Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Một, 2014

Tín hiệu mùa sang

Tín hiệu mùa sang. Tranh bút sắt: Bửu Chỉ

Tín hiệu mùa sang. Tranh bút sắt: Bửu Chỉ

Mộng vàng hỡi! Lưng trời rơi mấy hạt?

Nhành bích ngô ngóng chim lạc bay về

Ai tỉ mẩn ngồi vê từng nốt nhạc?

Bản hoà âm dào dạt sóng đam mê.

 

 

Hương vị gì quen thuộc tợ cà phê

Môi thơm cứ tỉ tê bao hoài niệm

Nhị độ mai cài bím mái tóc thề

Mắt tình ái trông bốn bề ảo diễm.

 

 

Khi nhật nguyệt dìu nhau vào huyền nhiệm

Những pho kinh quý hiếm vụt viên thành

Đúc vũ trụ tôi rèn thanh báu kiếm

Hạt mộng vàng thoắt hiện lộc xuân xanh.

 

Phanxipăng

Đã đăng:

* Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 560 (1-3-2006)

* Báo Giáo Dục & Thời Đại số tháng 2 (3-2-2015)

Read Full Post »

 

Ảnh: Phanxipăng

Ảnh: Phanxipăng

Năm mới Giáp Ngọ 2014,

Phanxipăng hoan hỷ chúc

quý bà con cùng bửu quyến

dồi dào sức khỏe,

luôn luôn an vui,

ngập tràn hạnh phúc,

liên tục phát đạt & thăng tiến

Read Full Post »

Phanxipăng thăm lão nghệ nhân Huỳnh Thế tại nhà riêng ở làng Chuồn. Ảnh: Ngô Thọ

Phanxipăng thăm lão nghệ nhân Huỳnh Lý tại nhà riêng ở làng Chuồn. Ảnh: Ngô Thọ

Huỳnh Lý – nghệ nhân cuối cùng của tranh làng Chuồn

Dễ thấy rằng tranh Tết làng Chuồn gắn chặt với phong tục thờ cúng tổ tiên, và đối tượng tiêu thụ mặt hàng này là giới bình dân nghèo khó. Đời sống tinh thần lẫn vật chất ngày càng được nâng cao, những gian nhà tranh vách đất tuềnh toàng hoặc mái lá tường vôi hoen ố dần được xây sửa khang trang, tất nhiên thiên hạ đâu còn chịu dán hay treo những trướng, liễn, đối, y môn bằng chất liệu thô sơ như thế nữa. Vả lại, số người biết và quý chuộng “chữ nghĩa thánh hiền” ngày càng hiếm, nên câu đối lẫn hoành phi chi chít Hán tự kia hỏi còn hấp dẫn được ai? Ấy là những nguyên nhân khách quan khiến việc sản xuất tranh khắc gỗ ở làng Chuồn đi vào ngõ cụt.

Suốt thời gian qua, tại đất An Truyền, chỉ còn mỗi một nhà bảo lưu nghề thủ công truyền thống này và cũng chỉ làm theo lối tay trái hầu “cải thiện” dịp cuối năm với số lượng thành phẩm cực kỳ hạn chế. Đó là nghệ nhân cao tuổi Huỳnh Lý mỗi dịp tất niên đều âm thầm bồi giấy và in tranh trong bối cảnh quá đỗi xót xa mà Nguyễn Hữu Thông mô tả qua ấn phẩm Huế nghề và làng nghề thủ công truyền thống (NXB Thuận Hoá, Huế, 1994): “Làng Chuồn trong những ngày chuẩn bị Tết (Giáp Thân 1994) vẫn có hình ảnh ông đồ già hiếm hoi còn sót lại đang miệt mài cho ra đời những bức gấm màu để điểm trang tấm vách nơi làng quê, tạo một chút ấm cúng cho ngày đầu xuân. Người thợ già Huỳnh Lý tiếp tục sản xuất loại tranh này trong cảnh lẻ loi, âm thầm bên cạnh những nụ mai vừa mới nhụ. Dĩ nhiên, rất nhiều người trong đám thanh xuân hàng ngày qua lại không biết ông Lý làm việc gì và sản phẩm ấy tiêu thụ ở đâu”.

