Bảo đã đoạt Bông sen bạc, Thảo Phương lĩnh giải biên kịch xuất sắc nhất với thể loại phim video tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIV năm 2004 tổ chức ở Đăklăk.

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Đây, bài thơ Không đề gửi mùa đông do Thảo Phương sáng tác ở Sài Gòn tháng 8-1992:

Dường như ai đi ngang cửa

Hay là ngọn gió mải chơi

Chút nắng thu vàng se nhẹ
Chiều nay –
Cũng bỏ ta rồi

Làm sao về được mùa đông
Chiều thu – cây cầu
Đã gãy…

Lá vàng chìm bến thời gian
Đàn cá – im lìm – không quẫy

Ừ, thôi…
Mình ra khép cửa –
Vờ như mùa đông đã về.
(5)

Bài thơ ấy đã được Quốc Bảo phổ thành ca khúc Làm sao về được mùa đông, còn Phú Quang phổ thành ca khúc Nỗi nhớ mùa đông. Bài hát Nỗi nhớ mùa đông khá thịnh hành, lần lượt được trình bày bởi các giọng Lê Dung, Ngọc Tân, Quang Lý, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thu Phương, Giáng My, Phương Thanh, Ngọc Anh, Thanh Hà, Thanh Tuấn, Tấn Minh, Lệ Quyên, Đào Bích Ngân, Hoàng Nhật Minh, Nguyễn Đình Toàn, v.v.

Noi nho mua dong

Thảo Phương còn những bài thơ khác được phổ thành chùm ca khúc: Bài ca buồn (Trần Chính phổ nhạc), Trong mưa đợi mặt trời (Ngô Huỳnh phổ nhạc), Em đi tìm (Đức Trịnh phổ nhạc), Anh đi qua đời em (Đức Trịnh phổ nhạc), Lãng du (Nguyễn Cường phổ nhạc), Cho một thời cho một người (Khánh Vinh phổ nhạc), Mùa xuân (Văn Dung phổ nhạc), Trái đất đừng cô đơn (Bảo Phúc phổ nhạc), Một thế giới yêu thương (Bảo Phúc phổ nhạc), Khát khao (Bảo Phúc phổ nhạc) (6), Dòng sông không trở lại (Bảo Phúc phổ nhạc) (7), v.v.

106

Nhận tập thơ Ngọn lửa của người có kèm CD Nỗi nhớ mùa đông gồm 7 ca khúc phổ thơ Thảo Phương do tác giả biếu vào đầu năm 2003, tôi lặng nghe, lòng cứ xuyến xao

_________________

(4)   Phan Linh Đan chuyển ngữ, Saskia Halliwell hiệu đính.

(5)   Nguyên tác rút từ tập thơ Người đàn bà do đàn ông sinh ra của Thảo Phương (NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1994, trang 130).

(6)   Khát khao do Bảo Phúc phổ thơ Thảo Phương là ca khúc chính trong phim truyện Giã từ cát bụi với kịch bản của Nguyễn Trí Công chuyển thể từ truyện Xóm lò heo, Xuân Cường đạo diễn, Hãng phim truyền hình TP.HCM / Hochiminh City Television Film Studios / TFS sản xuất năm 1997.

(7)   Dòng sông không trở lại do Bảo Phúc phổ thơ Thảo Phương là ca khúc chính trong phim truyện Dòng đời gồm 52 tập, mỗi tập 30 phút, được Lê Cung Bắc viết kịch bản và đạo diễn, TFS sản xuất năm 2000.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Thơ và con

Thảo Phương có họ tên thật là Nguyễn Mai Hương, chào đời ngày thứ sáu 28-10-1949 nhằm mùng 7 tháng 9 năm Kỷ Sửu. Sinh quán của nữ thi sĩ này “hơi bị” rắc rối: giấy tờ tuỳ thân ghi Đoan Hùng, Phú Thọ; một số tài liệu cho rằng Gia Viễn, Ninh Bình; song đích thân Thảo Phương vẫn nói và viết:

Tôi sinh ra ở Việt Bắc, lớn lên nơi một đường phố yên tĩnh trông ra đê sông Hồng, bên cạnh Nhà hát lớn Hà Nội.

