Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Giáo dục’ Category

Sách từ khoa Ngữ Văn (I)

Hàng loạt sách đã xuất bản lâu nay của thầy trò khoa Ngữ Văn – một trong những khoa lớn thuộc trường Đại học Sư phạm Hà Nội – đủ chứng tỏ: trải 6 thập niên hình thành và phát triển, khoa này luôn chứng tỏ ưu thế vượt trội là không chỉ giỏi dạy và học, mà còn giỏi nghiên cứu và sáng tác, v.v.

Ngày 11-10-1951, trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thành lập theo Nghị định 276 và 277 của Bộ Quốc gia Giáo dục (1). Khoa Ngữ Văn xuất hiện vào nhật điểm đó, thoạt tiên là khoa ghép Văn – Sử – Địa, đến năm 1954 thì khoa Văn tách riêng. Các tổ bộ môn của khoa lần lượt ra đời: văn học Việt Nam I (dân gian và trung đại), văn học Việt Nam 2 (hiện đại), văn học nước ngoài, lý luận văn học, ngôn ngữ (tiếng Việt), ngữ văn Hán Nôm, phương pháp dạy học ngữ văn. Theo thống kê sơ bộ của PGS. TS. Lã Nhâm Thìn thì qua 60 năm, khoa Ngữ Văn đã đào tạo khoảng 11.000 sinh viên chính quy, hơn 5.000 sinh viên tại chức và từ xa, hơn 2.000  thạc sĩ, gần 250 tiến sĩ.

Dịp lễ hội kỷ niệm 60 năm khoa Ngữ Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhìn lại loạt sách đã xuất bản của những người viết xuất thân từ nơi đây – dẫu đã và đang hay chẳng công tác tại khoa này – là việc đầy ý nghĩa .

Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội (8-10-2011). Ảnh: Phanxipăng

Lễ kỷ niệm 60 năm thành lập khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội (8-10-2011). Ảnh: Phanxipăng

Giáo trình, giáo khoa, tư liệu tham khảo

Ngay thuở sơ khai, khoa Ngữ Văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tập trung phần lớn thành viên trong nhóm Lê Quý Đôn nổi tiếng, bao gồm Vũ Đình Liên (2), Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Trương Chính, Lê Thước. Nhóm ấy đã biên soạn 3 tập Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (NXB Xây Dựng, Hà Nội, 1957 – 1958) đề cập từ khởi thuỷ đến năm 1945, lại dịch bộ tiểu thuyết Les Misérable của văn hào Pháp Victor Hugo ra tiếng Việt thành 4 tập dày với nhan đề Những người khốn khổ (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1959). Đó là một trong những điều kiện thuận lợi để khoa Ngữ Văn khởi xướng việc biên soạn giáo trình cùng chuỗi tư liệu tham khảo kể từ niên khoá 1958 – 1959.

Khoa “khai trương” công tác thực hiện giáo trình bằng bộ sách Lịch sử văn học Việt Nam gồm 6 tập do liên tổ văn học hợp soạn, mà tập 1 Văn học dân gian gồm 2 quyển được ấn hành năm 1961 tạo thành quả đầu tiên rất đáng phấn khởi. Trải nhiều lần sửa chữa để tái bản, bộ sách dài hơi nọ quy tụ lực lượng tác giả quá hùng hậu. Đó là các nhà giáo xuất sắc kiêm nhà khoa học đầu ngành về văn học sử nước nhà: Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Lý Hữu Tấn, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị, Lê Trí Viễn, Phan Côn, Đặng Thanh Lê, Phạm Văn Luận, Lê Hoài Nam, Nguyễn Đình Chú, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trác, Nguyễn Văn Long, Trần Hữu Tá.

Dưới sự chủ biên của Nguyễn Lương Ngọc (3), 3 tập Nguyên lý văn học với sự tham gia biên soạn của Trần Văn Bính và Nguyễn Văn Hoàn (1960 – 1963) rồi 4 tập Cơ sở lý luận văn học với sự tham gia biên soạn của Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Nam, Trần Văn Bính (1965) là đôi bộ giáo trình dày dặn lưu dấu ấn khoa Ngữ Văn.

Xin nêu nhan đề những bộ giáo trình khác cũng của khoa này, tất cả đều do NXB Giáo Dục ở Hà Nội ấn hành: Giáo trình Việt ngữ gồm tập 1 do Đinh Trọng Lạc viết (1960) và tập 2 do Đỗ Hữu Châu viết (1961); Lịch sử văn học Trung Quốc gồm 3 tập do Bùi Trương Chính cùng Nguyễn Khắc Phi hợp soạn (1964); Lịch sử văn học Nga thế kỷ XIX do Nguyễn Hải Hà, Đỗ Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Ảnh, Từ Đức Trịnh, Nguyễn Văn Giai hợp soạn (1966); Giáo trình cổ văn do Đặng Đức Siêu biên soạn, tập 1 in năm 1968, tập 2 in năm 1970; Lịch sử văn học phương Tây gồm 2 tập do Hoàng Nhân, Nguyễn Ngọc Ban, Đỗ Đức Hiểu hợp soạn (1970); Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại của Cù Đình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ (1972), v.v.

Năm 1975, đất nước thống nhất. Cũng như nhiều cơ quan khác ở miền Bắc, Đại học Sư phạm Hà Nội nói chung và khoa Ngữ Văn của trường nói riêng gặp lắm biến động, mà nổi trội là thay đổi đội ngũ cán bộ giảng dạy, chủ yếu do đông người vào miền Nam công tác. Tuy nhiên, khoa Ngữ Văn vẫn tiếp tục coi trọng việc nghiên cứu khoa học cơ bản lẫn khoa học sư phạm, ra sức chỉnh lý các giáo trình sẵn có nhằm đạt chất lượng cao hơn, đồng thời biên soạn thêm những giáo trình mới. Đây là một số giáo trình của các tác giả khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội được NXB Giáo Dục ấn hành: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu (1981), Ngữ pháp tiếng Việt gồm 2 tập của Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (1998); Phong cách học tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà (1993); Văn học Ấn Độ của Lưu Đức Trung (1996); Văn học phương Tây của Phùng Văn Tửu (1997); Thi pháp văn học dân gian của Lê Trường Phát (2000); Giáo trình phương pháp dạy học văn của Phan Trọng Luận và Nguyễn Thanh Hùng (2001), v.v.

Có những sách do nhà giáo nhiều trường Đại học Sư phạm trong cả nước viết chung, đa số đều bố trí cán bộ giảng dạy Đại học Sư phạm Hà Nội đóng vai trò nòng cốt. Chẳng hạn Cơ sở lý luận văn học gồm 3 tập (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1986 – 1988) được cán bộ của khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội tích cực tham gia gồm GS.TSKH. Phương Lựu (4) (chủ biên), GS.TS. Trần Đình Sử, PGS.TS. La Khắc Hoà, PGS. Nguyễn Xuân Nam. Lại có những sách của người xuất thân từ khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội hợp soạn với tác giả ngoại quốc. Chẳng hạn Hội thoại Việt Nhật của Đỗ Xuân Thảo và Tomita Kenji (Đại học Ngoại ngữ Tokyo xuất bản, 2003).

Năm 2002, NXB Đại Học Sư Phạm Hà Nội được thành lập. Nhiều công trình của khoa Ngữ Văn càng thuận tiện ấn hành, trong đó có loạt giáo trình như Giáo trình văn học Nga của Hà Thị Hoà và Đỗ Hải Phong (2002); Giáo trình văn học trẻ em của Lã Thị Bắc Lý (2002); Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể của Nguyễn Viết Chữ (2003); Giáo trình văn học Âu – Mỹ của Phùng Văn Tửu, Phùng Hữu Hải, Đỗ Hải Phong (2006); Câu tiếng Việt của Nguyễn Thị Lương (2006); Giáo trình cảm thụ văn học của Dương Thị Hương (2010); Tiếng Việt và tiếng Việt thực hành của Lã Thị Bắc Lý, Phan Thị Hồng Xuân, Nguyễn Thu Nga (2011), v.v.