Huỳnh Lý chào đời năm Giáp Dần 1914. Thứ ba 4-1-2011, nhằm mùng 1 tháng chạp Canh Dần, nghệ nhân 97 tuổi Huỳnh Lý trĩu buồn bởi vợ hiền Nguyễn Thị Cháu 91 tuổi lìa trần tại tư thất ở làng Chuồn.

Ngày 30-6-2012, tiên sinh Huỳnh Lý được con cháu chắt mừng đại thượng thọ 99 tuổi. Thế mà lão nghệ nhân sờ soạng những tấm mộc bản, thở dài:

– Tui quá già, không đủ sức mần tranh nữa. Làng Chuồn chẳng ai nối nghiệp tui, kể cả con cháu.

Nghệ nhân Huỳnh Lý hiện thôi hành nghề sản xuất tranh Tết, song thỉnh thoảng lại bày soạn các tấm ván khắc cho đỡ nhớ. Ảnh: Phanxipăng

Nghệ nhân Huỳnh Lý hiện thôi hành nghề sản xuất tranh Tết, song thỉnh thoảng lại bày soạn các tấm ván khắc cho đỡ nhớ. Ảnh: Phanxipăng

Trưởng nam của lão nghệ nhân Huỳnh Lý là Huỳnh Thế – chào đời năm Tân Tị 1941 – trầm giọng:

– Thuở xưa, cứ gần Tết Nguyên đán, sản xuất tranh mộc bản thủ công thâm đêm mãn ngày mà lắm khi không đủ số lượng để giao cho bạn hàng. Hiện nay, tình hình ngược lại, nghĩa là trừ ít người cần sưu tầm và nghiên cứu thì chẳng còn ai mua trướng, liễn, đối, y môn bằng giấy nữa. Rứa thì số phận tranh làng Chuồn đã đến hồi kết thúc!

Bao năm qua, ghé thăm nhà riêng của đại lão nghệ nhân Huỳnh Lý, khách quen biết ắt ngạc nhiên khi thấy khu vực thờ Phật và gia tiên không dán tranh làng Chuồn, mà treo y môn bằng vải thêu, còn liễn thì vẽ trên tường bằng sơn hiện đại. ♥

Gian thờ Phật & gia tiên hiện nay ở nhà riêng của lão nghệ nhân Huỳnh Lý. Ảnh: Phanxipăng

Gian thờ Phật & gia tiên hiện nay ở nhà riêng của lão nghệ nhân Huỳnh Lý. Ảnh: Phanxipăng

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Thế Giới Mới 920 – Xuân Tân Mão 2011
  • Nghiên Cứu & Phát Triển 89 (12-2011)
  • Nhân Dân hằng tháng 201 – Xuân Giáp Ngọ 2014

Read Full Post »

Tranh Tết dân gian cố đô Huế, vì rất nhiều lý do, cam chịu suy, rốt cùng đành phải vong: tranh làng Tây Hồ đã biến mất, nay đến lượt tranh làng Chuồn chấp nhận vĩnh biệt. Đó là lời báo động đối với rất nhiều làng nghề thủ công truyền thống khắp cả nước hiện thời.

T

ranh Tết dân gian cổ truyền của Việt Nam, chủ yếu là thể loại tranh khắc gỗ, in thủ công trên giấy. Bấy lâu nay, dòng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) cùng Hàng Trống và Kim Hoàng (Hà Nội) được đông đảo người hâm mộ ở trong lẫn ngoài nước biết. Thực tế thì các dòng tranh kia thuở xưa chắc chắn phát triển hơn hẳn ngày nay. Càng đáng tiếc khi xã hội vô tình hoặc cố ý làm triệt tiêu nhiều làng nghề tranh mộc bản truyền thống. Chẳng hạn ở huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế, làng tranh Tây Hồ nay thuộc xã Phú Hồ đã chìm vào quên lãng. Giờ đây, chỉ nghe các cụ già bảo tranh làng Tây Hồ rất được ưa chuộng dưới thời nhà Nguyễn, chứ hậu thế chẳng thấy tác phẩm méo hay tròn, thậm chí ván khắc cũng không còn nguyên một mẩu!