Thảo Phương

Thảo Phương

Thuở học trò, Nguyễn Mai Hương là nữ sinh trường phổ thông cấp 3 Hà Nội B. Niên khoá 1966 – 1967, Mai Hương học lớp 10 A, lớp cuối cấp, sơ tán tại xã Tốt Động, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (2). Đinh Kỳ Thanh, thầy giáo dạy văn thuở ấy, sau này chuyển sang nghề báo chí, hồi tưởng:

“Cô học sinh Mai Hương của tôi lại là một học sinh giỏi môn sinh vật của cô giáo tôi yêu. Hai cô rất thân thiết với nhau và về tuổi tác thì cũng không chênh nhau nhiều lắm: cô chừng 24, trò chừng 17. Họ cứ rủ rỉ tâm sự với nhau hoài và nhiều lúc Mai Hương còn nằm ngả trên chiếc giường đơn của cô giáo mà đọc sách hoặc ngâm thơ. Cô cũng biết rõ mối quan hệ của thầy và cô giáo thế nào nên hay tự nguyện làm liên lạc nhắn tin cho hai người cũng như hay bày tỏ những sự tán đồng vun vén cho mối tình của chúng tôi khi đó.

“Tuy nhiên gần tới kỳ thi tốt nghiệp của khối lớp 10, người yêu tôi phát hiện có những tập thơ bướm tôi chép tặng nàng bị thất lạc. Nàng băn khoăn nói với tôi: không biết em sơ hở để đâu mà làm rơi mất, thật buồn vì mất đi những kỷ vật quý và xấu hổ vì người ta sẽ đọc được những dòng anh viết tặng riêng em! Phần tôi, nhiều học sinh mượn sách đọc cũng “quên không trả lại” và tôi cũng buồn vì mất đi vài tập thơ sáng tác ruột rà!

“Rồi kỳ thi cũng trôi qua, các em học sinh ra trường phần lớn chuyển lên học đại học, một số được chọn đi du học nước ngoài. Nguyễn Mai Hương được chọn đi học tại trường Ngoại ngữ chuyên tu chuẩn bị đi học tiếp bên Đông Âu. Em tới chào tôi và cũng khoe một vài bài thơ mới tập viết. Tôi nói với em rằng phải dồn sức học cho tốt các môn khoa học cơ bản tại đại học mà mình yêu thích và chọn lựa, còn làm thơ chỉ là một phương cách để tự nâng đỡ tinh thần mình, người làm thơ hay đâu phải cứ lo học giỏi môn văn và nhất thiết phải chọn sống chết với nghề văn. Mai Hương nói em nhất quyết theo học môn sinh học song em cũng sẽ gắn bó với thơ như thầy đã gắn bó. Rồi em lên đường lúc nào tôi cũng không nhớ rõ. Chỉ biết rằng vào mùa xuân năm sau, khi tôi đã chuyển qua dạy học tại khoa Văn trường Sư phạm 10+3 Hà Nội, tôi nhận được phong thư đầu tiên của học sinh cũ Nguyễn Mai Hương gửi từ thủ đô Budapest của Hungary. Trong thư, sau những dòng thăm hỏi thầy cô thông thường, em đã ngỏ lời xin lỗi chúng tôi vì “đã trót lấy trộm mấy cuốn sổ chép thơ tình rất ướt át của thầy cô” năm trước. Rồi em cho hay em đang sung sướng, cảm động thế nào khi được đặt chân lên miền đất thiêng liêng của thi hào Petofi (3), được đứng giữa nhịp cầu nối thành phố cổ Buda và thành phố hiện đại Pest. Em còn gửi cho tôi cả một tấm hình chụp em khoác áo choàng cổ lông dày đứng trên chiếc cầu phủ tuyết trắng của thủ đô Budapest, một Paris thơ mộng ở Đông Âu.

“Những lá thư sau em tâm sự rằng em cũng đang yêu và cũng đang làm những bài thơ gửi gắm nỗi niềm của một người con gái sống xa gia đình, thiếu thốn nhiều tình cảm nhưng quá dư thừa về vật chất nếu so với cuộc sống trong chiến tranh của người Hà Nội. Đọc những vần thơ đầu của Mai Hương, lòng tôi cứ xốn xang, bởi thơ em lấp lánh tài hoa song cũng xuất hiện những nét đau khổ đang dày vò tâm trí người con gái đó. (…) Rồi một thời gian sau tôi biết nhà thơ nhỏ bé kia đã yêu cuồng yêu vội và dính dáng vào những chuyện lôi thôi do sự quy định của các tổ chức quan liêu chuyên quản lý lưu học sinh Việt Nam ở các xứ xa.”

