Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Ngôn ngữ’ Category

Sông Hương & Thương Bạc sớm mù sương. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương & Thương Bạc sớm mù sương. Ảnh: Phanxipăng

3

Báo Người Việt ấn hành tại California (Hoa Kỳ) ra ngày thứ năm 24-5-2007 đăng bài Trả lời “Huế”, thắng vô địch giỏi địa lý của Hoa Kỳ – nhưng câu hỏi có sai? dẫn ý kiến của ông Võ Thành Điểm – cựu giáo viên sử địa – thế này: “Nếu ở đâu đó có con sông nhỏ nào đó mang tên Huế thì không biết, nhưng ở Huế thì con sông là sông Hương và không có sông Huế”.

Nay tôi xin dẫn thêm những tài liệu từng ghi tên sông Hương bằng sông Huế (rivière Hué / Hue River) và sông của Huế (rivière de Hué). Đó là các bản đồ do đại tá Tây Ban Nha Palanca Gutierrez vẽ năm 1863, do thiếu tá hải quân Pháp Fargues vẽ năm 1875, do chuyên viên công chánh Pháp Sambet vẽ năm 1876 – 1877, do lực lượng Hải quân Pháp vẽ năm 1896, do Association des Amis du Vieux Hué (Hội Đô thành hiếu cổ) vẽ năm 1909, do Văn phòng Du lịch Huế vẽ và được nhà in Viễn Đông tại Hà Nội ấn loát năm 1930.

Encyclopedia Britannica, bộ bách khoa toàn thư được xem chuẩn của thế giới, hiện cũng ghi tên dòng Hương chảy ngang xứ Huế bằng mấy từ: Huong River, Hue River, Perfume River. Bạn đọc vui lòng truy cập http://www.britannica.com/eb/article-9041400/Hue để kiểm tra.

Sông Hương & cầu Trường Tiền nhìn từ cồn Hến. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương & cầu Trường Tiền nhìn từ cồn Hến. Ảnh: Phanxipăng

Trên báo Tuổi Trẻ thứ sáu 25-5-2007, ông Hồ Tấn Phan – nhà nghiên cứu văn hoá Huế – phát biểu: “Tôi cho rằng chưa bao giờ người Việt gọi con sông Hương chảy ngang thành phố Huế hiện nay là sông Huế cả. Việc có nhiều người nước ngoài trước đây gọi là sông của Huế, hay cũng có thể đã từng gọi là sông Huế đi chăng nữa thì đó là do sự nhầm lẫn của họ!”.

Chưa bao giờ người Việt gọi sông Hương bằng tên sông Huế cả ư?

Hãy nghe một khúc ca dao chốn Thần Kinh:

Đứng côi cầu Trường Tiền ngó lên ngàn xanh, ưng thanh trầm, thanh quế;

Đứng côi cầu Dã Viên ngó xuống dòng sông Huế, nhớ buổi lễ tơ hồng.

Chàng đi Nam, Bắc, Tây, Đông,

Khi mô trở lại cho an lòng thiếp đây?

Lắng tiếng hò dạt dào tình nghĩa đó, ai cũng hiểu sông Huế là dòng Hương.

Văn Cao (1923 – 1995) từng sáng tác bài thơ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế từ năm 1940 mà đây là mấy dòng kết:

Em cạn lời thôi anh dứt nhạc
Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh.

Theo lời Văn Cao bộc bạch nhiều lần thuở sinh tiền, sông Huế là dòng Hương.

Sông Hương hoàng hôn nhìn từ đập Thảo Long, quốc lộ 49B, huyện Phú Vang. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương hoàng hôn nhìn từ đập Thảo Long, quốc lộ 49B, huyện Phú Vang. Ảnh: Phanxipăng

Tất nhiên, tuỳ ngữ cảnh mà chúng ta phân biệt sông Huế nào là dòng Hương, và sông Huế nào là mọi con sông ở thành phố Huế hoặc ở tỉnh Thừa Thiên – Huế. Chẳng hạn bài Tiền cổ từ các dòng sông Huế của Hoàng Văn Minh đăng báo Lao Động ngày 17-1-2007 thì khái niệm sông Huế kia lại trỏ sông Hương lẫn sông Bạch Yến, sông Vạn Xuân, sông Đào, sông Lợi Nông, sông Thọ Lộc, sông Đông Ba, v.v. ♥