Nối gót tranh làng Tây Hồ, tranh làng Chuồn vừa cáo chung.   

Cầu Lu Bụ dẫn vào làng Chuồn. Ảnh: Phanxipăng

Cầu Lu Bụ dẫn vào làng Chuồn. Ảnh: Phanxipăng

Đặc sản làng Chuồn: tranh chữ

Nằm cách trung tâm thành phố Huế chừng 9km, làng Chuồn nay thuộc xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Làng Chuồn còn được gọi làng An Truyền, là một ngôi làng cổ, được thành lập từ giữa thế kỷ XV, đời vua Lê Thánh Tông. Làng Chuồn trông ra 2 cái đầm nước lợ giàu có cá tôm cua – đầm Sam và đầm Chuồn – nên đa số dân địa phương sinh sống bằng hai nghề chính: nông nghiệp và ngư nghiệp.

Đây là quê hương của Đoàn Trưng và Đoàn Trực (lãnh đạo khởi nghĩa Chày Vôi năm Bính Dần 1866), cũng là đất phát tích nhiều đại thần từ tộc Hồ Đắc (chẳng hạn Hồ Đắc Tuấn, Hồ Đắc Trung, Hồ Đắc Khải, v.v.). Do đó, người địa phương vẫn truyền khẩu: Họ Hồ mần quan, họ Đoàn mần giặc.

Đặc sản làng Chuồn thường được thiên hạ nhắc nhở gồm rượu gạo và bánh tét. Ai đã ghé An Truyền thì ca ngợi thêm bánh khoái cá kình (1). Đông người hiện nay dường quên bẵng một đặc sản khác của làng: tranh Tết. Chính nhờ truyền thống Nho học, tranh Tết làng Chuồn đã hình thành một dòng độc đáo, bởi tranh đây chủ yếu là tranh chữ. Ấy là trướng, liễn, đối, y môn bằng Hán tự được khắc gỗ rồi in trên giấy và bán khắp chợ cùng quê để khách hàng mua về treo hoặc dán nhà cửa đón tân niên.

Cách thực hiện tranh Tết làng Chuồn cũng bao gồm 2 công đoạn chính được thao tác bằng tay: in nét đen bằng cách ngửa ván lẫn úp ván rồi tô màu. Nền tranh Chuồn thì không quét bột điệp, mà dùng màu đỏ, lại chạy màu lục viền quanh biên, phân cách bởi các đường kẻ hoặc hoa văn màu vàng. Đó chính là nguyên tắc bồi giấy: lòng điều, kế lục, chỉ vàng. Chữ thể hiện bằng màu đen. Một số hoạ tiết – như ngũ quả, tứ linh, bát tiên, thập nhi chi, lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nguyệt , v.v. – thì tuỳ từng motif mà phối màu phù hợp. Hồi xưa, tranh Chuồn sử dụng giấy dó thô do làng Đốc Sơ (nay thuộc phường Hương Sơ, TP. Huế) sản xuất, sau này là giấy báo cũ nhuộm phẩm rồi bồi thành tấm. Trường hợp gặp khách đặt riêng, nghệ nhân có thể dùng vài chủng loại giấy ngoại nhập như giấy điều, giấy trang kim, giấy xuyến chỉ.

Phổ biến nhất là bức đại tự 福 (âm Hán Việt: Phước / Phúc) có trang trí hình bát bảo hay bát tiên. Thay vì chữ Phước, thì có các chữ 祿 Lộc hoặc Thọ hoặc Thần được trình bày bởi lắm kiểu thức khác nhau – từ chân, lệ, đến triện, thảo. Có những ván khắc còn dụng công tạo hình những chữ ấy, thoạt nhìn ngỡ hình vẽ mai với đào, hoặc rồng với phượng, hoặc rồng với cọp, hoặc bộ tứ linh long-ly-quy-phụng.