Thảo Phương

Thảo Phương

Vướng rắc rối do tình ái, nên du học Hungary nửa chừng thì Nguyễn Mai Hương / Thảo Phương về nước. Năm 1975, tốt nghiệp cử nhân khoa Sinh học tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Giai đoạn 1975 – 1977, dạy trường cấp 3 Cẩm Phả ở tỉnh Quảng Ninh. Giai đoạn 1977 – 1983, dạy khoa Sinh học tại trường Cao đẳng Sư phạm Lâm Đồng nơi thành phố Đà Lạt. Giai đoạn 1983 – 1986, làm cán bộ thư viện trường Quản lý kinh tế trung ương tại TP.HCM rồi chuyển đến phòng Nghiên cứu di truyền thuộc Bệnh viện phụ sản Từ Dũ. Năm 1991, Thảo Phương làm phóng viên tạp chí Kiến Trúc Và Đời Sống.

Đã chia tay chồng, song Thảo Phương vẫn hết sức cố gắng để chăm lo 5 (năm) đứa con trai, khiến bạn bè nhại thơ Tú Xương để đùa giễu:

“Quanh năm lặn lội ở mom sông,

“Nuôi đủ năm con, dẫu vắng chồng.”

Đinh Kỳ Thanh cho biết tiếp: “Tôi thầm kiêu hãnh về tài thơ của học trò mình song lại cố nhắc cô đừng lận đận vì thơ mà quên chăm lo con cái khi tình cảm vợ chồng đổ vỡ, hoàn cảnh kinh tế gia đình có nhiều lúc lao đao. Thảo Phương cứ còng lưng và so đôi vai gầy gánh vác cái món nợ đời của mình với sự nhẫn nhục đầy cam chịu. Lúc cô nhận làm thêm công việc ở bệnh viện này hay phòng thí nghiệm kia, lúc theo đoàn làm phim đi quay tận các tỉnh xa, lúc lại mở quầy bán sách báo ở sân nhà hát nọ để kiếm thêm thu nhập từng đồng lẻ… Thế nhưng cô vẫn say mê sáng tác thơ. Và thơ với cô trở nên một sự cứu rỗi, một lý do để tồn tại trong đời.”

Thủ bút Thảo Phương

Thủ bút Thảo Phương

Trên báo Sài Gòn Giải Phóng chủ nhật 25-10-2009, Trầm Hương diễn tả tình thương và trách nhiệm của Thảo Phương dành cho các con: “Con người sẵn sàng chắp nửa cuộc đời còn lại cho thơ lại là một người mẹ với trái tim rất đỗi mềm yếu. Lật lại một quyển thơ in chung, tôi lặng người trước lời tự bạch của chị: Là phụ nữ, tôi mong muốn bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn giữ được nữ tính và tình yêu cuộc sống. Nữ tính?! Đằng sau tiếng cười đùa, những chuyến đi, những cuộc vui, chị nữ tính đến tận cùng. Chị là một bà mẹ yêu con đến mù quáng nhưng cũng hết sức kiên trì, can đảm giành giật con ra khỏi cám dỗ, cạm bẫy. Chị đau đớn, xót xa khi những ông thầy, bà thầy hành hạ con mình mà không biết đó là một đứa trẻ rất nhạy cảm, khao khát tình thương. Vì yêu con, mong muốn con có điều kiện ăn học, chị đã chấp thuận lời đề nghị phía bên chồng, gửi con út ra Bắc. Khi đón con về, chị uất ức rơi nước mắt vì chuyện học của cháu bị dang dở. Có lẽ chính vì sự đổ vỡ này mà chị mang mặc cảm không tròn bổn phận với con.”

Vậy mà Thảo Phương ít làm thơ về con. Bài thơ Bài hát của con thực chất lại là nữ thi sĩ bày tỏ tấc lòng u ẩn:

“Cha thương con vì con giống mẹ…”

Con lại dỗ dành tôi bằng bài ca yêu thích của mình.

_________________

(2)   Từ ngày 1-8-2008, tỉnh Hà Tây sáp nhập vào địa bàn thủ đô Hà Nội.

(3)   Sándor Petöfi, tiếng Hungary ghi Petőfi Sándor (1823 – 1849).

