Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2013

Đầu tiên Lê Văn Thiêm (II)

Phải sang: GS.TSKH. Lê Văn Thiêm, đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS.VS. Trần Đại Nghĩa

Phải sang: GS.TSKH. Lê Văn Thiêm, đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS.VS. Trần Đại Nghĩa

Lê Văn Thiêm bộc bạch: “Ngành toán phải đi tiên phong trong việc ứng dụng và cải cách triệt để trong sản xuất công nghiệp, nghĩa là phải thật sự bắt đầu trong cuộc cách mạng công nghệ để tăng năng suất lao động và sản phẩm cho xã hội”. Nghiên cứu công trình về ứng dụng hàm biến phức trong lý thuyết nổ, vận dụng phương pháp Lavrentiev, ông đã cùng các học trò tham gia giải quyết tốt một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam: tính toán nổ mìn buồng mỏ đá núi Voi lấy đá phục vụ xây dựng khu gang thép Thái Nguyên (1964); phối hợp với Cục Kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng lập bảng tính toán nổ mìn làm đường (1966); phối hợp với Viện Thiết kế của Bộ Giao thông vận tải tính toán nổ mìn định hướng để tiến hành nạo vét kênh nhà Lê từ Thanh Hoá đến Hà Tĩnh (1966 – 1967).

Năm 1966, Lê Văn Thiêm làm Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam. Năm 1970, Lê Văn Thiêm là Viện phó, rồi năm 1975 làm Viện trưởng Viện Toán học. Vì nhiều lý do, ông cũng chính là Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học (13). Lê Văn Thiêm còn là Tổng biên tập đầu tiên của hai tạp chí toán học Việt Nam là tạp chí Acta Mathematica Vietnamica và tạp chí Toán học nay mang tên Vietnam Journal of Mathematics. Ông cũng là một trong những người sáng lập các lớp chuyên toán và tạp chí Toán học và tuổi trẻ.

Mong muốn đóng góp thiết thực cho cộng đồng, Lê Văn Thiêm tiếp tục nghiên cứu những vấn đề ứng dụng thỏa đáng trong hoàn cảnh Việt Nam như tính toán nước thấm và chế độ dòng chảy cho các đập thuỷ điện Hòa Bình ở tỉnh cùng tên và thủy điện Vĩnh Sơn ở tỉnh Bình Định, tính toán chất lượng nước cho công trình thuỷ điện Trị An ở tỉnh Đồng Nai, v.v. Ông cùng các cộng tác viên Ngô Văn Lược, Hoàng Đình Dung, Lê Văn Thành, v.v., phối hợp giải quyết mỹ mãn những vấn đề ấy. Từ đó, Lê Văn Thiêm đề xuất một phương pháp độc đáo sử dụng nguyên lý thác triển đối xứng của hàm giải tích để tìm nghiệm tường minh cho bài toán thấm trong môi trường không đồng chất.

Năm 1980, Lê Văn Thiêm công tác tại Phân viện Khoa học Việt Nam tại TP.HCM. Cũng tại đô thị này, ngày 3-7-1991 nhằm 22 tháng 5 năm Tân Mùi, GS.TSKH. Lê Văn Thiêm trút hơi thở cuối.

GS. Hoàng Tụy – nhà toán học nổi tiếng nhờ phát kiến lĩnh vực tối ưu hóa toàn cục (14) trong toán ứng dụng – phát biểu: “Giá như GS. Lê Văn Thiêm cứ tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu ở Pháp hay ở Mỹ thì chắc chắn, với tài năng xuất sắc của mình, ông đã có thể có nhiều cống hiến to lớn hơn cho toán học và tên tuổi quốc tế của ông lẫy lừng hơn. Song ông đã lựa chọn trở về quê nhà, cùng chia sẻ khó khăn gian khổ với đồng bào, và thật sự, tất cả những gì ông đã cống hiến cho Tổ quốc và cộng đồng toán học Việt Nam chỉ có thể khiến chúng tôi vô cùng biết ơn ông và tự hào về ông”.

GS. Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu – một trong những học trò của GS. TSKH. Lê Văn Thiêm – nhận định: “Nhà toán học Lê Văn Thiêm, một nhà khoa học lỗi lạc, một người thầy trung thực, tận tuỵ và giàu lòng nhân ái, đã cống hiến toàn bộ tài năng, tâm hồn và sức lực cho nền khoa học Việt Nam. GS. đã vĩnh biệt chúng ta, song tâm hồn trong sáng và những đóng góp lớn lao của ông vẫn sống mãi trong sự nghiệp xây dựng nền khoa học Việt Nam hiện đại”.

Năm 2006, pho tượng bán thân Lê Văn Thiêm bằng đồng được trang trọng dựng ngay tại Viện Toán học Việt Nam ở Hà Nội.

Tượng đồng Lê Văn Thiêm tại Viện Toán học Việt Nam ở Hà Nội. Ảnh: Tú Uyên

Tượng đồng Lê Văn Thiêm tại Viện Toán học Việt Nam ở Hà Nội. Ảnh: Tú Uyên

Hiện thời, Hội Toán học Việt Nam trao giải thưởng Lê Văn Thiêm thường niên cho 1 hoặc 2 giáo viên dạy toán bậc THPT và 2-4 học sinh giỏi toán bậc THPT.

Năm 2011, kỷ niệm 6 thập niên trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập và phát triển, bao người lại thành tâm đề cao phương danh cùng sự nghiệp nghiên cứu lẫn giảng dạy rất xuất sắc của vị Hiệu trưởng đầu tiên là GS.TSKH. Lê Văn Thiêm. ♥

Phanxipăng cùng GS.TS. Trần Đăng Xuyền - Hiệu phó trường Đại học Sư phạm Hà Nội - bên tượng chân dung GS.TSKH. Lê Văn Thiêm do điêu khắc gia Hà Trí Dũng tạc và dựng trước Nhà Hiệu bộ ngày 5-10-2011. Ảnh: Đỗ Xuân Thảo

Phanxipăng cùng GS.TS. Trần Đăng Xuyền – Hiệu phó trường Đại học Sư phạm Hà Nội – bên tượng chân dung GS.TSKH. Lê Văn Thiêm do điêu khắc gia Hà Trí Dũng tạc và dựng trước Nhà Hiệu bộ ngày 5-10-2011. Ảnh: Đỗ Xuân Thảo

____________

(13)  http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/286/vien-toan-o-tuoi-40—.html

(14)  Global optimization.