Kèm theo bức đại tự này là cặp câu đối rời, mang nội dung mừng đón xuân mới, đề cao công ơn cha mẹ và ông bà, đồng thời nhắc nhở lẫn động viên tinh thần con cháu. Ví dụ một cặp, phiên âm:

Thiên địa tam dương thái,

Càn khôn vạn sự xuân.

Theo Kinh Dịch, trong 64 quẻ thì quẻ thái – còn gọi địa thiên thái – gồm 3 hào dương, trên là khôn, dưới là càn / kiền. Thái mang nghĩa yêu thích, hanh thông, thuận lợi.

Thiên địa tam dương thái / Càn khôn vạn sự xuân. Ảnh: Phanxipăng

Thiên địa tam dương thái / Càn khôn vạn sự xuân. Ảnh: Phanxipăng

Ví dụ cặp khác, phiên âm:

Thụ thảo phùng xuân chi diệp mậu,

Tổ tông tích đức tử tôn vinh.

Nghĩa:

Cây cỏ chào xuân, cành lá thắm,

Tổ tông tích đức, cháu con vinh.

Ví dụ cặp khác nữa, phiên âm:

Tổ đức vĩnh thuỳ thiên tải thịnh,

Gia phong hàm lạc tứ thời xuân.

Nghĩa:

Đức tổ lâu dài muôn thuở thịnh,

Thói nhà đầm ấm bốn mùa xuân.

Bộ tranh gồm 3 bức như vừa đề cập được gọi liễn chữ, dùng để trang hoàng bàn thờ gia tiên. Lại có liễn bông là bộ tranh 4 bức thể hiện các motif hoa quả, hoa điểu, hoa thú theo những chủ đề quen thuộc theo lối tứ bình, như xuân hạ thu đông, mai lan cúc trúc, v.v. 

Liễn bông. Ảnh: Phanxipăng

Liễn bông. Ảnh: Phanxipăng

Liễn duỗi dọc, thì y môn xoè ngang và dùng để treo như rèm trước hoặc sau bàn thờ. Trong sách Tín ngưỡng dân gian Huế (NXB Thuận Hoá, Huế, 1995), Trần Đại Vinh mô tả tranh giấy ngang này: “Kiểu thức trang trí là lưỡng long triều nguyệt như các y môn thêu, cũng có tua dải mũi đao ở hai bên viền và ở giữa, chia y môn thành 3 ô trang trí”. 

Thực tế thì không chỉ lưỡng long triều nguyệt, mà một vài kiểu thức khác cũng được nghệ nhân làng Chuồn dùng để trang trí y môn như cá hoá long, hoa sen biến thành mặt rồng, quy phụng cùng kỳ lân cách điệu, v.v. Y môn được phân thành 3 hoặc 4 ô tuỳ thuộc số lượng chữ Hán. 3 chữ thường gặp là Phúc mãn đường (Phước đầy nhà), Đức lưu quang (Đức toả sáng), Thiện tối lạc (Làm điều lành được vui nhất). 4 chữ có Phúc lộc thọ thành (Được cả phước lẫn lộc thọ), Gia môn khang thái (Cửa nhà rạng rỡ yên vui), Xuân tùng vĩnh mậu (Cây thông mùa xuân tươi tốt mãi). Cũng thấy một ít y môn chẳng in chữ; nói chính xác hơn là dùng chữ thọ và chữ 卍 / 卐 vạn tạo hồi văn phân bố quanh mấy hình vẽ mang ý nghĩa biểu trưng như tùng-trúc-mai, rồng-phượng-hạc, bầu rượu-đám mây-pho sách.

Điều đáng lưu ý là tranh làng Chuồn sử dụng nhuần nhuyễn bảng màu “ngũ sắc Huế” (2) để tạo lập một dòng tranh dân gian cổ truyền riêng biệt.