(Còn nữa)

Read Full Post »

Chân dung Thảo Phương (1949 – 2008)

Chân dung Thảo Phương (1949 – 2008)

T

ôi gặp Thảo Phương lần đầu vào tháng 10-1992 trong cơ quan thường trú các tỉnh phía Nam của báo Giáo Dục Và Thời Đại tại 35 Lê Thánh Tôn, quận 1, Sài Gòn. Trao tặng tôi tập thơ Bài ca buồn vừa in với bìa thể hiện chiều run rẩy bằng lăng tím nhợt (1), rồi chị mời bằng giọng Hà Nội trầm trầm:           

– Đi uống bia nhé, Phanxipăng.

Nhìn Thảo Phương uống bia và hút thuốc, nghe Thảo Phương cười đùa vô số chuyện, tôi vẫn nhận ra nữ thi sĩ ấy nổi bật một điều: cặp mắt u sầu.

Trong nhân sinh quan của Thảo Phương, hạnh phúc là bài toán cực kỳ khó giải. Và trong tư duy nghệ thuật của Thảo Phương, cái chết luôn là nỗi ám ảnh. Lật tập Bài ca buồn, thấy mấy dòng Thay đề tựa do Thảo Phương viết đã đề cập chuyện tử biệt, sinh ly:

Một cuộc tình đã vỡ, một ngày đã qua… sống hết mình cũng là tự chết để được Phục sinh…

Khép lại thi tập ấy, Thảo Phương in bài thơ Độc thoại thay lời bạt:

Trở về từ cõi khác – nhờ bám được vào trái tim mình – trôi dạt tới miền đất lạ: Thi ca… và bắt đầu một kiếp sống mới – một cuộc chơi mới.

Không có gì để mất – chẳng có gì để được… tôi nhập cuộc – chơi hết mình – hạnh phúc biết mình đang sống.

Và có lẽ – còn hạnh phúc hơn…

Bởi biết mình không sống mãi.

Sơn Nam với Thảo Phương

Sơn Nam với Thảo Phương

Lần khác, tôi nhâm nhi tách trà Bắc Thái với Thảo Phương trong toà soạn tạp chí Kiến Trúc Và Đời Sống ở 163 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3. Chị hỏi:

– Đọc thơ Thảo Phương, Phanxipăng thấy thế nào?

– Thấy có quá nhiều…

– Quá nhiều cái gì nhỉ?

– Dấu gạch ngang và dấu chấm lửng.

Lắm phen, dấu câu góp phần biểu lộ phong cách, thể hiện nỗi niềm. Với Thảo Phương, gạch ngang vừa ngắt quãng, vừa kết nối; còn chấm lửng / ba chấm do diễn đạt chưa hết ý, hoặc muốn ngân nga một từ ngữ, một thanh âm, thậm chí vì vấp va một khoảng trống.

Dần dà, tôi hiểu những lý do khiến Thảo Phương nhuốm lắm phiền muộn và lo toan. Hôn nhân tan. Tình yêu vỡ. Đông con. Kinh tế quá eo hẹp. Việc làm chẳng ổn định. Mà lại đam mê văn nghệ. Thế nhưng, Thảo Phương rất tự trọng. Chị sáng tác miệt mài, chăm chút từng dòng, từng trang. Không chỉ viết, Thảo Phương giành nhiều thời gian đọc. Không chỉ “kết” thơ văn, Thảo Phương còn quyến luyến âm nhạc, kịch, múa, hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, điện ảnh; lẽ tất nhiên chị quý chuộng ngành khoa học mà bản thân đã nhiều năm gắn bó: sinh học. Gặp người lạ, người ngoài giới văn chương và báo chí, Thảo Phương không bao giờ tiết lộ hoàn cảnh gay go. Thảo Phương cười, đôi mắt vẫn u sầu:

– Rên rỉ ư? Hiếm người thông hiểu để giúp mình. Trái lại, họ khinh nhờn nhà thơ, nhà văn, nhà báo. Thế thì tội mình. Mà cũng tội họ.

1 giờ khuya nọ, có việc cần nên tôi phóng xe chạy dọc đường Trần Quốc Thảo, quận 3. Phố xá vắng hoe. Bỗng giữa đường xuất hiện một phụ nữ đi bộ vòng vèo theo đồ hình sin: Thảo Phương. Gặp tôi, chị rất mừng, cất tiếng đẫm men:

– Kiếm chỗ nào còn bán bia, uống với nhau đến sáng, Phanxipăng ạ.