Có những lúc, cán bộ khoa Ngữ Văn còn dịch các giáo trình từ ngoại ngữ sang tiếng Việt, như: Lịch sử văn học Xô Viết của S. O. Mêlich Nubarôp do Bùi Khánh Thế chuyển ngữ (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1961); Nguyên lý lý luận văn học của L. Timôfiep do Cao Xuân Hạo và Lê Đình Kỵ chuyển ngữ (NXB Văn Hoá, Hà Nội, 1962); Lịch sử văn học Trung Quốc của Chu Quang Anh, Tiền Chung Thứ, Phạm Vinh, do Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ, Nguyễn Trung Hiền, Lê Đức Hiện, Trần Thanh Liêm chuyển ngữ (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1997), Những bài giảng ngôn ngữ học đại cương  của Iu. V. Rozdextvenxki do Đỗ Việt Hùng chuyển ngữ (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1997), v.v.

Nên thêm rằng ngoài hệ thống giáo trình dành cho sinh viên hệ chính quy, nhiều người xuất thân từ khoa Ngữ Văn đầu tư công sức soạn thảo các giáo trình dành cho những hệ đào tạo khác thuộc bậc đại học (chuyên tu, tại chức, từ xa), bậc cao đẳng, và cả trung học sư phạm.

Bên cạnh giáo trình, khoa Ngữ Văn cũng chú ý thực hiện loạt tư liệu tham khảo hữu ích đối với sinh viên, chẳng hạn bộ sách Tư liệu tham khảo văn học Việt Nam theo sát bộ giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam thuộc “Tủ sách Đại học Sư phạm”, và 2 tập Giảng văn (1982) được biên soạn kỹ càng. Khoa Ngữ Văn còn cung cấp mảng sách tra cứu, đó là các từ điển, hợp tuyển, tổng tập, sổ tay, v.v.

Trưởng khoa Ngữ Văn hiện thời là PGS. TS. Đỗ Việt Hùng cho hay:

– Tính đến nay, khoa Ngữ Văn có đủ hệ thống giáo trình phục vụ sinh viên. Về sách tham khảo, riêng mảng dịch tác phẩm văn chương và công trình nghiên cứu văn học từ các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, Hoa, đội ngũ cán bộ của khoa đã thực hiện khoảng 50 đầu sách.

Từ năm 1989, khoa Ngữ Văn bắt đầu biên soạn sách giáo khoa dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông (5). Hiện nay, tất cả sách giáo khoa Ngữ Văn đều do các nhà giáo của khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội chủ biên và tổng chủ biên. Liền mạch với sách giáo khoa, còn thêm sách bài tập, sách hướng dẫn giáo viên, sách để học sinh tham khảo, v.v.

Nghiên cứu ngữ văn

Mảng sách nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học do những người xuất thân từ khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội viết đã xuất bản, tính đến nay đạt số lượng quá lớn. Danh sách tác giả từng ấn hành tiểu luận – nào Đặng Thai Mai, Huỳnh Lý, Hoàng Xuân Nhị, Lê Trí Viễn, Nguyễn Đức Đàn, nào Văn Tâm, Trần Thanh Đạm, Phan Cự Đệ, Lâm Tiến, nào Từ Sơn, Vương Trí Nhàn, Lê Ngọc Trà, v.v. – thì phạm vi một bài báo không thể nêu hết. Nếu thống kê đầy đủ phương danh người biên soạn cùng nhan đề sách và các thông tin ngắn gọn liên quan, ắt thành cả tập thư mục dày.

NGND. Nguyễn Đình Chú phát biểu:

– Với sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài cho hệ thống giáo dục quốc dân và toàn xã hội, trường Đại học Sư phạm Hà Nội xác định quan niệm đúng đắn: chỉ có thể giỏi sư phạm khi đã giỏi khoa học. Cống hiến khoa học của các cán bộ khoa Ngữ Văn được tính bằng số lượng công trình nghiên cứu khoa học. Trong khoa Ngữ Văn, nếu tính chuyên luận đứng tên một tác giả, con số đã hàng trăm; có những GS viết khoảng 15 đầu sách; số GS viết từ 5 đến 10 đầu sách rất đông.

Giáo trình, tư liệu tham khảo & chuyên luận

Giáo trình, tư liệu tham khảo & chuyên luận

Đây là một số chuyên luận được liệt kê theo thứ tự thời gian ấn hành lần đầu tiên.

Về văn học Việt Nam có: Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh Lê (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1979); Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn của Bùi Văn Nguyên (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1980); Thơ Nôm Đường luật của Lã Nhâm Thìn (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1997); Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990 của Lê Lưu Oanh (NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 1998); Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975 của Lã Thị Bắc Lý (NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2000); Chủ nghĩa hiện thực Nam Cao của Trần Đăng Xuyền (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2001); Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2002); Văn học Việt Nam trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2002); Ba đỉnh cao Thơ Mới của Chu Văn Sơn (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2003); Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh của Trần Hạnh Mai (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2003); Bản sắc hiện đại trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng của Nguyễn Phượng (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2005); Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của Trần Đăng Xuyền (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2010), v.v.

Về văn học nước ngoài có: Thi pháp tiểu thuyết L. Tolstoi của Nguyễn Hải Hà (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1992); Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại của Đặng Anh Đào (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2004); Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI của Phùng Văn Tửu (NXB TP.HCM, 2001); Cái kỳ ảo trong tác phẩm Balzac của Lê Nguyên Cẩn (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1999); Nghệ thuật Franz Kafka của Lê Huy Bắc (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2006); v.v.

Về lý luận văn học có: Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 của Phùng Ngọc Kiếm (NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 1998); Lý luận phê bình văn học Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX của Trần Mạnh Tiến (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 2001); Từ văn học so sánh đến thi học so sánh của Phương Lựu (NXB Văn Học, Hà Nội, 2002); v.v.

Về ngôn ngữ học có: Câu đơn tiếng Việt của Diệp Quang Ban (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1987); Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử của Nguyễn Ngọc San (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1993); Phong cách học văn bản của Đinh Trọng Lạc (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1994); Từ trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt của Bùi Minh Toán (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1999); Nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ của Đỗ Việt Hùng (2011); v.v.

Về phương pháp dạy học ngữ văn có: Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học của Phan Trọng Luận (NXB Giáo Dục, Hà Nội, 1983); Phương pháp dạy học tiếng Việt của Bùi Minh Toán, Nguyễn Quang Ninh, Lê A (NXB Đại Học Sư Phạm Hà Nội, 1999); v.v.

____________

(1) Website của trường Đại học Sư phạm Hà Nội http://www.dhsphn.edu.vn/60NamDHSPHN/60namnhungchangduong/tabid/795/ctl/Detail/mid/1267/ID/748/Default.aspx ghi nhận: “Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSPHN) chính thức được thành lập ngày 11/10/1951 theo Nghị định của Bộ Quốc gia Giáo dục.” Theo sách Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – 60 năm xây dựng và phát triển (1951 – 2011) (NXB ĐHSP HN, 2011) thì: “Sau quá trình chuẩn bị về mọi mặt, ngày 11/10/1951, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ra hai nghị quyết quan trọng đối với ngành Sư phạm nói chung và đối với trường ĐHSP nói riêng. Thứ nhất: Nghị định số 276/NĐ thành lập các trường sư phạm: sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Các trường được đặt ở khu học xá trung ương đóng tại Nam Ninh, Trung Quốc. Nhiều cán bộ giáo dục và khoa học có năng lực đã tập trung về khu học xá trung ương làm giáo viên giảng dạy. Số cán bộ giảng dạy lúc đầu mới có: Lê Văn Thiêm, Ngụy Như Kon Tum, Nguyễn Xiển, Hoàng Ngọc Cang, Nguyễn Cảnh Toàn, Dương Trọng Bái, Nguyễn Thạc Cát, Lê Khả Kế, Đào Văn Tiến, Nguyễn Lân, Nguyễn Hữu Tảo. Trường Sư phạm cao cấp ở khu học xá trung ương đào tạo giáo viên cấp III. Khóa I có 27 sinh viên – hầu hết là giáo viên được cử đi học. Trường Sư phạm cao cấp ở Nam Ninh chỉ có các bộ môn về khoa học tự nhiên với 3 ban: ban Toán – Lý có 7 sinh viên; ban Hóa – Sinh có 9 sinh viên; ban Lý – Hóa có 11 sinh viên. Cho đến khóa sau, trường có tổng số 107 sinh viên. Giáo sư Lê Văn Thiêm được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Thứ hai: Nghị định số 277/NĐ thành lập trường Dự bị đại học liên khu IV. Giáo sư Đặng Thai Mai đang làm Giám đốc Sở Giáo dục liên khu IV được cử kiêm nhiệm Giám đốc trường Dự bị đại học liên khu IV. Trường Dự bị đại học có hai phân hiệu: một ở Nghệ An và một ở Thanh Hóa. Phân hiệu Nghệ An do Giáo sư Đặng Thai Mai và Giáo sư Nguyễn Thúc Hào phụ trách. Phân hiệu Thanh Hóa do Giáo sư Trần Văn Giàu và Giáo sư Đặng Xuân Thiều phụ trách. Ở mỗi phân hiệu đều có 2 ban: khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.”