Trước kia, từ khoảng trung tuần tháng chạp âm lịch, tranh Chuồn bắt đầu xuất xưởng, chuyển tới chợ gần xa nhằm bày bán. Cũng có những phụ nữ từ nơi khác về làng An Truyền buôn tranh rồi gánh bán rong khắp nẻo. Khách hàng háo hức chọn lựa bộ nọ, bộ kia, sao cho hợp không gian cụ thể từng nhà và hợp với sở thích lẫn ước nguyện của gia chủ. Liễn chữ, liễn bông, y môn năm ngoái đã ngã màu, được lột bỏ, thay bằng đồ mới, sẵn sàng cho buổi lễ rước ông bà về cùng con cháu vui xuân.

_________

(1) Vui lòng tham khảo bài Khoái cùng bánh khoái của Phanxipăng đăng trên Thế Giới Mới 816 (Xuân Kỷ Sửu 2009) và trên Chim Việt Cành Nam (Pháp) 15-5-2010.

(2) Ngũ sắc bình thường: xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Ngũ sắc Huế: xanh, vàng, đỏ, lục, tím. Bảng màu ngũ sắc Huế do hoạ sĩ Phạm Đăng Trí (1921 – 1987) đúc kết.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Gỏi sầu đâu. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương

Gỏi sầu đâu. Ảnh: Nguyễn Hoài Phương

Đặc sản phương Nam: gỏi sầu đâu

Mặc dù xoan / sầu đâu chứa độc tố, chủ yếu là tetranortriterpen mà khoa học đã phân lập, nhưng rất khó gây tác hại đến con người nên dân chúng Campuchia từ xa xưa biết cách ngắt lá non của cây này trộn với khô cá linh, tạo nên món gỏi quá ngon lành hấp dẫn. Bà con người Chăm và người Kinh ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhất là tại tỉnh An Giang, đã tiếp nhận gỏi sầu đâu từ bà con Khmer, đồng thời góp phần làm phong phú hoá thức ăn, tạo nên đặc sản của phương Nam nhiệt đới.

Không chỉ dùng lá xoan non, các đầu bếp Nam Bộ gặp thời vụ thuận tiện còn dùng bông hoa xoan, thậm chí cả chùm quả xoan xanh nhỏ li ti, trộn với cá lóc nướng trui cùng các loại khô cá như khô sặt, khô kết, khô chim, khô gộc, khô thiều. Bên cạnh cá tươi và khô đã nướng chín rồi xé tơi, gỏi sầu đâu ở vùng tứ giác Long Xuyên còn có tôm hấp, thịt heo ba rọi luộc chín / phay ba chỉ, dưa leo / dưa chuột bào, xoài tượng thái mỏng, đậu phộng / lạc rang. Tất cả được rưới nước me với gia vị để nhào trộn đều. Bên cạnh dĩa / đĩa gỏi sầu đâu, luôn là chén nước mắm me pha đường, tỏi, ớt sền sệt để chấm.

Gỏi sầu đâu với nước mắm me. Ảnh: Phi Vân

Gỏi sầu đâu với nước mắm me. Ảnh: Phi Vân

Năm 2001, trong chuyến công tác miền Tây Nam Bộ, tôi được ông Phạm Chí Năng – Giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Đồng Tháp – nhiệt tình đưa từ Cao Lãnh sang Long Xuyên. Trưa ấy, bên hữu ngạn dòng sông Hậu, tôi được thưởng thức món gỏi sầu đâu vừa đẹp mắt vừa ngon miệng. Ông Võ Hùng Dũng – Phó giám đốc Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh An Giang – cười tươi:

– Anh Phanxipăng có vẻ “kết” vị đắng của gỏi sầu đâu à nha.

Tôi gật:

– Khổ qua ngon bởi vị đắng đặc trưng. Sầu đâu ngon cũng nhờ vị đắng riêng biệt. Mới nhai miếng gỏi sầu đâu, thấy dòn và đắng, chỉ lát sau liền thấy bùi và ngọt.