Thảo Phương nói, giật cục, nấc nghẹn:

– Buồn, ờ… thì ờ… phải uống. Càng uống, ứ… hừ… hừm… lại càng buồn!

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

_________________

(1)   Trong bài này, những chữ in nghiêng là thơ văn của Thảo Phương. Dòng vừa dẫn trích từ bài thơ Đà Lạt tím.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Từ một bài thơ ngắn (III)

Chùa Thiên Mụ trong đêm Festival Huế 2008. Ảnh: Phanxipăng

Chùa Thiên Mụ trong đêm Festival Huế 2008. Ảnh: Phanxipăng

3

Phải chăng bài ca xứ Huế ấy “trụi lụi” hai dòng như nhiều sách báo bấy lâu vẫn thường in?

Không. Trên tiến trình folklore hóa, cặp lục bát mà Phạm Quỳnh cải biên từ thơ Dương Khuê lại được dân chúng cố đô tiếp tục phát triển đầy sáng tạo.

Năm 1987, sau thời gian dài tổ chức sưu tầm điền dã, khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Huế đã tuyển chọn và ấn hành cuốn Văn học dân gian Bình Trị Thiên. Bài ca đang xét được ghi nhận đầy đủ như sau:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.
Thuyền về xuôi mái dòng Hương,
Biết đâu tâm sự đôi đường đắng cay?

Thật tuyệt! Nghe “rất Huế”. Nhưng dân gian vùng Huế mấy khi nói hoặc hát hò Biết đâu… Ghi cho đúng phương ngữ, phải Biết mô… mới y sì Huế rặt. Câu thứ tư lắm khi còn nghe:

Mần răng tâm sự đôi đường đắng cay?

Thuyền về xuôi mái dòng Hương. Ảnh: Phanxipăng

Thuyền về xuôi mái dòng Hương. Ảnh: Phanxipăng

Nguyên bài thơ Hà Nội tức cảnh của Dương Khuê có thể chất chứa nghĩa ẩn dụ nào đấy như Dương Thiệu Tống (sđd) phân tích. Song, trong thực tế, bài thơ đã được quần chúng “vô tư” đón nhận hệt một tác phẩm văn nghệ dân gian. Ấy là bài ca dao vận dụng thuần túy thể “phú”, bút pháp hoàn toàn tả cảnh theo phong cách hội họa thủy mặc tinh tế. Dĩ nhiên, đằng sau cảnh luôn thấp thoáng tình. Còn bài ca dao Phú Xuân – Thuận Hóa kết hợp “phú” với “hứng”, tả cảnh đồng thời bày tỏ tình rõ nét, thực chất mượn cảnh vật cốt gửi gắm nỗi niềm riêng chung.

Mỗi bài thơ tự thân đã là một tác phẩm hoàn chỉnh, lấp lánh vẻ đẹp riêng. Mỗi bài một vẻ, mười phân vẹn mười, khó bề lẫn lộn. ♥ 

Sông Hương nhìn từ tầng cao nhất nơi bảo tháp Phước Duyên. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương nhìn từ tầng cao nhất nơi bảo tháp Phước Duyên. Ảnh: Phanxipăng

Phanxipăng

Đã đăng các tạp chí:

  • Kiến Thức Ngày Nay số 451 (20-2-2003)
  • Văn Hiến Việt Tộc số 5 (tháng 5-2003)

Read Full Post »

Từ một bài thơ ngắn (II)

Chùa Thiên Mụ / Linh Mụ. Ảnh: Phanxipăng

Chùa Thiên Mụ / Linh Mụ. Ảnh: Phanxipăng

2

     Dựa theo Dương gia phả ký của giòng họ, tham khảo thêm Luận đề về Dương Khuê của Nguyễn Duy Diễn (Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, 1960), tiến sĩ Dương Thiệu Tống đã chép lại nguyên văn bài thơ Hà Nội tức cảnh trong thiên khảo luận Tâm trạng Dương Khuê và Dương Lâm (NXB Văn Học, Hà Nội, 1995) kèm nhận xét về câu lục mở đầu: “Có người đã sửa đổi câu thơ này là Gió đưa cành trúc la đà, nhưng có lẽ là sai vì làm mất đi ý nghĩa ẩn dụ của toàn câu mà chỉ có ý nghĩa tả cảnh mà thôi.”