 

  • Phanxipăng

Đã đăng Thế Giới Mới 739 (18-6-2007)

Read Full Post »

1 Sông Hương, đoạn trước Kỳ Đài tả ngạn & 2 ngôi trường Quốc Học – Đồng Khánh / Hai Bà Trưng hữu ngạn, mùa Phật đản. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương, đoạn trước Kỳ Đài tả ngạn & 2 ngôi trường Quốc Học – Đồng Khánh / Hai Bà Trưng hữu ngạn, mùa Phật đản. Ảnh: Phanxipăng

2

Luận về đề liên quan Việt Nam tại cuộc thi National Geographic Bee năm 2007, một số người nhắc tới bài khảo cứu Dòng Hương sao đã đặt tên? của Phanxipăng. Xin tản mạn tí chút về bài viết ấy.

Từ ấu thời, tôi rất yêu dòng sông xinh đẹp của quê nhà và nhiều phen thắc mắc: Vì sao gọi sông Hương? Tên sông Hương xuất hiện bao giờ? Ngoài tên Huơng, dòng sông xinh đẹp của Huế còn mang những tên gì khác?

Đã đặt những câu hỏi kia với lắm người, nhưng tôi chưa nhận được lời giải đáp thoả đáng. Tôi lần tìm bao tư liệu, nhất là nguồn thư tịch, thì dần vỡ vạc một số điều.

Trong loạt bài Thử lý giải vài thuỷ danh đăng trên tạp chí Tài Hoa Trẻ số 178 đến số 182 phát hành năm 2001, tôi sơ bộ trình bày những nhận thức của mình quanh tên gọi sông Hương ở kỳ IV. Năm 2002, Đại học Quốc gia TP.HCM thực hiện tập san Thế Hệ Trẻ, đề nghị tôi đóng góp bài vở. Tôi triển khai thành bài Dòng Hương sao đã đặt tên? đăng trên Thế Hệ Trẻ số ra mắt. Năm 2006, bổ sung thêm những chứng cứ khả tín, tôi nhuận sắc bài Dòng Hương sao đã đặt tên? rồi công bố trên tạp chí Thế Giới Mới số 676. Bài Dòng Hương sao đã đặt tên? đã được truyền vào một số trang web trên mạng internet. Thật đáng mừng, khá đông bạn đọc gần xa hào hứng đón nhận bài viết của tôi.

Bản đồ Kinh thành Huế do Văn phòng Du lịch Huế thực hiện với tỉ lệ xích 1/15.000. Thu nhỏ: Nguyễn Thứ. Nguồn: BAVH 1933. Lưu ý: sông Hương được ghi Rivière de Huế.

Bản đồ Kinh thành Huế do Văn phòng Du lịch Huế thực hiện với tỉ lệ xích 1/15.000. Thu nhỏ: Nguyễn Thứ. Nguồn: BAVH 1933. Lưu ý: sông Hương được ghi Rivière de Huế.

Viết bài Dòng Hương sao đã đặt tên?, tôi khẳng định: “Lấy tên làng, xã, huyện, tỉnh, v.v., để đặt tên con sông ở địa phương là chuyện phổ biến. Một dòng sông chảy qua nhiều địa phương, lắm đoạn mang tên khác nhau tuỳ thuộc vào tên vùng đất. (…) Thuỷ danh nói riêng, địa danh nói chung, trải quá trình lịch sử thường biến đổi theo quy luật: rút gọn nhằm dễ đọc, dễ nhớ, và viết lách lại giản tiện”.

Bài viết Dòng Hương sao đã đặt tên? điểm qua các cách giải thích từ nguyên sông Hương, liệt kê những thuỷ danh mà dòng sông từng mang, từ đó nêu 3 kết luận:

  1. Thuỷ danh sông Hương là cách rút gọn từ sông Hương Trà.
  1. Đủ tư liệu để xác định rằng tên gọi sông Hương tồn tại trong lời ăn tiếng nói của nhân dân và được ghi nhận thành văn từ nửa cuối thế kỷ XVIII.
  1. Nguyễn Du (1765 – 1820) chẳng phải là tác giả đầu tiên đưa thuỷ danh sông Hương vào văn bản, bởi trước đó đã có Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), Phan Huy Ích (1751 – 1822), Lê Quý Đôn (1726 – 1884) làm việc nọ.