Trên tạp chí Phát Triển Kinh Tế 28 (2-1993), Ký Ninh trình bày rặt giọng Nam Bộ: “Sầu đâu đắng hơn khổ qua mà nuốt xong lại có hậu ngọt nên rất hấp dẫn. Dân sành nhậu còn vô thêm một ly đế, thứ nấu bằng nếp thật tốt, rót ngọn thấp mà bọt vun. Nuốt xong miếng gỏi, chấp chấp miệng thấy đã bắt thèm, còn đánh trót một ly đế trong vắt rồi khè một hơi dài, nghe hồn lâng lâng đã… thấy ông bà ông vải! Đặc biệt, bông và lá non sầu đâu làm gỏi ăn rất mát, êm mình, lại bắt cơm dễ sợ, ngủ khoẻ cũng bằng uống thuốc bổ. Nhưng vì tính hàn cao (mát lạnh), đàn bà mới sanh vài ba tháng đầu có thèm cũng phải ráng nhịn sầu đâu, sợ trúng lạnh. Gỏi sầu đâu gốc từ Campuchia, mà hai dân tộc Việt-Khmer đều gọi tên như nhau và đều thích khẩu.” Vì yếu tố liên dân tộc và xuyên quốc gia đó, nên Ký Ninh mệnh danh gỏi sầu đâu là đặc sản samaki / đoàn kết.

Gỏi sầu đâu. Ảnh: Hoàng Tâm

Gỏi sầu đâu. Ảnh: Hoàng Tâm

Dịp đầu năm dương lịch, cuối năm âm lịch, độ xoan nở những chùm hoa trăng trắng tim tím, được chạm ly bia rượu với bạn bè và thân quyến, cùng nhau lai rai thưởng thức món đặc sản phương Nam này thì tuyệt vời biết mấy. Nếu thực khách được nghe ngâm những bài thơ như Em ạ! Vườn xoan… của Huy Cận, Mùa đông và cây sầu đông của Trần Đăng Khoa, Hoa sầu đông của Võ Quê, Sầu đâu tím của Từ Kế Tường, rồi nghe hát các ca khúc như Hoa xoan bên thềm cũ của Tuấn Khanh, Hoa xoan đêm hội của Đặng Nguyễn, Hoa tím sầu đông của Nhất Sinh, Bông sầu đâu của Giang Hạ, Tình sầu đâu của Vinh Sử, Sầu đâu đắng hoài của Lý Dũng Liêm, Cây sầu đông của Võ Tá Hân phổ thơ Cao Phước, v.v., chắc chắn bữa gỏi sầu đâu càng thêm thú vị. ♥

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 867 (4-1-2010)

Read Full Post »

Trân trọng mời quý bạn đọc cùng khám phá cây xoan, còn gọi sầu đâu, từ nhiều góc độ: thực vật, y dược, văn nghệ dân gian, ngôn ngữ, ẩm thực, v.v.

Francis Sansom dùng bằng màu nước vẽ tả thực lá và hoa xoan / sầu đâu

Francis Sansom dùng màu nước vẽ tả thực lá và hoa xoan / sầu đâu

X

oan / xoan ta / xoan trắng / xoan tím / xoan nhà là cách gọi của đồng bào miền Bắc nước ta, lắm phen bị nói nhầm phụ âm đầu do đó viết sai chính tả ra soan. Cây này được dân chúng tại nhiều địa phương, chẳng hạn ở miền Trung cùng các tỉnh thành Nam Bộ, gọi sầu đâu và thầu đâu. Vì sao? Trong Tự vị tiếng Việt miền Nam (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 2006), Vương Hồng Sển cho biết từ nguyên của sầu đâu: “danh từ, do tiếng Cơ Me sdau”. Cơ Me tức Khmer. Sdau ghi rõ thành sđâu.

Hãy nghe mấy câu ca dao:

Nước ròng chảy đến Tam Giang,

Sầu đâu chín rụng, sao chàng biệt tăm?