(2) Vũ Đình Liên (1913 – 1996) là nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà dịch thuật, nhà lý luận phê bình văn học. Tác phẩm nổi tiếng nhất của Vũ Đình Liên là bài thơ Ông đồ.

(3) Đây là nhà giáo, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Lương Ngọc (1910 – 1994), từng đảm trách chức vụ Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội giai đoạn 1967 – 1975, đã được phong giáo sư và nhà giáo nhân dân; chứ không phải nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc (1958 -2001)

(4) Phương Lựu là bút danh của Bùi Văn Ba, chào đời năm Bính Tý 1936 tại Quảng Ngãi, đến nay vẫn là trường hợp duy nhất bảo vệ thành công ở trong nước luận án TSKH về văn học.

(5) Trước đó, Ban Tu thư thuộc Vụ Giáo dục phổ thông của Bộ Giáo dục đảm trách việc biên soạn sách giáo khoa.

 (Còn nữa)

Read Full Post »

Vui mừng điểm lại công việc

Từ 2010 đến 2014, trong 5 năm, 6 lần Gặp gỡ toán học được tổ chức, càng lúc càng “khí thế”, càng “vượng”. Đó là thành công bước đầu rất phấn khởi.

TS. Trần Nam Dũng tại cuộc Gặp gỡ toán học lần III vào tháng 8-2011 ở Công ty Titan Education. Ảnh: Phanxipăng

TS. Trần Nam Dũng tại cuộc Gặp gỡ toán học lần III vào tháng 8-2011 ở Công ty Titan Education. Ảnh: Phanxipăng

Lực lượng giảng huấn các lần Gặp gỡ toán học đến từ các đơn vị:

* Viện Toán học:  GS.TSKH. Ngô Việt Trung (Viện trưởng), GS.TSKH. Hà Huy Khoái, TS. Nguyễn Chu Gia Vượng.

* Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: chuyên viên Nguyễn Khắc Minh.

* Khoa Toán – Tin học trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM: GS.TS. Đặng Đức Trọng (Trưởng khoa), TS. Lê Bá Khánh Trình, TS. Trần Nam Dũng.

* Trung tâm Tài nguyên và Môi trường Đại học Quốc gia TP.HCM: PGS.TSKH. Bùi Tá Long.

* Bộ môn Toán thống kê trường Đại học Kinh tế – Luật TP.HCM: PGS.TS. Lê Anh Vũ.

* Đại học Giáo dục Hà Nội: PGS.TS. Lê Anh Vinh.

* Đại học Nguyễn Tất Thành: TS. Nguyễn Văn Lượng (Hiệu phó).

* Sở GD-ĐT TP.HCM: ThS. Dương Bửu Lộc, nhà giáo Nguyễn Đức Tấn.

* Trường THPT chuyên của Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội: nhà giáo Trần Quang Hùng.

* Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM: ThS. Nguyễn Phú Sỹ, ThS. Phạm Viết Quý.

* Trường THPT chuyên Phan Bội Châu, Vinh, Nghệ An: ThS. Phạm Sỹ Nam.

* Trường THPT Năng khiếu TP.HCM: ThS. Nguyễn Thanh Dũng, ThS. Nguyễn Trọng Tuấn.

Bên cạnh đội ngũ giảng viên, Gặp gỡ toán học linh hoạt đưa các sinh viên từng là học sinh đạt giải toán QG và IMO làm huấn luyện viên: Võ Quốc Bá Cẩn, Lê Phúc Lữ, Phạm Hy Hiếu, Nguyễn Mạnh Tiến, Lê Tạ Đăng Khoa, Nguyễn Đình Toàn, Võ Văn Huy, Nguyễn Văn Huyện, Nguyễn Đức Anh, Cấn Trần Thành Trung, Nguyễn Xuân Hóa, Lưu Giang Nam, Phan Hồng Hạnh Trinh, Lê Thị Minh Thảo, v.v.

Khai mạc Gặp gỡ toán học lần V vào ngày 29-7-2013, TS. Trần Nam Dũng (sơ mi trắng) giới thiệu 9 huấn luyện viên, xem ảnh từ trái sang: Nguyễn Đình Toàn (nhất quốc gia / QG), Nguyễn Đức Anh (nhì QG), Lê Phúc Lữ (nhì QG), Nguyễn Văn Huyện (ba QG), Nguyễn Mạnh Tiến (nhì QG), Cấn Trần Thành Trung (nhì QG & HCV IMO), Lê Hồng Hạnh Trinh (nhì QG), Phan Thị Minh Thảo (ba QG), Võ Quốc Bá Cẩn (ba QG). Ảnh: Mỹ Hạnh

Khai mạc Gặp gỡ toán học lần V vào ngày 29-7-2013, TS. Trần Nam Dũng (sơ mi trắng) giới thiệu 9 huấn luyện viên, xem ảnh từ trái sang: Nguyễn Đình Toàn (nhất quốc gia / QG), Nguyễn Đức Anh (nhì QG), Lê Phúc Lữ (nhì QG), Nguyễn Văn Huyện (ba QG), Nguyễn Mạnh Tiến (nhì QG), Cấn Trần Thành Trung (nhì QG & HCV IMO), Lê Hồng Hạnh Trinh (nhì QG), Phan Thị Minh Thảo (ba QG), Võ Quốc Bá Cẩn (ba QG). Ảnh: Mỹ Hạnh

Trong danh sách giảng viên và huấn luyện viên vừa nêu, tùy điều kiện từng lần mà ban tổ chức Gặp gỡ toán học nhiệt tình mời người nọ kẻ kia nhằm phối hợp thực hiện cuộc tập huấn một cách tốt đẹp. Gặp gỡ toán học còn tranh thủ đón các trí thức thiết tha với sự nghiệp giáo dục đến báo cáo: Viện sĩ Yuri Vladimirnovic Egorov (Nga), TS. Nguyễn Thành Nam (Tổng Giám đốc Công ty FPT), ThS. Trần Vĩnh Hưng (Nghiên cứu sinh TS tại Đại học Berkeley, Hoa Kỳ), ThS. Nguyễn Tiến Khải (Nghiên cứu sinh TS tại Đại học Padova, Ý).

Mỗi lần Gặp gỡ toán học, nếu không được tài trợ, mỗi học sinh nộp học phí 2 triệu đồng. Học phí có tính luôn chi phí xe đưa đón từ ký túc xá đến lớp học, nhưng không bao gồm tiền ăn, ở, và phương tiện giao thông từ địa phương đến TP.HCM. Tham dự Gặp gỡ toán học, học sinh chuyên toán từ nhiều tỉnh thành được phân thành 4 lớp:

* Lớp S1: các “sĩ tử” đã dự thi học sinh giỏi toán QG.

* Lớp S2: các học sinh còn lại của lớp 12 và các học sinh lớp 11 đạt thành tích tốt.

* Lớp M: các học sinh còn lại của lớp 11.

* Lớp J: các học sinh lớp 10 (3).

Tính đến nay, không kể trường hợp hy hữu là du học sinh từ nước ngoài về thăm nhà và đăng ký tham dự, thì trên địa bàn Việt Nam từ Bắc vào Nam, học sinh chuyên toán từ 36 tỉnh thành từng hào hứng tham gia Gặp gỡ toán học, có địa phương mới 1 lần, nhiều địa phương đủ 6 lần: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hậu Giang, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau.

Tham gia Gặp gỡ toán học, mỗi tỉnh thành thông thường là 1 đoàn, lại có tỉnh thành (như TP.HCM, Đồng Tháp) nhiều đoàn, ngoài ra còn các học sinh một số tỉnh (như Thanh Hóa, Nghệ An) nhân thăm viếng TP.HCM thì đăng ký dự mà chẳng tạo nên đoàn.

Hào hứng dự phóng tương lai

– 6 lần Gặp gỡ toán học đều tổ chức ở TP.HCM. Tại sao không tiến hành tại những nơi khác?