Phanxipăng thăm bác sĩ Lệ Hồng, phu nhân của GS.TSKH. Lê Văn Thiêm. Ảnh: Bảy Tiền Giang

Phanxipăng thăm bác sĩ Lệ Hồng, phu nhân của GS.TSKH. Lê Văn Thiêm. Ảnh: Bảy Tiền Giang

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 951 (12-9-2011)

Read Full Post »

Đầu tiên Lê Văn Thiêm (I)

Lê Văn Thiêm là nhân vật quá hân hạnh được gắn bó với nhiều mốc “đầu tiên”: người Việt Nam đầu tiên nhận bằng tiến sĩ toán, người đầu tiên khai sinh toán học đương đại Việt Nam, Viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học Việt Nam, Chủ tịch đầu tiên của Hội Toán học Việt Nam, Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, v.v.

GS.TSKH. Lê Văn Thiêm (1918 - 1991)

GS.TSKH. Lê Văn Thiêm (1918 – 1991)

C

hào đời ngày 29-3-1918 nhằm 17 tháng 2 năm Mậu Ngọ tại làng Lạc Thiện, xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, Lê Văn Thiêm là con út của ông bà Lê Văn Nhiễu – một gia đình sẵn truyền thống khoa bảng. Lê Văn Thiêm có 12 anh chị ruột, mà anh cả là Lê Văn Kỷ – tiến sĩ khoa thi cuối cùng của nền giáo dục phong kiến vào năm Kỷ Mùi 1919, niên hiệu Khải Định thứ tư (1).

Năm 1930, song thân đều khuất bóng, Lê Văn Thiêm vào Bình Định tựa nhờ anh cả hành nghề thuốc. Tại đó, Lê Văn Thiêm học Collège de Quy Nhơn (2). Năm 1937, thi Cao đẳng tiểu học (3), Lê Văn Thiêm đỗ đầu. 3 tháng sau, Lê Văn Thiêm thi đỗ tú tài phần 1 (4), rồi thi đỗ tú tài toàn phần vào năm sau. Năm 1938, ra Hà Nội,  Lê Văn Thiêm theo học lớp PCB (Physique, Chimie, Biologie: Lý, Hóa, Sinh), năm sau thi đỗ thứ nhì nên được nhận học bổng du học Pháp.

Năm 1939, Lê Văn Thiêm trở thành sinh viên khoa Toán tại École Normale Supérieure de Paris (Đại học Sư phạm Paris). Chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, khiến Lê Văn Thiêm bị gián đoạn đèn sách. Đến năm 1943, ông mới tiếp tục việc học và năm sau nhận bằng thạc sĩ toán. Được học bổng của quỹ Alexander von Humboldt, Lê Văn Thiêm sang Đức làm luận án tiến sĩ toán tại Đại học Göttingen do nhà toán học Hans Wittich hướng dẫn. Luận án Về việc xác định kiểu của một diện Riemann mở đơn liên được Lê Văn Thiêm bảo vệ thành công ngày 4-4-1946. Ngày 8-4-1946, Lê Văn Thiêm trở thành người Việt Nam đầu tiên cầm trong tay bằng tiến sĩ toán.

Bằng tiến sĩ toán 1946 của Lê Văn Thiêm được Đại học Göttingen (Đức) cấp ngày 8-4-1946 với dòng chữ Lac Thien / Annam

Bằng tiến sĩ toán của Lê Văn Thiêm được Đại học Göttingen (Đức) cấp ngày 8-4-1946 với dòng chữ Lac Thien / Annam

Mở rộng nội dung luận án tiến sĩ, Lê Văn Thiêm viết bài Một số kết quả về vấn đề kiểu của các mặt Riemann bằng tiếng Đức và đăng tạp chí chuyên đề quốc tế Commentarii Mathematici Helvertici năm 1947. Công việc đó khiến Lê Văn Thiêm trở thành “người khai sinh toán học Việt Nam đương đại”  theo nhận định của GS.TSKH. Hà Huy Khoái (5).

Năm 1948, Lê Văn Thiêm đại diện Việt Nam qua Ba Lan tham dự Hội nghị hòa bình thế giới. Cùng năm đó, tại Pháp, nhờ sự hướng dẫn của chuyên gia hàng đầu về hàm giải tích là giáo sư Georges Valiron, Lê Văn Thiêm bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học quốc gia (6) về toán với nhan đề Về bài toán ngược phân phối giá trị các hàm phân hình.

Năm 1949, Lê Văn Thiêm quyết định thôi giảng dạy tại Đại học Zurich (Thụy Sĩ), trở về Việt Nam tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc. Máy bay đưa ông rời Paris đến Bangkok, thủ đô Thái Lan. Từ đó, theo đường bộ xuyên qua Campuchia, ông vào rừng U Minh, công tác tại Sở Giáo dục Nam Bộ từ ngày 19-12-1949. Năm 1951, Chính phủ điều động Lê Văn Thiêm ra Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới. Tại đấy, ông gặp những trí thức từ Pháp hồi hương như mình: Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, v.v.

Ngày 11-10-1951, theo Nghị định 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam, trường Sư phạm Cao cấp được thành lập. Đó chính là trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay (7). GS.TSKH. Lê Văn Thiêm trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của trường này giai đoạn 1951 – 1956.

Nhiệm kỳ 1951 – 1954, GS.TSKH. Lê Văn Thiêm đồng thời làm Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đại học Khoa học cơ bản (8). Giai đoạn 1957 – 1970, Lê Văn Thiêm được cử giữ chức vụ Phó hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, kiêm Chủ nhiệm khoa Toán trường này (9).