Bài Dòng Hương sao đã đặt tên? có đoạn: “Cần thêm rằng trong Plan d’ une partie des côtes de la Cochinchine (Bản đồ một phần duyên hải xứ Đàng Trong) do Le Floch de la Carrière – đại uý hải quân Pháp – quan trắc thực địa năm Ất Hợi 1755 rồi về Lorient in ấn năm Đinh Mùi 1787, tên sông Hương được ghi nguyên ngữ sông Huế và chua thêm tiếng Pháp: Rivière du Roi (sông Vua)”.

Plan d’ une partie des côtes de la Cochinchine (Bản đồ một phần duyên hải xứ Đàng Trong) do Le Floch de la Carrière vẽ

Plan d’ une partie des côtes de la Cochinchine (Bản đồ một phần duyên hải xứ Đàng Trong) do Le Floch de la Carrière vẽ

Do yêu cầu khảo sát thuỷ danh sông Hương nên bài Dòng Hương sao đã đặt tên? không đề cập các thông tin liên quan bao tên gọi khác như sông Linh, Lô Dung, Yên Lục, Bồ Đài, Tam Kỳ, Trong, Cái, Dinh, Phú Xuân, Kim Trà. Cũng vì vậy, trong bài viết ấy, tôi chỉ trưng bản đồ do Le Floch de la Carrière vẽ, chứ đó chưa phải là tài liệu duy nhất ghi tên sông Huế.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Ngay sau khi cô bé Hoa Kỳ 14 tuổi Caitlin Snaring đoạt giải nhất cuộc thi National Geographic Bee ngày 23-5-2007 với phần thưởng 25.000 USD, dư luận khắp nơi lập tức xôn xao: phải chăng ở miền Trung nước Việt, sông Hương còn mang tên sông Huế?

Sông Hương nhìn từ cầu Tuần. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương nhìn từ cầu Tuần. Ảnh: Phanxipăng

1

Hội Địa Lý Quốc Gia (National Geographic Society) được thành lập tại Hợp Chúng Quốc năm 1888. Hội chủ trương tạp chí National Geographic nhằm phổ biến kiến thức khoa học phổ thông. Chẳng những quan tâm địa lý, tạp chí National Geographic còn lưu ý các phát minh khoa học lớn, những điều liên quan thân thể người và thế giới động thực vật. Cùng với việc thường xuyên thực hiện tạp chí, Hội Địa Lý Quốc Gia còn làm sách, lịch, ảnh, phim, v.v. Đặc biệt, hằng năm, Hội tổ chức cuộc thi quy mô mang tên National Geographic Bee dành cho thiếu niên toàn Liên bang Hoa Kỳ lứa tuổi 10 ~ 14.

Cuộc thi National Geographic Bee năm 2007 thu hút xấp xỉ 5 triệu thí sinh. Sau nhiều đợt tỉ thí, rốt cuộc 10 thí sinh lọt vào chung khảo. Vòng cuối diễn ra ngày thứ tư 23-5-2007 chỉ còn 2 thí sinh so tài qua 5 câu hỏi, mà đây là nguyên văn câu chót:

A city that is divided by a river of the same name was the imperial capital of Vietnam for more than a century. Name this city, which is still an important cultural center.

Nghĩa: Được chia đôi bởi một con sông cùng tên, thành phố ấy từng là thủ đô của Việt Nam thời phong kiến hơn một thế kỷ và tới nay vẫn là một trung tâm văn hoá quan trọng. Hãy kể tên thành phố ấy.

Nữ thí sinh Caitlin Snaring, 14 tuổi, trú tại Redmond, tiểu bang Washington, học ở nhà với cha mẹ chứ chẳng đến trường, hào hứng đáp: Hué.

Lời giải Hué đã giúp Caitlin đoạt giải nhất cuộc thi National Geographic Bee năm 2007. Là nữ sinh thứ nhì vô địch cuộc thi này kể từ năm 1990, Caitlin vui mừng nhận 25.000 USD. Ghi thêm: giải nhì 15.000 USD, giải ba 10.000 USD, giải khuyến khích 500 USD.