Nghe tôi hỏi vậy, TS. Trần Nam Dũng gật gù:

– Mỗi lần Gặp gỡ toán học ở một nơi, nào Rạch Giá, Cần Thơ, Mỹ Tho, nào Vũng Tàu, Phan Thiết, Nha Trang, nào Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Pleiku, v.v., chắc chắn quá hay, quá hấp dẫn, tất nhiên đòi hỏi ban tổ chức năng động hơn nữa. Đang dự kiến Gặp gỡ toán học lần VII vào năm 2015 sẽ diễn ra tại Đà Nẵng, anh ạ.

Khai mạc Gặp gỡ toán học lần VI vào ngày 4-8-2014, TS. Trần Nam Dũng giới thiệu lực lượng nam nữ huấn luyện viên. Ảnh: Phúc Đường

Khai mạc Gặp gỡ toán học lần VI vào ngày 4-8-2014, TS. Trần Nam Dũng giới thiệu lực lượng nam nữ huấn luyện viên. Ảnh: Phúc Đường

– Thêm tại sao nữa nhé. Tại sao Gặp gỡ toán học chưa thu hút học sinh chuyên toán Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, và các tỉnh thành từ Ninh Bình trở ra Bắc?

Trần Nam Dũng trả lời:

– Nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho học sinh chuyên toán bậc THPT, với các tỉnh không chỉ miền Bắc, mà từ Thừa Thiên – Huế trở ra, từ năm 2012 có Trường hè toán học(4) do nhóm cán bộ công tác tại Viện Toán học gồm GS.TS. Phùng Hồ Hải (Viện phó kiêm Tổng thư ký Hội Toán học Việt Nam), PGS. TS. Phan Thị Hà Dương, TS. Nguyễn Chu Gia Vượng, TS. Vũ Thế Khôi, TS. Đoàn Trung Cường tổ chức (5). Từ năm 2013, Trường hè toán học cũng được chương trình trọng điểm QG phát triển toán học bảo trợ 200 triệu/năm để làm. Họ chỉ làm đúng số tiền này nên mỗi lần Trường hè toán học chỉ có 100 học sinh tham dự.

Tôi gợi ý:

– Nếu khéo léo kết hợp Gặp gỡ toán học với Trường hè toán học thành một, thống nhất triển khai trên toàn quốc, rõ ràng cuộc tập huấn thú vị và bổ ích này càng thêm vững mạnh, tốt đẹp biết bao.

– Chân thành cảm ơn anh Phanxipăng. Đó là phương án tối ưu. Đoàn kết, chắc chắn chuyên môn tốt hơn, đủ khả năng “phủ sóng” khắp cả nước. Xét về lâu về dài, để cuộc tập huấn thường niên này phát triển sâu rộng và thông thoáng, Nam Dũng chủ trương rằng cơ chế tài chính nên theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.

Lê Bá Khánh Trình nhận xét:

– TS. Trần Nam Dũng suốt thời gian dài suy nghĩ, vận động, liên hệ, nay năng nổ thực hiện được 6 cuộc Gặp gỡ toán học theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, rất đáng khích lệ. Với quy cách “học mà chơi, chơi mà học”, Gặp gỡ toán học là hoạt động vui vẻ và hữu ích với học sinh chuyên toán, cần tiếp tục phát huy. Tuy nhiên, chỉ mình Nam Dũng dẫu giỏi chuyên môn và thừa nhiệt tình, e cũng khó xông xáo lâu-dài-sâu-rộng nhằm “đạo diễn” Gặp gỡ toán học, ấy chưa kể một cá nhân nhỡ đúng “giờ cao điểm” mà cơ thể chẳng may ngọa bệnh thì xử lý ra sao? Do đó, quan trọng nhất là lập ban tổ chức Gặp gỡ toán học gồm những người tâm huyết, đủ năng lực và gắn bó với nhau.

Tháng 8-2014, các thành viên Gặp gỡ toán học lần VI tham quan Dinh Độc Lập. Ảnh: Thanh Huyền

Tháng 8-2014, các thành viên Gặp gỡ toán học lần VI tham quan Dinh Độc Lập. Ảnh: Thanh Huyền

Theo tôi, bên cạnh Gặp gỡ toán học, chúng ta còn cần Gặp gỡ văn học, Gặp gỡ tin học, Gặp gỡ lịch sử, Gặp gỡ địa lý, Gặp gỡ vật lý, Gặp gỡ hoá học, Gặp gỡ sinh vật học, Gặp gỡ ngoại ngữ mỗi niên khoá nhằm giúp học sinh giỏi các bộ môn khác có điều kiện du lịch, giao lưu, rèn luyện chuyên môn với các giảng viên uy tín. Những cuộc Gặp gỡ ấy còn thu hút đông đảo phụ huynh học sinh và giáo viên các lớp chuyên. Ban tổ chức Gặp gỡ nên sớm kiện toàn lực lượng, chu đáo vạch kế hoạch chung cũng như từng bộ môn. Được các ngành các cấp hữu quan tạo điều kiện thuận lợi, chương trình Gặp gỡ  vô cùng hân hoan khi được trường THPT chuyên hoặc có lớp chuyên và đội tuyển học sinh giỏi ở mọi tỉnh thành khắp cả nước hưởng ứng. Chương trình Gặp gỡ rất cần sự hỗ trợ quý báu của các cá nhân và tổ chức hảo tâm nhằm đẩy mạnh, nâng cao sự nghiệp giáo dục. ♥

_________________

(3) S: Senior: lớn. M: Middle: nhỡ. J: Junior: nhỏ.

(4) Cùng Trường hè toán học, từ năm 2012 đến nay còn có Trại hè toán học. TS. Trần Nam Dũng phân biệt: “Trường, học là chính. Trại, chơi là chính.”

(5) Trong nhóm này có những người đã tham gia IMO và đoạt huy chương: Phùng Hồ Hải (1986, đồng), Phan Thị Hà Dương (1990, đồng), Nguyễn Chu Gia Vượng (1993, vàng; 1994, bạc).

 

  • Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ 912 (25-9-2014)

 

Read Full Post »

Từ năm 2010 đến nay, với sự hướng dẫn của nhiều nhà giáo nổi tiếng, chương trình Gặp gỡ toán học diễn ra thường niên, giúp học sinh chuyên toán từ nhiều tỉnh thành đến với nhau để “học mà chơi, chơi mà học” trong tinh thần đoàn kết tương thân tương ái.

Chúng ta hãy cùng nhau hoan hỷ đúc rút kinh nghiệm nhằm trù liệu hướng phát triển chương trình thú vị và bổ ích này trong tương lai.

Phanxipăng & Trần Nam Dũng khai mạc Gặp gỡ toán học lần VI vào sáng 4-8-2014. Ảnh: Thanh Huyền

Phanxipăng & Trần Nam Dũng khai mạc Gặp gỡ toán học lần VI tại TP.HCM vào sáng 4-8-2014. Ảnh: Thanh Huyền

Mỗi niên khóa, học sinh chuyên từ tất cả tỉnh thành khắp cả nước nếu được tập huấn chung cỡ một tuần thì quá thú vị, quá bổ ích. Đó là cơ hội giao lưu và cọ xát với bạn bè gần xa, được nhiều nhà giáo tâm huyết và có uy tín giảng dạy, lại được thăm viếng bao danh lam thắng cảnh của quê hương. Cuộc tập huấn chung ấy tất cộng sức mạnh của nhiều đơn vị về nhân lực lẫn vật lực, chắc chắn nhân rộng hiệu quả tích cực. Thế nhưng, điều hay ho kia chẳng dễ thực hiện vào thời gian trước đây vì hàng loạt lý do – trong đó có sự khó khăn về tài chính, phương tiện giao thông vận tải, nơi ngủ nghỉ và sinh hoạt, v.v

Các năm 1995 và 1996, có 3 cuộc Gặp gỡ hữu nghị giữa đội tuyển toán của trường Phổ thông Năng khiếu (trực thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM) với đội tuyển toán của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong tại TP.HCM. Hoạt động đó đã giúp ý tưởng trên manh nha trong lòng một số giáo viên nhiệt tình.