Giai đoạn 1956 – 1980, Lê Văn Thiêm còn làm đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện Liên hợp nghiên cứu nguyên tử Dubna (10), Liên Xô.

Năm 1956, Lê Văn Thiêm lập gia đình với Võ Thị Lệ Hồng. Đó là một phụ nữ thuỳ mị gốc Châu Thành (11) (Long An), chào đời năm Giáp Tuất 1934, bấy giờ làm nữ hộ sinh ở Hòn Gai (12) (Quảng Ninh). Hai vợ chồng được 2 con: năm 1959 sinh gái đầu là Lê Minh, năm 1963 sinh trai sau là Lê Hồng Phi.

Lê Văn Thiêm cùng phu nhân Võ Thị Lệ Hồng và ái nữ Lê Minh

Lê Văn Thiêm cùng phu nhân Võ Thị Lệ Hồng và ái nữ Lê Minh

____________

(1)   Có thể tham khảo sách Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn của nhiều soạn giả (Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế & NXB Thuận Hóa, Huế, 2000).

(2)   Nay là trường THPT Quốc Học ở Quy Nhơn.

(3)   Tương đương tốt nghiệp Trung học cơ sở ngày nay.

(4)   Còn gọi tú tài bán phần, tương đương lớp 11 ngày nay.

(5)   Tham luận On the contemporary mathematics in Vietnam của Hà Huy Khoái tham dự Hội nghị quốc tế về lịch sử toán học được tổ chức tại Tokyo, thủ đô Nhật Bản, năm 2008. Trần Lưu đã dịch sang tiếng Việt, in trong kỷ yếu Trại hè toán học 2009 (Huế, 2009).

(6)   Docteur d’Etat.

(7)   Tên trường trải qua thời gian 1951 – 1954 là trường Sư phạm Cao cấp, 1954 – 1956 gồm trường Đại học Sư phạm Khoa học và trường Đại học Sư phạm Văn khoa, 1956 – 1966 là Đại học Sư phạm Hà Nội, 1966 – 1993 là Đại học Sư phạm Hà Nội I, 1993 đến nay là Đại học Sư phạm Hà Nội.

(8)   http://www.hus.edu.vn/?portal=home&obj=intro_about&id=757&cache=WQUJ2urSTA4jcesRKiUFwv6YH5TSwYeH7KAhJzw8q+bTprl48ql66g

(9)   Tên trường trải qua thời gian 1946 – 1956 là Đại học Khoa học cơ bản, 1956 – 1993 là Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1993 đến nay là Đại học Khoa học tự nhiên trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

(10)  Dubna, tiếng Nga ghi Дубна, là thành phố hiện thuộc Liên bang Nga, cách thủ đô Matxkva 125km.

(11)  Là nơi hai dòng sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây hợp lưu, huyện Châu Thành có huyện lỵ là thị trấn Tầm Vu.

(12)  Nay thuộc TP Hạ Long.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Lạm bàn về một thuật ngữ y khoa (II)

Phân lập hay phân liệt?

Thuật ngữ schizophrenia bằng tiếng Latinh cùng nhiều ngôn ngữ khác (như các thứ tiếng Anh, Ý, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Na Uy, v.v.), schizophrénie bằng tiếng Pháp vốn được nhà tâm thần học người Thuỵ Sĩ là Eugen Bleuler (1857 – 1939) đề xuất vào năm 1911 sau khi phân tích những đặc điểm chủ yếu của bệnh này. Mặc dù, mãi đến tận ngày nay, căn nguyên bệnh nọ vẫn chưa được khám phá đầy đủ, song các nhà chuyên môn vẫn có thể định bệnh qua các triệu chứng rõ rệt: đây là một bệnh tâm thần nặng, tiến triển chậm, làm biến đổi nhân cách người bệnh theo kiểu phân liệt – tức là làm cho họ dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài và thu dần vào thế giới bên trong (tự kỷ); mất hài hoà giữa hành vi, lời nói, tình cảm, tư duy; bề ngoài có vẻ thờ ơ nhưng che đậy một sự nhạy cảm có khả năng bột phát bất ngờ; nhiều hoang tưởng (3) khiến họ có hành vi lập dị, khó hiểu, và có những ngôn ngữ (viết, vẽ, nhạc, v.v.) được kết cấu theo dạng thức mới lạ, độc đáo, sáng tạo, mang tính nghệ thuật hoặc triết lý; khả năng vận động ngày một sút kém, có thể đi đến cứng đờ, kết hợp với những cơn phá phách, tấn công người khác, hoặc tự sát. Theo thống kê, bệnh này chiếm 1% dân số và chiếm 25% tổng số bệnh nhân tâm thần nhập viện.

schizophrenia

Về căn bệnh “kỳ quái” đang bàn, y văn thế giới ghi nhận công trình nghiên cứu đầu tiên vào năm 1857 do nhà tâm thần học người Pháp Morel thực hiện. Sơ khởi, Morel gọi bệnh sa sút sớm (démence précore), rồi gọi bệnh thanh xuân (hébéphrénie). Đến khi Bleuler đề xuất tên gọi schizophrenia (schizo: phân liệt, phrenia: tâm thần) thì thuật ngữ này nhanh chóng được thế giới tán thành.

Ấy là đối với y học Tây phương hiện đại, chứ Đông y cổ truyền tự xửa xưa đã quan tâm tìm hiểu bệnh này và xếp nó đầu bảng “tứ chứng nan y”: phong, lao, cổ, lại. Phong đây chính là “điên”,”mất trí”, “loạn tâm” mà dân gian thường nói, ghi chữ Hán thì 瘋, chứ chẳng phải bệnh phung hủi như đông người ngộ nhận (4).