Caitlin Snaring, 14 tuổi, đoạt giải nhất cuộc thi National Geographic Bee năm 2007 với lời giải: Hué

Caitlin Snaring, 14 tuổi, đoạt giải nhất cuộc thi National Geographic Bee năm 2007 với lời giải: Hué

Ngay sau đó, dư luận – nhất là trong cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới – rộ lên ý kiến cho rằng đề thi không chính xác kiến thức, lại non yếu sư phạm. Người ta bảo ra đề như thế đối với học trò tiểu học và trung học cơ sở còn bé tí xíu là quá khó, quá rắc rối, quá phức tạp, quá gay cấn. Hơn nữa, cũng theo nhiều người, đề thi đã bị nhầm lẫn nặng nề vì dòng sông rẽ ngang thành phố Huế chưa bao giờ mang tên sông Huế cả, mà là sông Hương.

Xem xét phương diện khảo thí, tôi nhận thấy đề ra thế rất đạt. Bởi đây chẳng phải đề kiểm tra dành cho tất cả học sinh bình thường, mà đề thi tuyển học sinh giỏi môn địa lý của toàn nước Mỹ. Điều cần bàn: sông Hương có bao giờ mang tên Huế chăng?

Caitlin Snaring – một gương sáng tự học

Caitlin Snaring – một gương sáng tự học

(Còn nữa)

Read Full Post »

Sông Hương, đoạn chảy trước Thành Nội / Hoàng thành Huế, nhìn từ vệ tinh

Sông Hương, đoạn chảy trước Thành Nội / Hoàng thành Huế, nhìn từ vệ tinh

3

Lần giở thơ văn cổ, chúng ta biết vua Thiệu Trị (1807 – 1847) từng ngự chế bài 香江曉泛 / Hương giang hiểu phiếm (Sáng sớm bơi thuyền trên dòng Hương) đoạn cho khắc bia đá và dựng ven sông, cạnh Phu Văn Lâu, ngay trước Kỳ Đài. Toàn bộ bài thơ ấy cũng được nhà vua chọn in mộc bản trong 御題名勝圖會詩集 / Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập ngợi ca “Thần Kinh nhị thập cảnh” với lời dẫn 香江之水 / Hương giang chi thuỷ  / Nước sông Hương đầy tự hào:

Vương Duy diu thủ nan công,
Diên Thọ mạc hình chân chú.

Nghĩa là với vẻ đẹp sông Hương, tài năng tuyệt vời cỡ Vương Duy (đời Đường) khó tả nổi, còn hoạ sĩ lẫy lừng Mao Diên Thọ (đời Hán) cũng chẳng hình dung hết.

Phanxipăng bên bia thơ 香江曉泛 / Hương giang hiểu phiếm của vua Thiệu Trị ở quảng trường Phu Văn Lâu. Ảnh: Mỹ Hương

Phanxipăng bên bia thơ 香江曉泛 / Hương giang hiểu phiếm của vua Thiệu Trị ở quảng trường Phu Văn Lâu. Ảnh: Mỹ Hương

Bài thơ Hương giang hiểu phiếm có những câu:

波 平春水籠煙色

舟逐晨風動櫓聲

天酒未乾濡岸樹

山花猶戀結雲英

Phiên âm:

Ba bình xuân thuỷ lung yên sc,
Chu trục thần phong động lỗ thanh.
Thiên tửu vị can nhu ngạn thụ,
Sơn hoa do luyến kết vân anh.

Phanxipăng phỏng dịch:

Lặng sóng, dòng xuân lồng bóng khói,
Thuyền xuôi gió sớm, quẫy mái chèo.
Bờ sương dường vẫn say giấc mộng,
Hoa núi còn nương mây bay theo.

Tuy nhiên, Hương giang hiểu phiếm của vua Thiệu Trị chưa phải là tác phẩm ghi nhận thuỷ danh sông Hương xuất hiện sớm nhất. Tiện thể, xin ghi thêm: 9 đỉnh đồng tuyệt tác (Cửu đỉnh) được thi công giai đoạn 1835 – 1837 dưới triều Minh Mạng, hiện vẫn “đồ sộ đứng cao” trước Thế miếu ở Huế, có Nhân đỉnh với hình đúc nổi thể hiện con sông chảy qua Kinh thành kèm đôi chữ Hán 香江 / Hương giang.