Và:

Nước ròng chảy đến Nam Vang,

Sầu đâu chín rụng lan tràn khắp nơi.

Tam Giang là đầm phá nước lợ trải dài 68km, thuộc 5 huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nam Vang tức Phnôm Pênh, thủ đô đất nước Campuchia.

Sầu đâu biến âm, chuyển nghĩa, thi hoá thành sầu đông. Vẫn ca dao:

Trái bồ hòn trong tròn ngoài méo,

Trái sầu đông trong héo ngoài tươi.

Em thương anh ít nói ít cười,

Ôm duyên chờ đợi chín mười con trăng.

Xoan / sầu đâu được định danh khoa học bằng tiếng Latinh là Melia azedarach L. thuộc họ Xoan (Meliaceae). Tiếng Pháp: Lilas du Japon / lilas des Indes. Tiếng Anh: Chinaberry / Persian lilac / Bead tree / White cedar. Tiếng Nhật: センダン. Tiếng Hoa: 苦楝 được phát âm Bắc Kinh là kulian, âm Hán-Việt là khổ luyện.

Khảo sát hình thái, đa số các nhà nghiên cứu đều nhận xét rằng xoan chính là sầu đâu / sầu đông. Hầu hết tài liệu xưa nay về thực vật và dược liệu cũng ghi nhận vậy. Tuy nhiên, Phạm Hoàng Hộ biên soạn các sách như Cây cỏ Việt NamCây có vị thuốc ở Việt Nam thì cho rằng xoan là Melia azedarach L. còn sầu đâu là Azadirachta indica Juss., cả hai thuộc họ Xoan (Meliacea).

Tiêu bản lá và quả xoan / sầu đâu được thực hiện bởi Đại học Bắc Carolina, Hoa Kỳ

Tiêu bản lá và quả xoan / sầu đâu được thực hiện bởi Đại học Bắc Carolina, Hoa Kỳ

Nguồn gốc, tính chất & lợi ích

Tập 4 Từ điển bách khoa Việt Nam (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005) đề cập về xoan: “(Melia azedarach; tên khác là sầu đông, thầu đâu), loài cây gỗ, họ Xoan (Meliaceae). Cao 15-20m. Lá kép lông chim lẻ 2-3 lần, lá chét mép răng cưa, đầu nhọn, rụng lá mùa đông. Hoa đều lưỡng tính, mẫu 5, xếp thành chuỳ ở nách lá, nở trước hoặc cùng thời gian với lá non, màu tím nhạt, thơm hắc. Quả hạch, vỏ ngoài nạc, vỏ trong hoá gỗ, 4-5 ô, mỗi ô chứa 1 hạt đen. Cây nguồn gốc Tây Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Ở VN, thường gặp trên các nương rẫy cũ, đất ẩm mát, có tầng đất sâu. Được trồng lấy gỗ, củi, lá. Gỗ màu nâu nhạt, mềm, nhẹ, ít bị mối mọt, dễ bị nứt, dùng làm cột nhà, đóng bàn ghế. Lá làm phân xanh, thuốc trừ sâu, thuốc phòng chống mọt để bảo quản lương thực, hạt giống. Quả độc làm thuốc trừ sâu, thuốc sát trùng, trừ ghẻ lở. Vỏ, thân và rễ chứa tanin, oxalat, hợp chất macgosin, độc. Hạt lấy dầu làm xà phòng. Than xoan dùng làm thuốc súng.”

Thực tế, cây xoan / sầu đâu có thể cao đến 30m. Đây là loài thực vật thân gỗ nhỏ với lá bán thường xanh hoặc sớm rụng. Mỗi bông hoa gồm 4-5 cánh màu trắng có hoặc không phớt tím, ống nhị màu tím. Quả màu xanh lúc nhỏ non, chín màu vàng. Thành ngữ gương mặt trái xoan dành để chỉ khuôn diện xinh xắn đáng yêu của phụ nữ. Tạp chí Thời Trang Trẻ đăng ý kiến của Thu Hoà: “Gương mặt trái xoan thanh tú rất dễ trang điểm, mang nét đẹp kiêu sa, sang trọng và quý phái.”

Sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi (NXB Khoa Học Và Kỹ Thuật in lại lần 4, Hà Nội, 1981) hướng dẫn cách thu hái và xử lý xoan: “Vỏ hái về phơi hay sấy khô. Khi dùng, sao cho hơi vàng, hết mùi hăng là dùng được, không phải chế biến gì khác. Vỏ thân và rễ được dùng làm thuốc, nhưng vỏ rễ mạnh hơn, với tên khổ luyện căn bì. (…) Ngoài vỏ thân và vỏ rễ, người ta còn dùng cả quả xoan làm thuốc với tên khổ luyện tử.” Tài liệu này còn có đoạn: “Vỏ rễ và vỏ thân xoan được nhân dân ta dùng chữa giun từ lâu đời nhưng vì có độc mà liều lượng dùng thường thiếu chính xác cho nên tuy có nhiều kết quả tốt nhưng cũng đã gây ra một số vụ ngộ độc. Cho nên gần đây ở nước ta hầu như không thấy sử dụng chữa giun, nhưng tại Trung Quốc, Mỹ, nhân dân dùng vỏ xoan làm thuốc chữa giun kim, giun đũa. Muốn phục hồi lại việc dùng vỏ xoan chữa giun, cần chú ý tới liều lượng và cách chế biến sao cho tiện dùng. Tránh sử dụng bừa bãi tự động dễ gây những tai hại đáng tiếc.”

Cần nhớ rằng lá xoan / sầu đâu cũng là dược liệu. Lâu nay, đồng bào truyền nhau kinh nghiệm: hái lá xoan rồi đặt trong chum chứa các loại hạt, chẳng hạn đỗ / đậu, cốt phòng chống mọt; nấu nước với lá xoan để tắm cho người lẫn gia súc (trâu, bò, ngựa, v.v.) nhằm chữa ghẻ, hoặc phun lên cây cối hầu diệt côn trùng.

Cành, lá, hoa, quả xoan / sầu đâu. Ảnh: Paolo Fisicaro

Cành, lá, hoa, quả xoan / sầu đâu. Ảnh: Paolo Fisicaro

(Còn nữa)

Read Full Post »

Say trăng viễn xứ

Sông trăng. Tượng đá: 孙世界 / Sun ShiJie / Tôn Thế Giới (Trung Hoa). Ảnh: Phanxipăng

Sông trăng. Tượng đá: 孙世界 / Sun ShiJie / Tôn Thế Giới (Trung Hoa). Ảnh: Phanxipăng

 

Những trăng là trăng

Rót tràn đêm sóng sánh

Chén tha hương cuối năm hoe lạnh

Vòm lòng chao lóng lánh bơ thờ.

 

 

Trăng là trăng của mộng triệu giang hồ

Dềnh lưu thuỷ lạc hoa từ cổ độ

Trăng trôi dạt oà dòng ra biển nhớ

Vỡ nghìn làn sóng nhỏ vỗ ghềnh xa.

 

 

Trăng là trăng hệ lụy cõi-người-ta

Tròn rồi méo khéo gọi là ảo ảnh

Ai chắp nhặt lời quê trong hiu quạnh

Mời về đây hiển thánh một đôi vần.

 

 

Trăng là trăng tri kỷ với tri âm

Lệ từng rướm tiếng nguyệt cầm uất nghẹn

Máu từng đẫm thấm xuyên cung bạc mệnh

Phím tài tình bật gãy chiêm bao.

 

 

Trăng ngàn xưa và trăng ngàn sau

Bừng tụ hội đêm thơ này óng ánh

Chén tha hương càng uống càng ớn lạnh

Vòm lòng ta đặc quánh những trăng trăng.

 

Phanxipăng 

In trong Album thơ 1 của Phanxipăng (NXB Trẻ, 1995)

Đăng trên Kiến Thức Ngày Nay 701 (1-2-2010)

Read Full Post »

Older Posts »