Gần đây, trong bảng phân loại DSMIII-R của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ, bệnh này được đánh mã ở chữ số thứ 5, từ 295.1IX đến 295.9X. Còn trong bảng phân loại quốc tế về các rối loạn tâm thần mang tên ICD-10 do Tổ chức Y tế thế giới (5) ban hành năm 1992, bệnh này được xếp vào mã F20 gồm 10 thể khác nhau.

Hầu hết tài liệu chuyên môn bằng tiếng Việt bấy lâu nay đều dịch thuật ngữ schizophrenia / schizophrénie tâm thần phân liệt hoặc bệnh phân liệt. Nhiều thư tịch đã chuyển ngữ thế: Giáo trình Tâm thần học của GS. Nguyễn Việt (Đại học Y khoa Hà Nội, 1973); Tâm thần học của Kerbicov, Korkina, Nadjarob, Cnejnevski, do các BS. Phạm Văn Đoàn và Nguyễn Văn Siêm dịch sang tiếng Việt (NXB Y Học, Hà Nội, 1980); Tâm thần học của PGS. Trần Đình Xiêm (sđd); Từ điển tâm lý của BS. Nguyễn Khắc Viện (sđd); Thực hành tâm thần học cho nhân viên y tế và y tá của J. M. Cushnie và D. I. Ben Tovim, do Bệnh viện Tâm thần Quảng Nam – Đà Nẵng dịch (NXB Đà Nẵng, 1993), v.v. Hàng loạt công trình nghiên cứu khoa học về căn bệnh này do các nhà chuyên môn thực hiện cũng sử dụng thuật ngữ tâm thần phân liệt. Chẳng hạn loạt công trình của các BS. Lê Văn Ninh (1990); Hoàng Bộ và Trương Đình Chính (1992); Bảo Hùng (1992); Trịnh Xuân Khánh, Nguyễn Thọ, Trần Vạn Châu, Mai Lê Hiệp (1993), v.v.

Như vậy, nhà báo, nhà đài đã sử dụng thuật ngữ tâm thần phân liệt đúng như giới chuyên môn dùng. Vấn đề đặt ra: thuật ngữ ấy, liệu các chuyên gia dùng đã chính xác chưa? Cụ thể là nên xài từ phân lập hay phân liệt?

Phân, chữ Hán ghi 分, gồm bát với đao, nghĩa “chia ra” thì ai cũng biết.

Phân lập 分立 là chia tách thành các phần riêng biệt, mà các phần đó không phụ thuộc nhau. Vd: phân lập công quyền.

Phân liệt 分裂 lại là chia sẻ (déchirer / démembrer), nhưng các thành phần vừa đối lập nhau, vừa phụ thuộc lẫn nhau trong một thể thống nhất không toàn vẹn. Chữ liệt ở đây chẳng phải “tê liệt” với “bại liệt”, mà đích thị “rách ra”, “chẻ ra” như Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh ghi rõ.

schizophrenia 2s

Bệnh schizophrenia / schizophrénie với những triệu chứng đặc trưng đã kê, dịch bằng cụm từ phân liệt hẳn chuẩn mực hơn. Điều băn khoăn là nên gọi tâm thần phân liệt như thuật ngữ vẫn được y giới lẫn báo giới sử dụng bấy nay, hay cần đổi lại thành tâm bệnh phân liệt như BS. Nguyễn Khắc Viện từng đề xuất? Nếu theo ý kiến của BS. Viện thì không chỉ đổi cách gọi một căn bệnh, mà phải chỉnh sửa tất tần tật thuật ngữ tâm thần học liên quan. Giải pháp này chẳng tối ưu.

Vì thiết tha yêu quý tiếng mẹ đẻ, lại thêm công việc thường xuyên gắn bó chữ nghĩa, nên dẫu không rành rẽ nghề y, tôi vẫn mạo muội lạm bàn về một thuật ngữ tâm thần học trong kiến văn quá ư hạn hẹp của mình. Nếu bài này có điều gì chưa đúng, chưa hay, tôi tha thiết mong TS. Lê Trọng Bổng cùng quý bậc thức giả gần xa hoan hỷ chỉ bày. Xin đa tạ. ♥

__________________________________

(3)  Hoang tưởng được tiếng Latinh ghi delirium, tiếng Pháp ghi délire, tiếng Anh ghi delusion, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha ghi delirio, tiếng Bồ Đào Nha ghi delírio, tiếng Ba Lan ghi urojenia, tiếng Đức ghi Wahn, tiếng Hoà Lan ghi waan, tiếng Đan Mạch và tiếng Na Uy ghi vrangforestillinger, tiếng Ukraina ghi марення, tiếng Nga ghi бред.

(4)  Nhằm tìm hiểu nghĩa chính xác của phong, lao, cổ, lại, cùng sự phân biệt phong với phung, mời quý bạn đọc tham khảo bài Hàn Mạc Tử mất vì bệnh gì? của Phanxipăng từng đăng các tạp chí Tài Hoa Trẻ 170 (1-8-2001) ~ 171 (8-8-2001), Thế Giới Mới 729 (9-4-2007) ~ 730 (16-4-2007), Văn Nghệ Bình Định 69 (11-2007).

(5)  Là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Y tế thế giới được ghi tiếng Anh thành World Health Organization (WHO), và tiếng Pháp thành Organisation Mondiale de la Santé (OMS).

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ 131 (1-11-2000)

Read Full Post »

T

rong chuyên mục “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” trên tạp chí Tài Hoa Trẻ 127 (4-10-2000), tiến sĩ (TS) y học Lê Trọng Bổng có bài Nên thống nhất một số thuật ngữ trên báo, đài chỉ ra rằng một số thuật ngữ y khoa bấy lâu bị báo giới dùng sai “do tam sao thất bổn”. Trường hợp cụ thể mà bài báo ấy vạch đầu tiên là tên bệnh tâm thần phân liệt. Theo TS. Lê Trọng Bổng, thuật ngữ này cần phải được gọi một cách chính xác bằng cụm từ tinh thần phân lập, bởi “ở đây chẳng có gì ‘liệt’ cả” (!?).