     Người sửa đổi câu thơ cũng là một nhân vật nổi tiếng: Phạm Quỳnh (1892 – 1945). Song, cây bút họ Phạm không cố ý “biên tập” thơ tiền nhân. Ông chỉ mượn nửa bài thơ cũ, thêm bớt đôi chỗ, nhằm “tức cảnh” khác:

Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.

     Không còn phong cảnh Hà thành, mà rõ ràng là phong cảnh Huế. Bấy giờ là tháng 4-1918, lần đầu Phạm Quỳnh được ghé chốn Thần Kinh và sau đó thực hiện liền bút ký Mười ngày ở Huế để kịp đăng trên tạp chí Nam Phong (NXB Văn Học in lại thành sách, Hà Nội, 2001).

    Dưới cặp lục bát “tân trang” kia, Phạm Quỳnh viết thêm: “Cả cái hồn thơ của xứ Huế như chan chứa trong hai câu ca ấy. Chùa Thiên Mụ là một chốn danh lam, có cái tháp bảy tầng, làng Thọ Xương thì ở bờ bên kia. Đêm khuya nghe tiếng chuông chùa với tiếng gà gáy xa đưa văng vẳng ở giữa khoảng giời nước long lanh mà cảm đặt thành câu ca…”.

Mộ Phạm Quỳnh (1892 – 1945) tại Huế. Ảnh: Phanxipăng

Mộ Phạm Quỳnh (1892 – 1945) tại Huế. Ảnh: Phanxipăng

     Tương tự trường hợp Hà Nội tức cảnh của Dương Khuê, đôi câu lục bát của Phạm Quỳnh chẳng mấy chốc đã hòa vào “kho tàng văn học dân gian quý giá”. Mức độ phổ biến trở nên sâu rộng, một phần nhờ thiên hạ đua nhau… tranh luận quanh một địa danh. Tập I  Ca dao xứ Huế bình giải do Ưng Luận soạn thảo (Sở Văn hóa – Thông tin Thừa Thiên – Huế, 1991) phản ánh: “Không ngờ hai câu này đã gây nên nhiều cuộc bàn cãi sôi nổi, vì chùa Thiên Mụ ở Huế mà huyện Thọ Xương ở Hà Nội”.

     Ở Hà Nội, huyện Thọ Xương (1) thuở xưa kéo dài từ khu vực Nhà Thờ Lớn ra tới Đồn Thủy, tương đương hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng hiện nay. Còn ở Huế chẳng có làng nào tên Thọ Xương đối ngạn chùa Thiên Mụ qua sông Hương như Phạm Quỳnh nhầm tưởng. Thế nhưng, địa bàn đó có ngọn đồi từng mang tên Thọ Xương. Đó là đồi Long Thọ ở làng Nguyệt Biều, nay thuộc xã Thủy Biều, ngoại thành Huế (2).

    Đồi gò kia, theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, hồi trước được gọi “Thọ Khương Thượng Khố”, đầu niên hiệu Gia Long (Nhâm Tuất 1802) đổi thành “Thọ Xương”, đến năm Minh Mạng thứ V (Giáp Thân 1824) lại cải tên là “Long Thọ Cương” tức đồi Long Thọ. Bởi vậy, canh gà Thọ Xương hay Thọ Khương đều phù hợp. Giống như tiếng chuông Thiên Mụ hay Linh Mụ chẳng khác gì nhau. Chỉ xin thêm rằng nếu dùng “Thọ Khương” thì không những trỏ đồi Long Thọ mà còn trỏ một vạn đò cùng xóm chài ngụ cư tại làng Lương Quán, kế cận làng Nguyệt Biều.

Chùa Thiên Mụ. Ảnh: Phanxipăng

Chùa Thiên Mụ. Ảnh: Phanxipăng

_________________

(1)   Thọ Xương được các văn bản Hán Nôm ghi 壽昌. Hiện ở phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, có ngõ Thọ Xương mà thời thuộc Pháp mang tên ruelle Père Dronet.

(2)   Theo Nghị quyết 14/NQ-CP của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25-3-2010, xã Thuỷ Biều có 657,3 ha diện tích tự nhiên và 9.929 nhân khẩu chuyển thành phường Thuỷ Biều trực thuộc thành phố Huế.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »