Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám, 2014

Chiều 30-8-1945, tại Ngọ Môn ở kinh thành Huế, bộ ấn kiếm của triều Nguyễn đã được vua Bảo Đại trao cho đại diện Việt Minh. Ấn vàng mang tên gì, nặng bao nhiêu, được chế tác từ bao giờ, hình dáng ra sao? Thanh kiếm được làm bằng nguyên liệu gì, dạng vẻ và nguồn gốc thế nào? Đôi bảo vật đó hiện nằm nơi đâu?

Dẫu lâu nay sách báo xuất bản trong lẫn ngoài nước, trên giấy lẫn trên mạng internet, vẫn tìm mọi cách khai thác các thông tin liên quan cặp ấn kiếm nọ, song tiếc thay, mấy câu hỏi nêu trên đều chưa được giải đáp thỏa đáng.

Phục hiện lễ trao ấn kiếm tại Huế chiều 30-8-1945

Phục hiện lễ trao ấn kiếm tại Huế chiều 30-8-1945

Chiều thứ năm 30-8-1945, ở kinh thành Huế, tại Ngọ Môn, trên lầu Ngũ Phụng, bên cạnh hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn là Bảo Đại, có hoàng tùng đệ Vĩnh Cẩn và Đổng lý văn phòng Phạm Khắc Hòe. Vua Bảo Đại đọc chiếu thoái vị, rồi trao quốc ấn và quốc kiếm cho đại diện của Chính phủ lâm thời – gồm Trần Huy Liệu trưởng đoàn và Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận – vừa từ miền Bắc vào.

Lúc đó, ước khoảng 50.000 dân chúng tập trung tại quảng trường dưới chân Kỳ Đài. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, chủ yếu là khoảng cách không gian lẫn thời gian, hầu hết đều chẳng quan sát rõ sự kiện, lại thêm ký ức – ngay cả của người trong cuộc – hoặc nhạt phai hoặc chứa đựng những điều thiếu chính xác.

Bởi thế, trước tiên, mời quý bạn đọc cùng tôi lần giở sách báo đề cập về cặp ấn kiếm nọ, để thấy rằng hàng loạt thông tin mâu thuẫn lẫn nhau. Trong các đoạn trích dẫn, chú thích giữa đôi ngoặc vuông là của Phanxipăng, đồng thời những chi tiết cần chú ý được in đậm.

HÀNG LOẠT THƯ TỊCH MÂU THUẪN NHAU

Trưởng đoàn đại diện Việt Minh tiếp nhận ấn kiếm đã viết trong Hồi ký Trần Huy Liệu (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1991 , trang 370): “Hai chiếc kiếm dài nạm ngọc và ấn vàng này theo lời người ta nói đều từ Gia Long để lại tạo nên sau khi đánh đổ Tây Sơn và thống trị cả nước. Cùng với ấn kiếm còn có một túi gấm đựng bộ quân cờ bằng ngọc và những thứ lặt vặt quý giá khác. Khi tiếp nhận thanh kiếm của Bảo Đại dâng lên thì không có gì đáng kể. Nhưng khi tiếp nhận chiếc ấn vàng, tôi đã phải chịu đựng sức nặng bất ngờ của cái ấn. Chiếc ấn nặng tới 7 ki-lô-gam vàng! Nói thật với các bạn khi giơ hai tay đỡ cái ấn, tôi có ngờ đâu nó nặng đến thế nên không chuẩn bị tư thế từ trước. Tuy vậy khi chiếc ấn nặng trĩu nằm trong tay, tôi phải cố gắng vận dụng hết sức bình sinh để chống đỡ, không để nó trĩu xuống, nhất là đừng để người tôi khỏi nghiêng ngả vì tư thế của tôi lúc ấy có phải thuộc riêng của tôi đâu, mà là tư thế của một vị đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đương làm một việc rất quan trọng trong giờ phút lịch sử.”

Trần Huy Liệu – người soạn quân lệnh số 1 tổng khởi nghĩa toàn quốc tại Tân Trào (Tuyên Quang) rồi công bố lúc 23 giờ đêm 15-8-1945 dẫn đến cách mạng tháng 8-1945 thành công, trưởng đoàn đại diện Chính phủ lâm thời vào kinh đô Huế chấp nhận vua Bảo Đại thoái vị vào chiều 30-8-1945

Trần Huy Liệu – người soạn quân lệnh số 1 tổng khởi nghĩa toàn quốc tại Tân Trào (Tuyên Quang) rồi công bố lúc 23 giờ đêm 15-8-1945 dẫn đến cách mạng tháng 8-1945 thành công, trưởng đoàn đại diện Chính phủ lâm thời vào kinh đô Huế chấp nhận vua Bảo Đại thoái vị vào chiều 30-8-1945

Phó đoàn là nhà thơ Huy Cận nhớ có phần khác trong Hồi ký song đôi (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2009, trang 89): “Bảo Đại đọc xong thì cột cờ hạ cờ vàng của vua xuống và kéo cờ đỏ sao vàng lên. Đồng bào vỗ tay như sấm dậy. Bảo Đại trao quốc ấn bằng vàng, đúc từ đời Minh Mạng, nặng gần 10kg và quốc kiếm, vỏ bằng vàng nạm ngọc nhưng lưỡi đã gỉ. Anh Liệu chuyển lại cho tôi và các đồng chí trong Uỷ ban Nhân dân Cách mạng ấn và kiếm rồi đọc bản tuyên bố của đoàn đại biểu của Chính phủ lâm thời.”

Phạm Khắc Hòe sau này ghi lại trong hồi ký Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc (NXB Hà Nội, 1983, trang 78): “Bảo Đại đọc tờ Chiếu thoái vị một cách xúc động có khi tắt cả tiếng. Bảo Đại đọc xong thì trên kỳ đài cờ vàng của nhà vua từ từ hạ xuống và lá cờ nền đỏ thắm tươi long lanh năm cánh sao vàng được kéo lên giữa tiếng vỗ tay, những tiếng hoan hô như sấm cắt ngang bởi 21 phát súng lệnh vang lên chào quốc kỳ mới của Tổ quốc hồi sinh. Tiếng súng lệnh chấm dứt. Bảo Đại hai tay đưa lên trao cho ông Trưởng đoàn Đại biểu chính phủ quốc ấn bằng vàng nặng gần mười ki lô gam và chiếc quốc kiếm để trong vỏ bằng vàng nạm ngọc.”

Ngọc Trang viết Cách mạng tháng 8 và vị vua triều Nguyễn cuối cùng đăng tạp chí Huế Xưa Và Nay 40 (6-2000): “Bảo Đại trân trọng hai tay nâng trao cho ông trưởng đoàn Trần Huy Liệu chiếc quốc ấn bằng vàng nặng 10kg và chiếc quốc kiếm trong vỏ bằng vàng nạm ngọc.”

Trong bài Triều đình Huế trước và sau tối hậu thư của Việt Minh đăng tạp chí Thế Giới Mới 550 (26-8-2003), Nguyễn Xuyến viết: “Bảo Đại đưa hai tay lên trao cho trưởng đoàn đại biểu Chính phủ chiếc quốc ấn bằng vàng nặng 11,2368kg và thanh quốc kiếm để trong vỏ bằng vàng nạm bạc.”

Nhận ấn kiếm xong, phái đoàn do Trần Huy Liệu dẫn đầu liền cấp tốc đem ra Hà Nội để kịp dự lễ Độc lập vào ngày 2-9-1945 tại vườn hoa Ba Đình.

“Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945 có đoạn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.”

“Tuyên ngôn Độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội) ngày 2-9-1945 có đoạn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.”

Một trong những thành viên thuộc ban tổ chức lễ Độc lập đã có điều kiện tiếp cận báu vật: Nguyễn Hữu Đang – Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền của Chính phủ lâm thời mở rộng. Về sau, viết bài Ấn kiếm vương quyền nhà Nguyễn trên lễ đài ngày Độc lập đăng tạp chí Xưa Và Nay 31 (9-1996), Nguyễn Hữu Đang mô tả: “Ấn và kiếm này đều bằng vàng là hai bảo vật tượng trưng quyền lực nhà Nguyễn. Lưỡi kiếm cũng bằng vàng như vỏ kiếm nhưng dày hơn, chỉ ngắn bắng hai phần ba vỏ kiếm, chỗ bản rộng nhất độ hai phân, muốt nhọn như lá lúa. Vỏ kiếm chạm nổi tỉ mỉ. Nó được làm từ bao giờ, tôi không rõ. Còn ấn, theo một nhà nghiên cứu sử, nó được đúc vào quãng năm 1774, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Trên ấn hình vuông (núm to cũng hình vuông), Nguyễn Phúc Khoát cho khắc bốn chữ Hán Vương quốc chi ấn có nghĩa tuyên ngôn chính trị.”

Về khối lượng quốc ấn, cũng trong bài nọ, Nguyễn Hữu Đang cung cấp những tình tiết khá ly kỳ: “Cụ Hồ ra đọc Tuyên ngôn Độc lập rồi Võ Nguyên Giáp trình bày đường lối, chính sách của Chính phủ lâm thời mở rộng. Đến lượt Trần Huy Liệu báo cáo. Tôi đứng sẵn bên chiếc bàn con, trên để ấn kiếm. Ông Liệu nói đến chỗ Bảo Đại trân trọng nộp ấn kiếm, tôi sẽ bấm cánh tay trái ông để ông tạm ngừng lại. Rồi tôi, tay phải cầm thanh kiếm, tay trái thản nhiên dùng năm đầu ngón tay nhón cái núm chiếc ấn, định cứ thế cùng một lúc giơ cả hai thứ lên cao để đồng bào trông thấy. Chẳng ngờ, thanh kiếm tương đối nhẹ, một tay tôi thừa sức điều khiển, còn chiếc ấn bướng bỉnh cứ ỳ ra, không chịu nhúc nhích. Nó nhỏ thôi mà sao nặng thế! Sau này tôi mới biết nó nặng trên 5kg! Tôi vội buông thanh kiếm, dùng cả hai tay lấy hết sức lôi chiếc ấn lên cách mặt bàn độ ba mươi phân, luồn tay phải xuống dưới, lựa cho nó nằm trên cùi bàn tay để ngửa rồi cúi mình co cánh tay từ từ nâng thẳng nó lên như lực sĩ cử tạ, trong khi tay trái vớ thanh kiếm giơ lên ngang chiếc ấn. Đồng bào hò reo vang trời kéo dài. Tôi cố đứng vũng, hai tay dựng thẳng như thế bốn năm phút liền. Cánh tay nâng chiếc ấn bắt đầu mỏi, buốt và đe dọa sa đà chúi xuống.”

Nguyễn Hữu Đang còn mở ngoặc chua thêm: “Năm 1992, đọc hối ký của ông Liệu, tôi mới biết ngày 30-8-1945, trên Ngọ Môn, trong động tác trưng ấn kiếm để đồng bào Huế coi, ông cũng đã chủ quan, bất ngờ, lung túng, vất vả như tôi, thậm chí hơn tôi: ông đuối sức đến suýt bị xiêu vẹo!”

Từ ngày 24-8-2010, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ở Hà Nội có tượng đồng Hồ Chủ tịch đọc “Tuyên ngôn Độc lập” do điêu khắc gia Tạ Quang Bạo tạc

Từ ngày 24-8-2010, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam ở Hà Nội có tượng đồng Hồ Chủ tịch đọc “Tuyên ngôn Độc lập” do điêu khắc gia Tạ Quang Bạo tạc

Bùi Mộng Điệp, thứ phi của quốc trưởng Bảo Đại, là người từng bảo quản cặp ấn kiếm ấy một thời gian, lại trả lời phỏng vấn trên báo Lao Động 8-12-1996 thế này: “Còn cái ấn bằng vàng, chính tay tôi cân nặng 12,9kg. Cái núm ấn hình con rồng. Con rồng uốn cong và ngóc đầu lên. Con rồng không được sắc sảo lắm, có đính hai hạt ngọc đỏ, trông giống như con rắn. Tôi lật nó lên có bốn chữ triện ở dưới. Theo một người biết đọc chữ Nho thì bốn chữ ấy là Nguyễn triều chi bảo.”

(Còn nữa)

Read Full Post »

Đ > D

Hiện tượng xát hóa đ > d xảy ra trong quá khứ đã để lại sự tồn tại song song cả hai hình thức đối với tiếng Việt phổ thông cũng như các phương ngữ tiếng Việt hiện thời. Ví dụ: đứt / dứt, đao / dao, đập / dập. Nghĩa tuy y hệt, nhưng tùy ngữ cảnh mà chúng ta dùng từ này hay từ kia. Tơ tình đã đứt cũng giống tơ tình đã dứt chăng? Chưa hẳn. Nếu đứt còn có thể nối, chứ dứt thì “thôi đã thôi rồi”. Đao kiếm y hệt dao kiếm, song chẳng ai xài đao mác, đao phay, đao thớt, mà phải xài dao mác, dao phay, dao thớt.

Trường hợp ngược lại, tức d > đ, cũng thấy xảy ra: cây da / cây đa, da thịt / đa thịt, v.v. Ngày nay, một số địa phương miền Bắc dùng cây đa, một số làng quê miền Trung dùng đa thịt.

Có người thắc mắc rằng: trong tiếng Việt phổ thông hiện đại, dùng đĩa hay dĩa thì chuẩn? Băng đĩa hay băng dĩa? Bát đĩa hay chén dĩa?

Băng đĩa hay băng dĩa? Bát đĩa hay chén dĩa? Ảnh: Phanxipăng

Băng đĩa hay băng dĩa? Bát đĩa hay chén dĩa? Ảnh: Phanxipăng

Xét về diện sử dụng, một nửa nước là các tỉnh phía Bắc quen dùng đĩa, một nửa nước là các tỉnh phía Nam xài dĩa. Xét về quá trình biến chuyển ngữ âm thì đ > d là hợp quy luật. Vậy nên chăng xem đĩa / dĩa song song tồn tại, và hình thức nào cũng được cộng đồng chấp nhận? Thì tương tự hàng loạt trường hợp như nhầm / lầm, nhanh / lanh, hoa / bông, lợn / heo, v.v., mà chúng tôi sẽ đề cập đầy đủ hơn vào dịp khác.

 

B > V

Xu hướng xát hóa b > v xảy ra khá muộn, có lẽ vào thế kỷ XVII. Tra cứu Đại Nam quấc âm tự vị của Huình-Tịnh Paulus Của, bản in năm 1898, chúng ta còn bắt gặp lắm từ chưa biến đổi: (vã) bọt mép, bổng (vổng), bái (vái), béo (véo), v.v. Từ béo được từ điển này giải thích: “Dùng ngón tay cái và ngón trỏ để vào một chỗ trong người mà cặp lại”. Cần lưu ý rằng từ béo với biến thể ngữ âm thành bẹo mang nghĩa véo lâu nay vẫn được sử dụng tại nhiều tỉnh thành như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam.

Một phần trang 23 “Đại Nam quấc âm tự vị” của Huình-Tịnh Paulus Của (Tome I, Saigon, 1895)

Một phần trang 23 “Đại Nam quấc âm tự vị” của Huình-Tịnh Paulus Của (Tome I, Saigon, 1895)

Không hiếm trường hợp, v chẳng lấn nổi b. Ví dụ: phân bua / phân vua, ăn bận / ăn vận.

Còn hầu hết trường hợp, cả hai hình thức vẫn song song tồn tại như bái lạy / vái lạy, bốc / vốc, băm / vằm. Thế nhưng, cũng tùy thuộc văn cảnh mà chọn từ thích hợp để sử dụng. Chẳng hạn có thể nói hoặc viết bốc nắm gạo hoặc vốc nắm gạo, nhưng cần diễn đạt Đông y sĩ xem mạch bốc thuốc chứ chẳng vốc thuốc, và cô bé vốc nước đùa nghịch, chứ chẳng bốc nước.

 

  • Phanxipăng

Đã đăng Tài Hoa Trẻ 165 (27-6-2001)

Read Full Post »

B > M

Theo các nhà nghiên cứu chuyên ngành tiếng Việt lịch sử, thì cách đây 1.000 năm, người Việt sử dụng tiếng Việt – Mường. Từ khi xuất hiện cách phát âm Hán – Việt, tiếng Việt bắt đầu tách riêng, mặc dầu trước đấy trong tiếng Việt – Mường vẫn có một bộ phận từ vựng chịu ảnh hưởng tiếng Hán khẩu ngữ và đọc theo âm thượng cổ.

Trải quá trình tách tiếng Việt khỏi tiếng Việt – Mường, hệ thống âm đầu của tiếng Việt dần chuyển biến. Dựa trên cứ liệu các ngôn ngữ họ Việt – Mường, đối chiếu cách ghi chữ Nôm và tư liệu điền dã về phương ngữ tiếng Việt, A. Haudricourt đã chỉ ra nhiều dấu hiệu của quá trình kia. Chẳng hạn sự chuyển biến phụ âm đầu b > m mà ngày nay chúng ta vẫn còn gặp. Ví dụ: bồ hóng > mồ hóng, bồ côi > mồ côi, bồ hôi > mồ hôi.

Dễ thấy rằng phụ âm m tỏ ra thắng thế. Vậy nhưng, một nhà thơ thế kỷ XX là Lưu Trọng Lư (1912 – 1991) đã sáng tác đôi dòng thơ được xem tuyệt bút, nguyên văn:

Giật mình ta thấy bồ hôi lạnh;

Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi!

Đôi dòng nọ nơi bài thơ Hôm qua trong thi tập Tiếng thu. Từ bản in lần đầu tiên vào năm 1939 đến nay, trải qua nhiều đợt tái bản, thi tập này luôn in Hôm qua với từ bồ hôi. Biên soạn sách Thi nhân Việt Nam (Nhà in Nguyễn Đức Phiên, Hà Nội, 1942), Hoài Thanh và Hoài Chân trích thơ Lưu Trọng Lư cũng lưu ý giữ bồ hôi.

Bài thơ “Hôm qua” in trong thi tập “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư (NXB Thông Tin, 1991)

Bài thơ “Hôm qua” in trong thi tập “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư (NXB Thông Tin, 1991)

Sự chuyển hóa âm đầu – có thể kéo theo biến đổi thanh điệu hoặc không – hiện còn lưu dấu trong tiếng Việt, mà chẳng phải trường hợp nào cũng dễ dàng phân định hơn thua. Rõ ràng hiện tại, rách bướp đã nhường chỗ cho rách mướp, nhưng bậm môi / mắm môibuồn ngủ / muốn ngủ thì vẫn song song tồn tại.

 

G > NG

Sự biến chuyển phụ âm đầu g > ng cũng vậy. Thực tế, ngước nhìn giờ đây đã thay thế hẳn gước nhìn. Tuy nhiên, lắm trường hợp vẫn tồn tại song song: ghé / nghé, gẫm / ngẫm, ghếch / nghếch, v.v.

Hãy đọc lại bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống tương truyền của nữ sĩ Hồ Xuân Hương (cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX):

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

Kìa đền thái thú đứng cheo leo.

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?

Và đây là một khổ trong bài thơ Thành phố hoa xuân của Phanxipăng đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 222 (2-1995) rồi in trong các tuyển tập Đà Lạt thơ (NXB Văn Học, Hà Nội, 1996) và Thơ Đà Lạt xưa và nay (NXB Văn Học, Hà Nội, 2008):

Lắng tiếng ngàn thông

Tỏ tình cùng gió

Nghé trông sóng hố

Say hôn bờ cỏ

Chúng ta thấy rõ ghé = nghé. Từ này được Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1992) giải thích bằng hai nghĩa: 1. Nghiêng đầu và đưa mắt nhìn; 2. Trông chừng, thỉnh thoảng chú ý đến.

Bài thơ “Thành phố hoa xuân” của Phanxipăng đăng trên tạp chí Thế Giới Mới 222 (2-1995)

Bài thơ “Thành phố hoa xuân” của Phanxipăng đăng trên tạp chí Thế Giới Mới 222 (2-1995)

Có thể dùng suy gẫm lẫn suy ngẫm, và ghếch cổ lẫn nghếch cổ. Còn trường hợp ghiền / nghiện thì sao?

Ngày nay, xu hướng sử dụng từ nghiện có vẻ chiếm ưu thế: nghiện ngập, nghiện rượu, nghiện thuốc lá, cai nghiện ma túy, v.v. Song le, diễn tả cảm giác “phê”, thiên hạ lại quen dùng từ ghiền như đã ghiền / đỡ ghiền chứ ít người diễn đạt đã nghiện / đỡ nghiện.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Tự hát

Chân dung Phanxipăng. Ký hoạ bút sắt: Nguyễn Xuân Khánh

Chân dung Phanxipăng. Ký hoạ bút sắt: Nguyễn Xuân Khánh

 

Nhởn nhơ trong cõi người ta

Xoe tròn mắt ngắm bao la đất trời

Tim ngân nhã nhạc không lời

Nắng mưa càng đượm tiếng cười thênh thênh

Ruổi rong bao nẻo gập ghềnh

Từng ngon giấc giữa chênh vênh phong trần

Dẫu rằng tài tử đa truân

Búng đàn hát với vầng trăng giang hồ

Biết đâu là bến là bờ

Non sông tiếu ngạo men thơ say nồng

Môi đào mọng ngọt giai nhân

Thổi tan bão tố cho xuân tứ thời

Một mai mai một mãn đời

Vẫn chưa tàn một cuộc chơi ê hề…

 

  • Phanxipăng 

Đã đăng Văn Nghệ Nha Trang 15 (11 & 12-1992)

Read Full Post »

Chè Huế (V)

Chè bột lọc bọc thịt heo quay. Ảnh: Phanxipăng

Chè bột lọc bọc thịt heo quay. Ảnh: Phanxipăng

“Bí quyết” chế biến chè Huế

Đến dự Festival món ăn Việt Nam được tổ chức trong một khách sạn ở TP.HCM, nhà thơ Đỗ Trung Quân chăm chăm chú ý các món chè. Sau đó, anh bày tỏ nỗi băn khoăn qua bài viết ngắn Tiếng rao đăng tuyển tập Hương vị quê nhà do báo Sài Gòn Tiếp Thị thực hiện năm 2000: “Dường như chưa bao giờ có mặt trong thực đơn chiêu đãi dù tự thân chè đã có vô vàn món. (…) Vậy mà chẳng biết vì sao chè ít khi được các bậc sành sõi nhắc đến trong văn chương ẩm thực riêng mình. Có nhắc cũng chỉ thấp thoáng.”

Thì đấy, ngay tuyển tập của nhiều tác giả viết về văn hoá ẩm thực Việt Nam mang nhan đề Hương vị quê nhà gồm 260 bài, chẳng bài nào chọn chè làm đề tài chính. Theo dõi khá nhiều ấn phẩm chuyên về nghệ thuật ăn uống đã ấn hành ở nước ta lâu nay, không kể sách dạy kỹ thuật nấu nướng, tôi cũng thấy quá hiếm tác phẩm báo chí lẫn văn chương tập trung khai thác các món chè. Tuyệt đại đa số đều hướng về bao món mặn, cay, chua, béo, bùi. Há lẽ lực lượng tác giả đi vào mảng văn hoá ẩm thực đều là “đại tửu đồ”, chỉ khoái khề khà nhắm mặn đưa cay và thường lơ là đồ ngọt chăng?