Là một người viết văn và làm báo, từng đôi lần thâm nhập vào các bệnh viện tâm thần để tìm hiểu thực tế nhằm khai thác tư liệu rồi đề cập về căn bệnh “cực kỳ… cục” này (1), tôi xin mạn phép trao đổi đôi chút quanh thuật ngữ vừa nêu.

Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 tại Thường Tín, Hà Nội. Ảnh: Đăng Định

Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 tại Thường Tín, Hà Nội. Ảnh: Đăng Định

Tinh thần hay tâm thần?

Tinh thần, chữ Hán ghi 精神, tiếng Pháp là esprit / moral / sens, tiếng Anh là spirit. Trong tiếng Việt phổ thông hiện đại, tuỳ ngữ cảnh mà từ tinh thần có nghĩa:

1. Tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm, v.v., những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người. Ví dụ (Vd): Đời sống tinh thần phong phú.

2. Những thái độ, ý định hướng cho hoạt động, quyết định hành động của con người (nói tổng quát). Vd: Tinh thần đấu tranh kiên quyết.

3. Sự quan tâm thường xuyên trên cơ sở những nhận thức nhất định. Vd: Tinh thần trách nhiệm.

4. Cái sâu sắc nhất, cốt yếu nhất của một nội dung nào đó. Vd: Theo tinh thần của nghị quyết.

Những nghĩa kèm ví dụ trên đây được dẫn từ Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên (Trung tâm Từ điển ngôn ngữ xuất bản, Hà Nội, 1992).

Trong Hán-Việt từ điển (NXB Trường Thi tái bản, Sài Gòn, 1957), học giả Đào Duy Anh cắt nghĩa gọn hơn: “Tinh thần: Linh hồn. Gọi chung những cái thuộc về vô hình, trái với vật chất là hữu hình.”

Còn tâm thần, chữ Hán ghi 心神. Tâm thần chính là sự rút gọn một từ ghép đẳng lập: tâm lý + thần kinh. Tâm thần học (2) là cụm từ lâu nay được dùng để chỉ một bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu quy luật tâm lý diễn biến trên cơ sở hoạt động của hệ thần kinh. Hầu hết giáo trình tâm thần học được ấn hành trong lẫn ngoài nước – chẳng hạn Tâm thần học của nhiều soạn giả Xô Viết (NXB Mir, Matkva, 1980), Tâm thần học của PGS. BS. Trần Đình Xiêm (Đại học Y Dược TP.HCM tái bản lần 4, 1995) – đều xác định: “Tâm thần học là bộ môn trong y học có nhiệm vụ nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng, bệnh nguyên, bệnh sinh các bệnh tâm thần, nghiên cứu các biện pháp phòng và chữa các bệnh này.”

Các khoa, trung tâm và bệnh viện, cùng các tổ chức đảm trách nhiệm vụ kia đều ghi rõ từ “tâm thần” nơi biển hiệu. Vd hàng loạt: Ngày Sức khoẻ tâm thần thế giới 10-10 thường niên; Hội Tâm thần thế giới; Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 ở Thường Tín, Hà Nội; Bệnh viện Tâm thần trung ương 2 tức Nhà thương Điên Biên Hoà, Đồng Nai; Viện Sức khoẻ Tâm thần trực thuộc Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội; Bệnh viện Tâm thần Hà Nội; Bệnh viện Tâm thần TP.HCM tức Nhà thương Chợ Quán cũ; Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ; Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng; Bệnh viện Tâm thần Nam Định; Bệnh viện Tâm thần Nghệ An; Bệnh viện Tâm thần Hoà Khánh ở TP. Đà Nẵng; Bệnh viện chuyên khoa Tâm thần tỉnh Khánh Hoà; Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang; Trung tâm Tâm thần Quảng Ninh; Trung tâm Điều dưỡng bệnh nhân tâm thần Thủ Đức ở TP.HCM; v.v. Như thế, căn bệnh mà các cơ quan ấy nghiên cứu và điều trị bấy lâu nay là “tâm thần”, nếu thay bằng “tinh thần” liệu thuận lợi hay dễ gây nhầm lẫn?

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Trường

Bệnh viện Tâm thần tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Nguyễn Trường

Cũng cần thêm rằng BS. Nguyễn Khắc Viện từng nêu nhận xét rằng trong dân gian ngày nay, từ “tâm thần” đồng nghĩa với “điên” nên “từ này rất khó sử dụng, ý nghĩa nhiều khi hàm hồ”. Biên soạn Từ điển tâm lý (NXB Ngoại Văn, Hà Nội, 1991, trang 244), BS. Nguyễn Khắc Viện phát biểu: “Đề nghị bỏ từ tâm thần trong sách vở chuyên khoa. Chỉ tính chất bình thường thì dùng tâm lý; nói về bệnh, dùng tâm bệnh học hay tâm bệnh lý.”

__________________________________

(1)  Đây là những bài của Phanxipăng đề cập về bệnh tâm thần:

  • 7 ngày ở “Thái Bình Điên Qấc” đăng tạp chí Thế Giới Mới 189 (17-6-1996) ~ 191 (1-7-1996); rồi in vào sách Cốt cách mùa xuân của Phanxipăng (NXB Thuận Hoá, Huế, 1997).
  • Một cõi tâm thần đăng báo Dân Trí 32 ~ 38 (1996).

(2)  Tâm thần học được tiếng Pháp và tiếng Hoà Lan cùng tiếng Đức ghi neuropsychologie, tiếng Anh ghi neuropsychology, tiếng Tây Ban Nha ghi neuropsicología, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Ý ghi neuropsicologia, tiếng Latinh ghi neuropsychologi, tiếng Ba Lan ghi neuropsychologia, tiếng Đan Mạch ghi neuropsykologi, tiếng Na Uy ghi nevropsykologi, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ ghi nöropsikoloji, tiếng Ukraina ghi нейропсихологія, tiếng Nga ghi нейропсихология.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Sinh năm Quý Tị 1953 tại Đà Lạt, hiện sống tại Sài Gòn, Đức Huy đã có hơn 30 năm cầm máy ảnh. Dù chụp nhiều thể loại, song nét tài hoa của nghệ sĩ nhiếp ảnh Đức Huy bộc lộ rõ nhất ở mảng ảnh hóa trang mặt trong nghệ thuật tuồng cổ (1).