Lê Bá Khánh Trình – từng là học sinh chuyên toán trường THPT Quốc Học ở Huế, đã đoạt huy chương vàng và giải đặc biệt Olympic toán quốc tế (International Mathematical Olympiad: IMO) năm 1979 tại London, thủ đô nước Anh, rồi sang Nga, làm sinh viên và nghiên cứu sinh tại Đại học Tổng hợp Matxkva mang tên Lomonosov (Moskovskij Gosudarstvennyj Universitet: MGU), nay giảng dạy tại khoa Toán – Tin học trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM và trường Phổ thông năng khiếu – cho hay:

– Giai đoạn 1996 – 2001, đội tuyển toán của trường Phổ thông Năng khiếu mỗi năm đều tập trung 10 ngày nơi trang trại của gia đình mình ở huyện Hóc Môn, càng khiến những người gắn bó với sự nghiệp giáo dục suy nghĩ phương án thực hiện cuộc tập huấn chung.

Trần Nam Dũng – từng là học sinh chuyên toán trường THPT Phan Châu Trinh ở Đà Nẵng, đã đoạt huy chương bạc IMO năm 1983 tại Paris, thủ đô nước Pháp, rồi sang Nga làm sinh viên và nghiên cứu sinh tại MGU, nay giảng dạy tại khoa Toán – Tin học trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM và trường Phổ thông năng khiếu – bắt tay tôi:

– Xin tặng anh Phanxipăng mấy bộ sách mà Nam Dũng đã góp công biên soạn.

Đó là chồng sách Tài liệu chuyên toán 10, 11, 12 (NXB Giáo Dục Việt Nam, 2009, 2010, 2011), Các phương pháp giải toán qua các kỳ thi Olympic (NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2013). Nam Dũng nhoẻn cười:

– Chân thành cảm ơn báo Giáo Dục Và Đào Tạo đưa tin vắn 36 đoàn học sinh, giáo viên chuyên toán “Gặp gỡ toán học” lần V rất nhanh nhạy, đúng vào ngày khai mạc là thứ hai 4-8-2014 (1). Một số báo khác cũng gọi đây là cuộc Gặp gỡ toán học lần V. Xin đính chính tí xíu: tuy tổ chức thường niên, nhưng năm đầu tiên 2010 đã tổ chức những 2 lần, nên Gặp gỡ toán học năm 2014 là lần VI.

Rồi Nam Dũng hồi tưởng:

– Lường trước rằng không dễ dàng gì khi thực hiện cuộc tập huấn chung, nên ban tổ chức phải chuẩn bị dần từng bước. Từ năm 2008, được các tỉnh thành gần xa mời giảng dạy, Nam Dũng đều tuyên truyền về chương trình Gặp gỡ toán học. Khi đã nhận được khá nhiều sự ủng hộ, Nam Dũng mạnh dạn liên kết với các cơ quan chức năng để tổ chức Gặp gỡ toán học lần I vào tháng 1-2010.

Tháng 1-2010, tại Nhà công vụ Đại học Quốc gia TP.HCM, GS.TS. Ngô Việt Trung (Viện trưởng Viện Toán học) cùng các giáo viên và học sinh tham gia Gặp gỡ toán học lần đầu tiên. Ảnh: Cao Minh Quang

Tháng 1-2010, tại Nhà công vụ Đại học Quốc gia TP.HCM, GS.TSKH. Ngô Việt Trung (Viện trưởng Viện Toán học) cùng các giáo viên và học sinh tham gia Gặp gỡ toán học lần đầu tiên. Ảnh: Cao Minh Quang

Sáu lần Gặp gỡ toán học

Cuộc Gặp gỡ toán học lần đầu diễn ra từ ngày 25 đến ngày 31-1-2010, thu hút 45 học sinh chuyên toán từ 6 tỉnh thành, gồm 8 trường Phổ thông Năng khiếu, Trung học Thực hành (trực thuộc Đại học Sư phạm TP.HCM), Lê Hồng Phong (TP.HCM), Trần Đại Nghĩa (TP.HCM), Lương Thế Vinh (Đồng Nai), Lương Văn Chánh (Phú Yên), Nguyễn Bỉnh Khiêm (Vĩnh Long), Lý Tự Trọng (Cần Thơ), tập trung ở Nhà khách công vụ Đại học Quốc gia TP.HCM. Không chỉ hăng say rèn luyện đại số, số học, hình học, giải tích, tổ hợp, các học sinh Gặp gỡ toán học lần I còn cùng nhau vui vẻ tham quan khu du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến ở thị xã Thủ Dầu Một (2), tỉnh Bình Dương.

Thật vui mừng là trong số 45 thành viên tham dự Gặp gỡ toán học lần đầu, có những người sau đó thi đạt giải học sinh giỏi môn toán cấp quốc gia (QG) và quốc tế (IMO). Chẳng hạn Nguyễn Thị Thanh Hoà (Đồng Nai), Nguyễn Thế Kỷ Cương, Đào Mạnh Khang, Nguyễn Mạnh Tiến, Nguyễn Tiến Trình (TP.HCM) đạt giải ba; Phạm Yofi (Cần Thơ), Phạm Minh Khoa (Đồng Nai), Phạm Trung Hiếu, Từ Nguyễn Thái Sơn (TP.HCM) đạt giải khuyến khích. Đặc biệt, Trần Thái Hưng (lớp 11 trường Trung học Thực hành của Đại học Sư phạm TP.HCM) đạt giải nhì học sinh giỏi toán QG năm 2010, rồi đạt huy chương bạc IMO được tổ chức năm 2013 ở Kazakhstan.

Cuộc Gặp gỡ toán học lần thứ nhì diễn ra từ ngày 16 đến ngày 22-8-2010, thu hút 54 học sinh chuyên toán từ 6 tỉnh thành TP.HCM, Đồng Nai, Cần Thơ, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Bình tập trung ở trường THCS & THPT Âu Lạc tại quận Gò Vấp, TP.HCM. Viện sĩ lão thành Yuri Vladimirnovic Egorov từ Nga sang Việt Nam đã dành thời gian nói chuyện với các thành viên Gặp gỡ toán học lần II. Ông tủm tỉm truyền “bí quyết”:

– Muốn giỏi toán, rất cần thường xuyên thực hành tốt ngoại ngữ và thể dục thể thao.

Khai mạc Gặp gỡ toán học lần II ngày 16-8-2010. Ảnh: Phanxipăng

TS. Nguyễn Đức Nghĩa – Phó Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM – nói chuyện tại lễ khai mạc Gặp gỡ toán học lần II ngày 16-8-2010. Ảnh: Phanxipăng

Các học sinh Gặp gỡ toán học lần II đã dành 2 buổi chiều chơi thể thao tuỳ thích, và trọn ngày sinh hoạt tập thể đầy hứng thú trong khu du lịch sinh thái được tạo lập xinh xắn quanh thác Giang Điền ở huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Ngày thứ sáu 20-8-2010 ấy, mọi người hào hứng bàn thảo về đôi tin mừng. Tin mừng 1: Chương trình trọng điểm QG phát triển toán học giai đoạn 2010 – 2020 được Chính phủ phê duyệt với tổng kinh phí đầu tư 651 tỉ đồng với mục tiêu phát triển nền toán học Việt Nam mạnh về nghiên cứu, ứng dụng và giảng dạy. Tin mừng 2: GS.TSKH. Ngô Bảo Châu là nhà toán học đầu tiên của Việt Nam vừa đoạt giải Fields. Giọng TS. Trần Nam Dũng sôi nổi:

– Chiều 19-8-2010, các thành viên Gặp gỡ toán học lần II đang học thì tạm dừng. Tivi trong hội trường bật sáng: truyền hình trực tiếp lễ trao giải Fields tại Trung tâm hội nghị quốc tế TP. Hyderabad, Ấn Độ. Lúc cái tên Ngô Bảo Châu được xướng lên, rồi anh ấy nhận huân chương vàng từ tay nữ tổng thống Ấn là bà Shrimati Pratibha Patil, tất cả học sinh Gặp gỡ toán học đều cảm động lắm.

Cuộc Gặp gỡ toán học lần III diễn ra từ ngày 8 đến ngày 14-8-2011 tại Công ty cổ phần giáo dục Titan, thu hút 89 nam nữ học sinh chuyên toán từ 12 tỉnh thành thích thú dồn về “Hòn ngọc Viễn Đông”. Học sinh thứ 90 đến từ nước Nga. Đó là Tạ Đăng Dương, đang học chuyên toán ở Matxkva, theo cha mẹ về thăm cố hương, biết có Gặp gỡ toán học, liền đăng ký tham dự.

Không chỉ bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện giải bài tập và thi toán, các học sinh Gặp gỡ toán học lần III còn đến huyện Củ Chi ngoại thành để vui chơi dã ngoại tại Khu du lịch sinh thái văn hoá dân tộc thiểu số ở xã Nhuận Đức và Khu địa đạo Bến Dược ở xã Phú Mỹ Hưng trọn ngày 12-8-2011.

Đặc biệt, trong chương trình Gặp gỡ toán học lần III, 108 giáo viên giảng dạy chuyên toán từ các trường chuyên ở Hà Nội, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Đăk Lăk, Bình Phước, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, TP.HCM, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang đã “quần anh tụ hội”, rôm rả trao đổi bao điều liên quan nghề nghiệp. Cùng với việc tiếp thụ 4 bài giảng của GS.TSKH. Hà Huy Khoái, TS. Lê Bá Khánh Trình, TS. Trần Nam Dũng và chuyên viên Nguyễn Khắc Minh, các giáo viên còn tích cực hội thảo Các vấn đề trong giảng dạy chuyên toán bậc THPT hiện nay.

TS. Lê Bá Khánh Trình giảng dạy hình học sáng 8-8-2011 tại cuộc Gặp gỡ toán học lần III. Ảnh: Phanxipăng

TS. Lê Bá Khánh Trình giảng dạy hình học sáng 8-8-2011 tại cuộc Gặp gỡ toán học lần III. Ảnh: Phanxipăng

Cuộc Gặp gỡ toán học lần IV diễn ra từ 29-7 đến 5-8-2012 tại Công ty cổ phần giáo dục Titan, thu hút 110 học sinh đến từ 11 tỉnh thành đến TP.HCM. Các thành viên có một ngày du lịch tỉnh Tây Ninh, đến gần giáp giới Campuchia, thăm R tức căn cứ Trung ương cục miền Nam – di tích quốc gia đặc biệt.

Thành quả đáng ghi nhận: có 3 học sinh Võ Anh Đức, Cấn Trần Thành Trung, Phạm Tuấn Huy dự Gặp gỡ toán học lần IV sau đó được sang Colombia tham gia IMO năm 2013, đều đoạt huy chương vàng.

Cuộc Gặp gỡ toán học lần V diễn ra từ ngày 29-7 đến 4-8-2013, thu hút 200 học sinh từ 27 tỉnh thành đến TP.HCM. Một trong những điều vui: từ lần này, chương trình trọng điểm QG phát triển toán học giai đoạn 2010 – 2020 chính thức công nhận và bảo trợ Gặp gỡ toán học. Cụ thể là chương trình đã tài trợ 100 học sinh được tham gia miễn phí Gặp gỡ toán học lần V, bao gồm vé tàu hỏa hoặc ô tô đi về, tiền ăn, tiền lưu trú và phương tiện đưa đón.

Các thành viên Gặp gỡ toán học lần V cùng nhau đến ấp Cây Chanh, xã Tân Định, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, vui chơi trong Khu du lịch nghỉ dưỡng Mắt Xanh ven dòng sông Bé.

Ghi nhận tiếp thành quả: có 3 học sinh dự Gặp gỡ toán học lần V sau đó được sang Nam Phi tham gia IMO năm 2014 là Vương Nguyễn Thùy Dương và Hồ Quốc Đăng Hưng cùng đoạt huy chương bạc, Phạm Tuấn Huy đoạt huy chương vàng lần 2.

Cuộc Gặp gỡ toán học lần VI diễn ra từ ngày 4 đến ngày 10-8-2014, quy tụ 215 học sinh chuyên toán từ 31 tỉnh thành. Bên cạnh việc học và hành về toán, ngày tại trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, đêm tại ký túc xá trường Cán bộ quản lý giáo dục TP.HCM, các thành viên Gặp gỡ toán học lần V đã cùng nhau vui vẻ tham quan một số điểm du lịch tại “Hòn ngọc Viễn Đông”, trong đó có Dinh Độc Lập và tháp Bitexco – tòa nhà chọc trời bằng bê tông cốt thép và kính, gồm 68 tầng, đạt tổng chiều cao 265m, do kiến trúc sư Carlos Zapata thiết kế.

Cùng với việc rèn luyện đại số, số học, hình học, giải tích, tổ hợp, Gặp gỡ toán học còn là dịp giao lưu, vui chơi, giải trí. Ảnh: Thanh Huyền

Cùng với việc rèn luyện đại số, số học, hình học, giải tích, tổ hợp, Gặp gỡ toán học còn là dịp giao lưu, vui chơi, giải trí. Ảnh: Thanh Huyền

_________________

(1) Tin vắn của Phúc Đường đăng báo Giáo Dục & Thời Đại điện tử ngày 4-8-2014 & in giấy ngày 5-8-2014.

(2) Từ ngày 2-5-2012, theo nghị quyết số 11/NQ-CP do Chính phủ ban hành, thị xã Thủ Dầu Một được nâng cấp lên thành phố.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Lê Bá Khánh Trình và tôi thân thiết nhau từ thuở học trò đến nay. Cuối thập niên 1970, hai đứa là bạn “đồng môn, dị phái”. Nghĩa là cùng khối lớp tại trường Quốc Học – Huế, nhưng đứa chuyên… tán (toán), đứa chuyên… ăn (văn). Năm 1979, tôi đoạt giải nhì học sinh giỏi văn toàn quốc, Lê Bá Khánh Trình đoạt giải tư học sinh giỏi toán toàn quốc rồi liền sau đó đoạt giải nhất và giải đặc biệt tại kỳ thi Olympic toán quốc tế (International Mathematical Olympiad: IMO) lần thứ XXI được tổ chức tại London, thủ đô nước Anh. Năm 1980, tôi là sinh viên khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Lê Bá Khánh Trình qua Liên Xô học khoa Toán – Cơ trường Đại học Tổng hợp Matxkva mang tên Lomonosov. Giai đoạn làm sinh viên rồi nghiên cứu sinh ở Nga, lần nào về nước, Lê Bá Khánh Trình cũng tìm tôi để “bù khú cho đã”. Giờ đây, hạnh ngộ giữa Sài Gòn, hai đứa lại là bạn “đồng ngành, dị nghệ”. Nghĩa là cùng gọi Bộ Giáo dục và Đào tạo là “Bộ mình”, nhưng tôi mải mê viết văn và làm báo, còn Lê Bá Khánh Trình thì chăm chú giảng dạy giải tích tại khoa Toán – Tin học trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM, đồng thời rèn luyện hình học cho các lớp chuyên toán của trường THPT Năng khiếu trực thuộc trường này.

Đôi bạn Lê Bá Khánh Trình & Phanxipăng tại biển Vũng Tàu mùa hè năm 2010. Ảnh: Suy Min

Đôi bạn Lê Bá Khánh Trình & Phanxipăng tại biển Vũng Tàu mùa hè năm 2010. Ảnh: Suy Min

Nhà gần nhau, nên Lê Bá Khánh Trình với tôi năng gặp nhau, thỉnh thoảng còn cùng nhau ghé chơi thành này tỉnh nọ. Đây là trích đoạn đối thoại của chúng tôi trong một cuộc ngoạn du / du ngoạn.

Phanxipăng: Từ sau khi ẵm giải nhất, lại khua luôn giải đặc biệt IMO năm 1979, Lê Bá Khánh Trình được báo chí khai thác “hơi bị” nhiều. Đề nghị bạn nói thật: trong loạt bài đó, có những điểm nào “nhà văn tán láo, nhà báo bốc phét” chăng?

Lê Bá Khánh Trình: Chậc… Vô thiên lủng! Có bài báo ca ngợi rằng Lê Bá Khánh Trình từ tấm bé đã giải toán “cực kỳ cừ khôi”. Sự thật thì ngược lại. Lúc nhỏ, mình học yếu nhiều môn, kể cả toán. Lớp có sĩ số 32 học sinh, tháng nào mình cũng bị xếp vị thứ 26 hoặc 27. Cha mẹ mình khuyên nhủ mãi, mình cố gắng ngoi dần. Đến cuối cấp II (nay là bậc THCS) trường Thống Nhất ở Huế, mình đứng nhì lớp. Năm 1976, mình thi đậu vào lớp 10 khối chuyên toán trường Quốc Học.

  • Còn điều gì liên quan Lê Bá Khánh Trình bị báo chí phản ánh sai lầm?

–       Năm 1979, đội tuyển học sinh Việt Nam giỏi toán gồm “4 chàng ngự lâm pháo thủ” qua Luân Đôn tham dự IMO. 3 chàng kia – gồm Phạm Hữu Tiệp, Phạm Ngọc Anh Cương, Bùi Tá Long – đều đoạt huy chương bạc. Mình đạt tổng điểm tối đa 42/42 nên giật huy chương vàng, lại hân hạnh nhận thêm giải đặc biệt dành cho thí sinh có lời giải “đẹp” nhất. Chẳng rõ căn cứ vào đâu mà có báo loan rằng đích thân nữ hoàng Elizabeth đệ nhị trao giải cho Lê Bá Khánh Trình. Trật lất! Người trao giải cho mình không phải nữ hoàng, mà là một nữ quận công đại diện cho nữ hoàng. Quan trọng là nữ quận công đó xinh phết.

  • Bài thi IMO năm 1979 của Lê Bá Khánh Trình sau đó được đưa về Việt Nam, trưng bày trong Nhà Bảo tàng ở Huế?

–       Nhiều phóng viên nhìn thấy bài của Lê Bá Khánh Trình được trưng bày trong Nhà Bảo tàng nơi đường Lê Lợi, TP. Huế, liền phán đoán thế. Thế là nhầm to! Sau khi tham gia IMO năm 1979 tại Luân Đôn, mình đã mang một số tờ giấy thi còn trống về. Các cán bộ bảo tồn bảo tàng đề nghị mình chép lại bài đã làm vào giấy thi đó để trưng bày. Đó là bản sao theo trí nhớ, chứ chẳng phải nguyên bản.

Lê Bá Khánh Trình giảng dạy hình học cho học sinh chuyên toán trong cuộc “Gặp gỡ toán học” lần III, ngày 8-8-2011. Ảnh: Phanxipăng

Lê Bá Khánh Trình giảng dạy hình học cho học sinh chuyên toán trong cuộc “Gặp gỡ toán học” lần III, ngày 8-8-2011. Ảnh: Phanxipăng

  • Với tư cách nhà sư phạm, Lê Bá Khánh Trình nghĩ gì về các cuộc thi học sinh giỏi nhiều môn cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương, cấp quốc gia, và cấp quốc tế? Về sự phục hồi việc học sinh giỏi cấp quốc gia được tuyển thẳng vào đại học và cao đẳng theo quy chế có hiệu lực từ ngày 9-1-2012, ý kiến của bạn ra sao?

–       Các cuộc thi học sinh giỏi dù bất kỳ môn nào và cấp nào thảy đều cần thiết, nhất là với sự nghiệp đào tạo mũi nhọn. Tất nhiên, lo phát triển mũi nhọn thì không thể quên tăng cường giáo dục đại trà. Hãy lưu ý rằng các cuộc thi học sinh giỏi nhiều môn nhiều cấp cũng là các cuộc chơi đầy trí tuệ. Chơi thì đừng quá căng thẳng. Nhiều nước mạnh về toán như Đức, Pháp, Bỉ, Nga, Thuỵ Điển, Hoa Kỳ chẳng xem IMO là mốc to tát. Lại thêm: rất cần chơi đẹp, thể hiện qua hệ thống đề được đầu tư xây dựng thoả đáng, đổi mới, kích thích thí sinh phát huy sáng tạo; thể hiện qua quy cách chấm khoa học, công bằng, minh bạch. Việt Nam vừa phục hồi có sửa đổi việc học sinh giỏi cấp quốc gia đạt giải được tuyển thẳng vào đại học và cao đẳng là nguồn khuyến khích hợp lý đối với mỗi thành viên từng đội tuyển, nhưng chắc chắn ảnh hưởng tiêu cực hoặc ít hoặc nhiều đến khâu ra đề lẫn chấm các kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia.

  • Hình như ít người biết rằng Lê Bá Khánh Trình trang bị vốn hiểu biết khá dày dặn về lịch sử, văn chương, hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc, kịch, điện ảnh, và cả thể thao?

–       Lần đầu thăm nhà riêng của mình, một số người tỏ vẻ ngạc nhiên: “Ồ! Một tủ rượu và mấy tủ sách báo. Chỉ xét nhan đề thì thấy số lượng đầu sách toán ít hơn văn và sử. Sao vậy hử?”. E thiên hạ ngạc nhiên hơn khi biết mình khoái sưu tập nhiều loại rượu do nhiều nước sản xuất để bày cho vui mắt, nhưng hiếm khi mình đưa cay. Mình cũng ưa ngắm tranh và tượng, ưa coi kịch và xem phim. Thể thao thì thỉnh thoảng chơi bóng bàn, chứ nổi bật là mình và bằng hữu ngồi cổ vũ một số trận World Cup được truyền hình trực tiếp. Sách thì mình thích đọc thơ, truyện, sử, nhưng sướng nhất là… truyện tranh, như mấy bộ Tintin, Lucky Lucke, Đôrêmon. Còn âm nhạc, ối dào, mình quá kết. Chắc Phanxipăng nhớ thuở học sinh trường Quốc Học – Huế, mình từng hoà tấu guitar cổ điển bản Polonaise của Michal Kleofas Oginski. Thuở học Đại học Lomonosov bên Nga, mình là Trưởng ban văn nghệ của sinh viên Việt Nam trong khoa Toán – Cơ, từng ôm guitar mà dập phừng phừng để hú hát nửa pop nửa rock hao hao Beatles. Mới đây, dự tiệc vui mang tính salon, mình độc tấu piano dăm khúc Đường xưa lối cũ của Hoàng Thi Thơ và Nắng chiều của Lê Trọng Nguyễn, cũng khiến đồng nghiệp ngạc nhiên: “Sao vậy hử?”.

Khánh Trình luyện khí. Ảnh: Phanxipăng

Khánh Trình luyện khí. Ảnh: Phanxipăng

  • Lê Bá Khánh Trình bị miệng thế đồn thổi lắm chuyện y như thật, chẳng hạn chuyện vượt biên thuở trước, chuyện làm Chủ nhiệm hay Phó Chủ nhiệm khoa Toán trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM và làm Hiệu trưởng trường THPT Năng khiếu hiện nay.

–       Trước khi sang Liên Xô du học, mình từ Huế ra Hà Nội luyện tiếng Nga ở trường Đại học Ngoại ngữ nơi quận Thanh Xuân. Hôm nọ, bị bệnh, mình đi khám thì cán bộ phòng y tế của trường ngạc nhiên: “Ủa! Chẳng phải Lê Bá Khánh Trình vượt biên rồi hả?”. Năm 1990, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ toán lý thuyết tại Matxkva, mình về nước, giảng dạy giải tích nơi khoa Toán trường Đại học Khoa học tự nhiên TP.HCM. Năm 1996, Đại học này mở trường THPT Năng khiếu, mình dạy thêm hình học cho các lớp học sinh chuyên toán. Mình chưa bao giờ làm Chủ nhiệm hay Phó Chủ nhiệm khoa Toán, càng chẳng có tên trong Ban Giám hiệu trường THPT Năng khiếu.

  • Qua phương tiện truyền thông đại chúng, Lê Bá Khánh Trình có thể “tiết lộ” chuyện vợ con cho bạn đọc gần xa biết được chăng?

–       Ờ, rất nên, để góp phần giảm bớt hiểu lầm đáng tiếc. Mà Phanxipăng phù rể cho mình, và dự bao nhiêu sinh hoạt nhỏ to ở nhà mình. Chuyện riêng tư của Lê Bá Khánh Trình thì Phanxipăng quá rành, cứ kể “thoải con gà mái dầu”.

Hôn lễ năm 1999, chuẩn bị rước dâu, trái sang: chú rể Lê Bá Khánh Trình, Phanxipăng, Lê Bá Phương (kỹ sư - em kế Khánh Trình), Hoàng (bác sĩ - bạn thân của Khánh Trình). Ảnh: Minh Du

Ngày 19-2-1999, chuẩn bị rước dâu, trái sang: chú rể Lê Bá Khánh Trình, Phanxipăng, Lê Bá Phương (kỹ sư – em kế Khánh Trình), Văn Quang Hoàng (bác sĩ – bạn thân của Khánh Trình). Ảnh: Minh Du

Trích đoạn đối thoại thế này ắt đã hiển hiện khá trọn vẹn “tiểu sử, ái tình và sự nghiệp” của Lê Bá Khánh Trình. Dưới đây là dăm nét về tổ ấm của bạn tôi.