Chè mè / vừng đen

Chè mè / vừng đen

Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nhàn đàm rằng “ăn phải giống như bài học cuộc đời, phải nếm đủ vị mặn, lạt, chua, cay, ngọt, bùi, không chê vị nào.” Nhìn từ góc độ khác, theo tôi, ẩm thực không chỉ như bài học cuộc đời, mà chính là cuộc đời, ít nhất cũng là “một phần tất yếu của cuộc sống”. Song le, ai nấy đều đổ dồn theo nhiều vị, nhưng trót quên mất vị ngọt ngào mà tiêu biểu là chè, rõ ràng thiếu quân bình nghiêm trọng.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy trong các tiệc tùng tầm cỡ, chè vẫn hiện hữu với tư cách là món tráng miệng không thể thiếu, thường được dọn cùng lần với bánh mứt và trái cây. Ví như đại yến do triều đình nhà Nguyễn chiêu đãi sứ Thanh tại kinh đô Phú Xuân đầu thế kỷ XIX. Bộ sách Đại Nam hội điển sự lệ (Tập 6 – NXB Thuận Hoá, Huế, 1993) đã cẩn thận ghi nhận bữa cỗ cấp quốc gia kia, gồm 72 món cả thảy, trong đó có 2 món chè Huế đặc sản: chè trứng gàchè hột sen. Ngày nay, thường xuyên tổ chức bữa cơm ngự thiện phục vụ du khách nhiều quốc tịch, ngành du lịch Huế cũng lưu ý kê thực đơn mấy món chè hột sen, chè đậu ngự, chè khoai tía, chè bắp, chè thịt quay, v.v.

Chè yến sào trứng gà

Chè yến sào trứng gà

Nhờ hoàn cảnh lịch sử – địa lý đặc thù, người Huế đã hình thành và phát triển phong cách ăn uống phong phú, đặc sắc, độc đáo trong nền văn hoá ẩm thực Việt Nam. Ở xứ Thần Kinh, kỹ thuật bếp núc cung đình và dân dã, bản địa và ngoại tỉnh, trong nước và ngoài nước, đã được tổng hợp – chọn lọc – nâng cao theo hướng “Huế hoá”. Và đâu chỉ chuyện nấu nướng, phong cách Huế còn thể hiện – lắm khi rất chi li – qua kiểu thức bày soạn và ăn uống tinh tế lịch lãm, gọi là nghệ thuật thưởng thức. Tất cả tạo nên hệ thống mỹ vị pháp / gastronomie rất Huế. Trong hệ thống này, các món chè tạo một tuyến cấu trúc vô cùng đặc sắc.

Một nhà dân tộc học là Việt kiều ở Paris, thủ đô nước Pháp, đồng ý rằng hệ thống mỹ vị pháp Huế nổi tiếng nhất nước ta, song ông lại viết: “Món duy nhất có mang tên Huế là bún bò Huế, nhưng cũng mới cách đây mấy mươi năm thôi!”. Thật thế ư? Trên bước đường viết văn, làm báo, bản thân tôi thường ra Bắc vào Nam, nhận thấy không ít món gắn liền địa danh Huế đã và đang hiện hữu ở nhiều tỉnh thành. Phổ biến sau bún bò Huế, ắt chè Huế.

Chè đậu ngự. Ảnh: Bạch Dương

Chè đậu ngự. Ảnh: Bạch Dương

Em còn nhớ hay em đã quên?

Nhớ Sài Gòn mỗi chiều gặp gỡ

Nhớ món ăn quen, nhớ ly chè thơm

Trong ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1939 – 2001) vừa dẫn, hoàn toàn hợp tình hợp lý khi nghĩ rằng ly chè ngọt ngào thơm thảo nơi “hòn ngọc Viễn Đông” chính là chè Huế.

Lâu nay, tại Hà Nội, Vinh, Đồng Hới, Đông Hà, Đà Nẵng, Đà Lạt, Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết, Vũng Tàu, TP.HCM, Cần Thơ cùng một số địa phương khác trên cả nước, biết bao quán trưng biển “chè Huế” liên tục thu hút đông đảo thực khách. Thì cũng như bún bò Huế, đầu bếp các quán chè Huế chưa chắc là dân gốc núi Ngự sông Hương. Nào hề chi? Ai cũng đủ khả năng chế biến hàng loạt món chè Huế đạt yêu cầu, miễn là có bàn tay khéo, khẩu vị tinh, và nhất là… tấm chân tình với Huế. ♥

Chè hột sen, chè bột lọc, chè nếp & đậu trắng. Ảnh: Phanxipăng

Chè hột sen, chè bột lọc, chè nếp & đậu trắng. Ảnh: Phanxipăng

Phanxipăng

Đã đăng các tạp chí:

  • Kiến Thức Ngày Nay 406 (20-11-2001) & 407 (1-12-2001)
  • Tài Hoa Trẻ 869 (9-10-2013)

Read Full Post »

Older Posts »