Đức Huy với trẻ em trên đường săn ảnh

Đức Huy với trẻ em trên đường săn ảnh

K

ể từ năm 1991, qua cuộc triển lãm ảnh cá nhân của Đức Huy được tổ chức tại Hội Nhà báo TP.HCM với đề tài Hóa trang mặt trong tuồng cổ, công chúng bắt đầu biết đến một tay máy tài hoa, sung sức. GS.TS. Lê Ngọc Trà nhận xét: “Những bức ảnh về hóa trang mặt trong hát bội của Đức Huy đã tạo ra một kiểu ảnh chân dung mới, độc đáo. Nó thể hiện một cái nhìn trí thức, một nhãn quan có văn hóa và trên hết là tình yêu và lòng say mê của tác giả đối với nghệ thuật sân khấu dân tộc.”

Bộ ảnh chụp chân dung đào, kép hát bội đã thực sự gây bất ngờ cho người thưởng ngoạn. Đường nét, màu sắc trên từng khuôn diện, cộng với lắm kiểu mão (mão cửu long, mão cửu phụng, mão bình thiên, mão kim khôi, v.v.) và lắm kiểu râu ria (râu quắn, râu đen dài, râu đen ba chòm, râu rìa đỏ, râu rìa bạc, v.v.) đủ để tạo nên một ngôn ngữ sống động, đặc trưng, chẳng lẫn vào đâu được.

Điều đặc sắc dễ thấy là so với sân khấu kịch truyền thống của một số quốc gia khác, như kịch Nō của Nhật Bản và vũ kịch Khon của Thái Lan chẳng hạn, thì tuồng Việt Nam đòi hỏi hóa trang mặt một cách trực tiếp. Nghĩa là diễn viên tuồng không đeo mặt nạ, mà dùng màu vẽ thẳng lên da mặt mình. Điều này tương tự kinh kịch (2) của Trung Hoa.

Với tuồng / hát bội / hát bộ, địa vị cùng tính cách nhân vật sẽ quy định từng kiểu hóa trang mặt khác nhau. Mặt trắng hồng là kép văn chính diện. Mặt đỏ là kép văn pha võ. Mặt mốc là kép nịnh. Mặt rằn ri là phường hung bạo. Mặt có nhiều đường cong quẹo là quân gian trá. Chỉ vai kép mới vẽ mặt, còn vai đào thì chỉ tô điểm bình thường – ngoại trừ Đào Tam Xuân và Chung Vô Diệm.

Hoá trang mặt tuồng. Ảnh: Đức Huy

Hoá trang mặt tuồng. Ảnh: Đức Huy

Nhiếp ảnh gia Đức Huy cười :

– Tuồng từng được xem là “quốc kịch” của Việt Nam ta, ấy thế mà khi tôi triển lãm ảnh hóa trang mặt tuồng, nhiều người – nhất là thế hệ trẻ – giật mình : “Ô hay ! Hóa ra lâu nay chúng ta chả biết gì về một bộ môn sân khấu truyền thống của dân tộc!”.

NSƯT Đinh Bằng Phi khen: “Công trình chụp ảnh nghệ thuật hát bội qua các mặt nhân vật, với những trình thức trong biểu diễn, của Đức Huy đã đóng góp rất lớn cho việc phổ biến, duy trì và phát huy bộ môn sân khấu truyền thống Việt Nam.”

Hữu Hoà vai Đơn Hùng Tín. Ảnh: Đức Huy

Hữu Hoà vai Đơn Hùng Tín. Ảnh: Đức Huy

Hữu Hoà vai Tào Tháo. Ảnh: Đức Huy

Hữu Hoà vai Tào Tháo. Ảnh: Đức Huy

Đức Huy tiếp tục chụp ảnh mặt tuồng và liên tục triển lãm tại nhiều địa phương như Bến Tre (1992), Long An (1993), Vũng Tàu (1994). Một số bức đã đem lại cho anh các giải thưởng trong và ngoài nước, như giải ACCU (3) năm 1998, giải “Di sản văn hóa thế giới Hemeiji” của Nhật năm 1999. Nhân dịp Festival Huế 2000, Đức Huy mở triển lãm ảnh mặt tuồng tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế. Đến dự triển lãm, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm  – lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Văn hóa & Thông tin  – ghi vào sổ cảm tưởng: “Một triển lãm rất đáng ngạc nhiên và thú vị.”

Nguyễn Hoàn vai Tử Hà Tiên. Ảnh: Đức Huy

Nguyễn Hoàn vai Tử Hà Tiên. Ảnh: Đức Huy

Gặp tôi nơi tiền sảnh khách sạn Century bên bờ sông Hương dịp ấy, Đức Huy tâm sự :

– Tôi mê tuồng từ tấm bé. Lớn lên, dù theo nghề nhiếp ảnh, nhưng tôi vẫn thường trăn trở: vì sao sân khấu tuồng bây giờ ngày càng vắng khán giả? Giới trẻ thời nay chưa hiểu biết về hát bội là một lý do. Lý do khác không kém phần quan trọng, là chúng ta chưa chỉ ra cái hay, cái đẹp của hát bội. Vì thế, bằng chút tài mọn, tôi cố gắng góp phần quảng bá cho sân khấu dân tộc thông qua các bức ảnh chụp mặt tuồng. Để sáng tác loạt ảnh này, tôi thường đến Nhà hát Nghệ thuật hát bội Sài Gòn cùng ăn, cùng ở với các diễn viên suốt thời gian dài. Thú thật, chụp ảnh mặt tuồng, càng chụp càng ham, đến nỗi nhiều đêm ngủ, tôi toàn mơ thấy nào Đào Phi Phụng, nào Lã Bố, nào Điêu Thuyền, nào Bao Công, nào Quách Hòe, nào Hồ Nguyệt Cô.