Năm 1999, Lê Bá Khánh Trình thành hôn với một phụ nữ duyên dáng gốc Quảng Ngãi là Phạm Thị Ái Trinh – hiện làm nhân viên của Ngân hàng Mega tại TP.HCM. Năm 2000, vợ chồng sinh gái đầu lòng Lê Hiền Ý Mai có tên thân mật là Các. Năm 2006, lứa đôi cho ra đời con trai Lê Bá Khánh Nguyên, tên thân mật là Kim. ♥

Lê Bá Khánh Trình cùng vợ Phạm Thị Ái Trinh đưa 2 con Các & Kim thăm vịnh Hạ Long. Ảnh: Hà Nhân

Lê Bá Khánh Trình cùng vợ Phạm Thị Ái Trinh đưa 2 con Các & Kim thăm vịnh Hạ Long. Ảnh: Hà Nhân

  • Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ 742 – số đặc biệt Tết Nhâm Thìn 2012

Read Full Post »

Dãy A & C trường Trung học Kiểu Mẫu Huế. Ảnh: Phanxipăng

Dãy A & C trường Trung học Kiểu Mẫu Huế. Ảnh: Phanxipăng

Trung học Kiểu Mẫu Huế niên khoá thứ nhì 1965 – 1966 đã có 12 lớp, 476 học sinh, 30 nhà giáo, 12 nhân viên, với Hiệu trưởng Dương Đình Khôi. Năm học kế tiếp, trường được 15 lớp, 492 học sinh, 37 nhà giáo, 12 nhân viên, với Hiệu trưởng Trần Hữu Long. Niên khoá 1974 – 1975, nhà giáo Lê Bá Quân làm Hiệu trưởng Trung học Kiểu Mẫu Huế. Kể từ năm học 1975 – 1976, Trung học Kiểu Mẫu Huế chuyển tên thành Trung học Lê Lợi, do nhà giáo Trần Kiêm Tiềm (anh ruột của nữ ca sĩ Hà Thanh) làm Hiệu trưởng, tới mùa hè 1977 thì trường giải thể.

Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức niên khoá đầu 1965 – 1966 có 8 lớp (gồm 4 lớp đệ thất và 4 lớp đệ lục), 280 học sinh, do nhà giáo Dương Thiệu Tống làm Hiệu trưởng. Các vị Hiệu trưởng tiếp theo của trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức: Nguyễn Thị Nguyệt giai đoạn 1966 – 1969, Phạm Văn Quảng giai đoạn 1969 – 1972, Dương Văn Hoá giai đoạn 1972 – 1973, Huỳnh Văn Nhì giai đoạn 1974 – 1975. Từ niên khoá 1975 – 1976,  Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức đổi tên thành Trung học Thực Dụng, tới mùa hè 1981 thì cũng giải thể.

Đại học Sư phạm Sài Gòn & Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức

Đại học Sư phạm Sài Gòn & Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức

Nhiều học sinh Kiểu Mẫu đã theo học đại học và sau đại học ở trong lẫn ngoài nước, ngày nay đang cống hiến năng lực ở bao lĩnh vực: giáo dục, y tế, báo chí, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, giao thông vận tải, sản xuất kinh doanh, v.v.

Thầy trò của Kiểu Mẫu vẫn thường xuyên liên hệ để thăm nom giúp đỡ nhau rất nghĩa tình, đã tổ chức một số đợt cứu trợ nạn nhân bão lụt và trợ cấp học bổng, thực hiện các trang web và ấn hành kỷ yếu, giai phẩm, đặc san (6).

Dãy B trường Trung học Kiểu Mẫu Huế. Ảnh: Phanxipăng

Dãy B trường Trung học Kiểu Mẫu Huế. Ảnh: Phúc Đường

Kiểu Mẫu Huế hội ngộ, liền vang vọng Kiểu Mẫu ca của Đặng Văn Nhuận:

Trong lòng miền Trung, Kiểu Mẫu ta hiên ngang

Hồn thiêng rền vang tiếng nung nấu bao lòng trai tráng

Sức ta khơi mạch nguồn, ý ta luôn trường tồn

Cho ngày mai huy hoàng Việt Nam.

Kiểu Mẫu Thủ Đức gặp mặt, vui tươi đàn hát Học sinh hành khúc – bài ca chính thức của trường này được Lan Đài (7) soạn nhạc, Bàn Thạch (8) đặt lời:

Đây đoàn học sinh lên đường cầm tay dưới nắng hồng

Reo lên vui tươi kết đoàn cùng một tấc lòng

Xây dựng ngày mai non Việt hạnh phúc tràn nơi nơi

Quốc dân no ấm, thương yêu tấm tình đầy vơi.

Một góc trường Kiểu Mẫu Thủ Đức. Ảnh: Phanxipăng

Một góc trường Kiểu Mẫu Thủ Đức. Ảnh: Phanxipăng

Được biết thời gian qua, Đại học Sư phạm Huế có lúc mong muốn tái lập Trung học Kiểu Mẫu Huế để làm cơ sở thực tập lẫn kiến tập, đồng thời làm nơi phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu. Vì muôn vàn lý do, kế hoạch đó đến bây giờ vẫn chưa thể triển khai (9).

Thầy trò cũ tái ngộ tại trường Kiểu Mẫu Huế hè 2007. Phải sang: thầy Nguyễn Tư Trừng (đã mất), thầy Lê Bá Quân (đã mất), trò Trần Ngọc Tĩnh, trò Nguyễn Thị Lạc, cô Lê Thị Vui, thầy Trần Ngọc Kỳ

Thầy trò cũ tái ngộ tại trường Kiểu Mẫu Huế hè 2007. Phải sang: thầy Nguyễn Tư Trừng (đã mất), thầy Lê Bá Quân (đã mất), trò Trần Ngọc Tĩnh, cô Lê Thị Vui, trò Nguyễn Thị Lạc, thầy Trần Ngọc Kỳ

Quả thật, các trường Trung học Kiểu Mẫu Huế, Thủ Đức, Cần Thơ thuở nào vẫn là mô hình rất đáng tham khảo cho công cuộc chấn hưng sự nghiệp giáo dục của nước nhà hiện nay. ♥

Cựu học sinh Kiểu Mẫu Huế hân hoan tái ngộ tháng 8-2009

Cựu học sinh Kiểu Mẫu Huế hân hoan tái ngộ tháng 8-2009

_________________

(6)   Thống kê chưa đầy đủ các kỷ yếu, giai phẩm, đặc san cấp trường đã xuất bản: Trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức niên khóa đầu tiên 1965-1966; Tiền phong tổng hợp 1965-1971; Trường Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức niên khóa 1970-1971; Kiểu Mẫu Huế 1972; Kiểu Mẫu Thủ Đức xuân Quý Sửu 1973; Nhìn về trường xưa 2006; 45 năm Trung học Kiểu Mẫu Thủ Đức 1965-2010; Kiểu Mẫu Huế 2013; v.v.. Đau buồn tiếc xót thay! Đặc san Kiểu Mẫu Huế 2013 (NXB Thời Đại) mắc những lỗi lầm không đáng có, nghiêm trọng nhất là vi phạm bản quyền mà đây là một trường hợp: bài thơ Huế – tên của nỗi nhớ của Hoàng Phủ Ngọc Phan từng in tạp chí Đất Việt ở Canada cuối thập niên 1980, được tuyển vào sách Hai thập kỷ thơ Huế (NXB Văn Học, Hà Nội, 1995), được nhạc sĩ Nguyễn Viêm phổ thành bài hát và ca sĩ Minh Huyền trình bày; vậy mà Huỳnh Hữu Bi trộm 20/30 dòng, ghi địa điểm và niên điểm sáng tác là “Huế – Sài Gòn 96”, đăng trên trang 135 đặc san Kiểu Mẫu Huế 2013. Sự cố ấy đã bị Cô Tú – một bút danh của Hoàng Phủ Ngọc Phan – vạch rõ trên bán nguyệt san châm biếm và trào phúng Tuổi Trẻ Cười 478 (15-6-2013).

(7)   Lan Đài: Nguyễn Kim Đài.

(8)   Bàn Thạch: Dương Thiệu Tống.

(9)   Tin vui: Trải qua nhiều vận động lâu dài tích cực, trường Trung học Kiểu Mẫu – Huế trực thuộc Đại học Sư phạm Huế đang được tái lập, dự kiến khai giảng vào mùa thu năm 2014 này.

Phanxipăng

Đã đăng Áo Trắng số 1 bộ mới (15-5-2007)

Read Full Post »

Older Posts »