Hữu Nhi vai Võ Tam Tư. Ảnh: Đức Huy

Hữu Nhi vai Võ Tam Tư. Ảnh: Đức Huy

Nhà thơ, nghệ sĩ sáo trúc gốc Huế là Tô Kiều Ngân phát biểu :

– Thật thú vị khi suốt đêm ngày được đùa chơi với những bộ mặt đủ kích cỡ, đủ tính cách: người trung, kẻ nịnh, bậc quân tử, đứa tiểu nhân. Ngẫm kỹ, thấy gì? Thấy mặt tuồng cũng là mặt người, mặt đời.

Họa sĩ Đặng Thị Khuê (Hà Nội) nói :

– Ngoài giá trị nghệ thuật độc lập của tác phẩm, ảnh Đức Huy còn giúp cho những người làm công việc sáng tác như tôi hiểu thêm về một cội nguồn văn hóa.

Họa sĩ Lê Sỹ Hoàng, nhà thiết kế thời trang ở Sài Gòn, nhìn nhận :

– Được chiêm ngưỡng lại cách hóa trang trong tuồng cổ qua ảnh Đức Huy, tôi bỗng giật mình nhìn lại mình. Ông cha ta xưa đã đạt đến đỉnh cao của hội họa biểu hiện. Tôi tự cảm thấy mình nhỏ bé quá, và cần bắt đầu lại từ nhiều thứ.

Kim Thanh vai Hồ Nguyệt Cô hoá cáo. Ảnh: Đức Huy

Kim Thanh vai Hồ Nguyệt Cô hoá cáo. Ảnh: Đức Huy

Đến với các đợt triển lãm của Đức Huy, có rất đông khách nước ngoài thuộc nhiều quốc tịch: Pháp, Nhật, Anh, Ý, Úc, Thụy Điển, Hà Lan, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, v.v. Đây là lời của M.Bugdell, một du khách Pháp:

– Xét trên những khía cạnh nhất định, ví như tính tượng trưng, cách điệu, ước lệ, tuồng cổ Việt Nam quá hiện đại so với sân khấu thế giới. Đó là di sản cực kỳ quý báu mà hậu thế cần bảo tồn và khai thác. Tôi đọc được thông điệp ấy từ những tấm ảnh của Đức Huy.

Ra bộ bê. Ảnh: Đức Huy

Ra bộ bê. Ảnh: Đức Huy

Tết Nhâm Ngọ 2002, trong studio gần Đại học Vạn Hạnh cũ, nay là cơ sở 2 của Đại học Sư phạm TP.HCM, Đức Huy vẫn say mê ngắm nghía những bức ảnh tuồng mới chụp. Ngắm, rồi cắt cúp, rồi lồng ghép.

Mời tôi ly rượu đầu xuân, Đức Huy bày tỏ :

– Sắp tới, nếu có điều kiện, tôi sẽ đến Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định) và Đoàn Nghệ thuật truyền thống Huế để sáng tác ảnh. Không chỉ chụp ảnh hóa trang mặt, tôi còn dự tính chụp những cảnh tiêu biểu trong lẫn ngoài sân khấu tuồng, nhằm minh họa cho bộ sách giới thiệu những nét kỳ thú của nghệ thuật hát bội Việt Nam với đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế. Phanxipăng hợp tác cùng tôi nhé.

Đức Huy trao tặng tôi cả cuốn album dày, chứa hàng trăm ảnh tuồng. Tôi xin chọn một số tấm để giới thiệu với bạn đọc gần xa. ♥

Ra bộ hổ. Ảnh: Đức Huy

Ra bộ hổ. Ảnh: Đức Huy

_________________

(1)   Mời quý độc giả tham khảo bài Đầu xuân bói tuồng của Phanxipăng đã đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 414 (10-2-2002) & 415 (20-2-2002) rồi truyền vào weblog này:

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/09/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-i/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/10/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-ii/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/11/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-iii/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/12/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-iv/

(2)   Kinh kịch / 京劇 / 京剧.

(3)   ACCU: The Asian Cultural Centre for UNESCO / Trung tâm Văn hoá châu Á thuộc UNESCO. 

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ số 200 (27-2-2002)

Read Full Post »

Chuyển mùa

Cất cánh. Tranh sơn dầu: Tạ Tỵ

Cất cánh. Tranh sơn dầu: Tạ Tỵ

 

 

Xuân thập thò lúc thu vừa đột tử

Những vần thơ còn dang dở ráng chiều

Mắt tím biếc đà hoá ra quầng lửa

Đốt thành tro từng điệp khúc tình yêu.

 

 

Thì người hỡi! Xem đời như mộng ảo

Bao phồn hoa thoắt hoang hoá triền sông

Dâu rồi bể khác chi trò lừa đảo

Khiến lòng ta xa xót một nụ hồng.

 

 

Mây ngũ sắc tan nhanh rồi người ạ

Góc rừng xanh, cánh nhạn khuất chìm dần

Nào ai nhớ liệm mùa vàng dưới đá?

Ta trồng nêu hoan hỷ đón thanh tân.

 

 

Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 671 – số đặc biệt Xuân Nhâm Tuất 2006

 

Read Full Post »

Nhà thờ Tin Lành ở Cần Đước. Ảnh: Phanxipăng

Nhà thờ Tin Lành ở Cần Đước. Ảnh: Phanxipăng

Thay lời kết

Như thế, qua chuỗi địa danh song tiết hiện hữu ở vùng đất phương Nam, bao gồm Cần Thơ, Cần Vọt, Cần Giờ, Cần Giuộc, Cần Lố, Cần Chông và Cần Đước, chúng ta thấy rằng từ tố Cần là sự Việt hóa âm tiết Kìn / Kam / Kan / An trong tiếng Khmer. Khảo sát từ nguyên, chúng ta biết thêm ý nghĩa loạt địa danh kia: hoặc chỉ động vật (rùa, cá), hoặc chỉ thực vật (cây chùm ruột), hoặc chỉ dụng cụ sinh hoạt (cái thúng, cây buộc gàu múc nước). Triển khai theo phương hướng này, rất có khả năng vài địa danh khác như Cần Đăng (tên chiếc cầu bắc qua sông Suối Mây ở huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh) hoặc Cần Thăng (di tích đồn binh thời Nguyễn ở bên bờ sông Hậu thuộc Châu Đốc) sẽ được tìm thấy xuất xứ.

Cố nhiên, phương hướng cụ thể này không thể áp dụng khi truy tầm nguồn gốc địa danh miền Bắc và miền Trung nước ta, chẳng hạn Cần Kiệm (một xã thuộc huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây), Cần Hải (tên cửa biển ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An – còn gọi là cửa Cần, cửa Trập hay cửa sông Hoàng Mai), Cần Chánh (điện trong Hoàng thành Huế), v.v.

Trường THPT bán công Cần Giuộc. Ảnh: Phanxipăng

Trường THPT bán công Cần Giuộc. Ảnh: Phanxipăng

Cộng đồng Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng nhau chung sống suốt trường kỳ lịch sử. Do đó, bên cạnh nhiều địa danh tiếng Nôm và Hán-Việt, rõ ràng địa danh bằng ngôn ngữ các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ đáng kể. Địa danh tiếng dân tộc nào thì tùy địa bàn cư trú. Vùng cao phía Bắc có vô số tên núi sông và tên huyện bằng tiếng Hmông, tiếng Mường, tiếng Thái, v.v. Thí dụ: Phanxipăng, Puxilung, Puluông, Pulasan, Nậm Nu, Nậm Na, Na Rì, Na Hay, Mường Bo, Mường La, Mường Lát, Mường Lay, Mường Tè. Khu vực Tây Nguyên đầy đặc địa danh bằng tiếng Êđê, Bana, Raglai, Mạ, Lạch. Thí dụ: Pleiku, Pleime, Đăk Lăk, Đăk Tô, Đăk Sut, Krông Pa, Krông Nô, Krông Ana, Krông Buk, Krông Nang, Kontum, Konplông, Konklo, Konhok. Dọc theo duyên hải miền Trung, địa danh gốc Chăm không thiếu. Ví dụ: Cà Ná, Cam Ranh, Phan Thiết, Phan Rí, Phan Rang, Nha Trang, Nha Trinh, Đà Nẵng. Miền Đông Nam Bộ, tiếng Stiêng xuất hiện qua các địa danh Bù Đăng, Bù Đốp, Bù Gia Mập, Bù Trăng Lơ. Và từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ, với hơn một triệu cư dân gốc Khmer (số liệu thống kê năm 1999) thì địa danh có xuất xứ từ ngôn ngữ Môn-Khmer tồn tại ở vùng đất này là điều tất yếu. Từ năm 1875, nhà bác học Trương Vĩnh Ký đã lập bản thống kê các địa danh Nam Bộ quan hệ với tiếng Khmer. Năm 1969, qua công trình Người Việt gốc Miên, Lê Hương đã điểm 212 địa danh Nam Bộ có gốc Khmer. Nhóm địa danh mở đầu bằng từ tố Cần chỉ là phần nhỏ trong số đó.

Nghiên cứu địa danh học dựa vào ngôn ngữ học dân tộc, theo ý kiến của Nguyễn Văn Âu đã phát biểu trong sách Địa danh Việt Nam (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1993), đích thực “là phương pháp hoàn bị nhất vì nước ta là một quốc gia đa dân tộc và cũng đã được nhiều tác giả sử dụng như Vương Hoàng Tuyên, Phan Hữu Dật, Hà Văn Tấn và nhất là Phạm Đức Dương”. Cùng với sự vận dụng nhiều phương pháp khác bổ sung, phương pháp nghiên cứu địa danh dựa vào ngôn ngữ dân tộc nếu được tiến hành đầy đủ một cách có hệ thống sẽ giúp hậu thế tránh khỏi những sai lầm do áp đặt thành kiến hoặc suy diễn chủ quan. Lê Trung Hoa đã vạch rõ trong chuyên luận Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (NXB Khoa Học Xã Hội, TP.HCM, 2003) rằng : “Không ít người đã phạm phải sai lầm khi căn cứ vào hình thức ngữ âm và chính tả hiện đại để suy đoán ý nghĩa ban đầu của địa danh”. Ví dụ: “Có ý kiến cho rằng Cần Giờ là do Cân Giờ (đo giờ, tính giờ) nói chệch ra. Đây là kết quả của lối suy luận chủ quan vì trong tiếng Việt làm gì có từ tổ cân giờ. Và sự kiện cân giờ không hề có trong lịch sử đo thời gian của loài người”. Cách cắt nghĩa địa danh Cần Thơ mà người đời vẫn truyền tụng như đã nhắc, cũng là kiểu sai lầm y hệt.

Sông Dần Xây ở huyện Cần Giờ. Ảnh: Phanxipăng

Sông Dần Xây ở huyện Cần Giờ. Ảnh: Phanxipăng

Cần lưu ý thêm rằng các địa danh gốc Khmer nói riêng, xuất xứ từ nhiều ngôn ngữ các dân tộc thiểu số nói chung, đã biến đổi về hình thức trên tiến trình Việt hóa nên lắm phen hậu thế rất khó xác định từ nguyên. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, đấy lại là biểu hiện tích cực. Vì, nói theo Bùi Đức Tịnh (sđd) : “Sự Việt hóa và biến đổi các địa danh gốc Khmer xác định rõ ràng quyền làm chủ tuyệt đối của tiếng Việt”. ♥

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ từ số 260 đến số 263 (2003)

Read Full Post »

Older Posts »