Phanxipăng với hậu cảnh là sông Hương, đoạn chảy qua cầu Trường Tiền. Ảnh: Út Duyên

Phanxipăng với hậu cảnh là sông Hương, đoạn chảy qua cầu Trường Tiền. Ảnh: Út Duyên

Trong tập 1 Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa (NXB Trẻ, 2000; trang 16), Nguyễn Đắc Xuân nhận định: “Thơ văn đề cập đến sông Hương sớm nhất có lẽ của Nguyễn Du – nhà thơ, làm quan đầu triều Nguyễn”. Ý kiến này thiếu chuẩn xác.

Thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) sáng tác thi tập 南中雜吟 / Nam trung tạp ngâm vào giai đoạn làm quan ở Phú Xuân và Quảng Bình rồi trở lại Phú Xuân. Đó là từ năm Giáp Tý 1804 đến cuối đời Tố Như, dưới hai triều vua Gia Long và Minh Mạng. Tập thơ Nam trung tạp ngâm gồm 40 bài, mà bài 秋至 / Thu chí mở đầu bằng mấy dòng:

香江一片月,
今古許多愁。
往事悲青塚,
新秋到白頭。

Phiên âm:

Hương giang nhất phiến nguyệt,
Kim cổ hứa đa sầu.

Vãng sự bi thanh trủng,

Tân thu đáo bạch đầu.

Phanxipăng tạm dịch:

Sông Hương trăng một chiếc,
Xưa nay gợi bao sầu.

Niềm cũ, thương nấm cỏ,

Thu mới, xót bạc đầu
.

Song le, Nguyễn Du vẫn chưa phải là tác giả đầu tiên đưa thuỷ danh sông Hương vào tác phẩm văn chương. Bởi trước đấy, dưới triều Tây Sơn, đời vua Quang Trung, danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) từng giữ chức Tổng tài Quốc sử quán tại kinh đô Phú Xuân từ năm Giáp Dần 1792 và từng làm bài thơ Đạo ý có đôi câu:

Ức tích minh lương hội nhất đường,
Hương giang ngự tất hỗ tiên đường.

Trong quyển 1 Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm ấn hành năm 1978, Ngô Linh Ngọc dịch:

Nhớ buổi vua hiền gặp đống lương,
Đường tiên hầu bước nẻo sông Hương.

Phan Huy Ích (1751 – 1822) cũng là một đại quan thời Tây Sơn. Dưới bài thơ Xuân để kỷ sự (Mùa xuân ở công quán ghi việc), họ Phan ghi lời chú dẫn: “Nhà của quan thái sư (Bùi Đắc Tuyên) là chùa Thiền Lâm cũ, nằm về phía nam sông Hương” (Dẫn theo Thơ văn Phan Huy Ích, bản in năm 1978).

Phanxipăng trên cầu Thanh Phước, nơi sông Bồ hợp lưu với sông Hương rồi đổ ra biển Đông. Ảnh: Lê Hải

Phanxipăng trên cầu Thanh Phước, nơi sông Bồ hợp lưu với sông Hương rồi đổ ra biển Đông. Ảnh: Lê Hải

Tra lại Phủ biên tạp lục, tác phẩm được Lê Quý Đôn biên soạn từ năm Bính Thân 1776 vào đời vua Lê Hiển Tông, thấy ở quyển VI mang tiêu đề Vật sản, phong tục (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977; trang 341) xuất hiện một đoạn rất đáng chú ý: “Xứ Thuận Hoá, Hương giang có cá sông nhiều. Có giống cá tên là cá thệ”.

Vậy đủ biết từ nửa cuối thế kỷ XVIII, tên gọi sông Hương đã tồn tại trong lời ăn tiếng nói của nhân dân và đã được ghi nhận thành văn bản. ♥

 

  • Phanxipăng

Đã đăng các tạp chí:

  • Thế Hệ Mới số 1 (2002)
  • Thế Giới Mới số 676 (13-3-2006)

Read Full Post »

2

Vấn đề đặt ra: căn cứ vào nguồn thư tịch khả tín, sông Hương từng mang những tên gì trong quá khứ?

Phanxipăng ngược dòng Tả Trạch, 1 trong 2 nguồn hợp lưu tại ngã ba Tuần / Bằng Lãng tạo nên sông Hương. Ảnh: Đình Hải

Phanxipăng ngược dòng Tả Trạch, 1 trong 2 nguồn hợp lưu tại ngã ba Tuần / Bằng Lãng tạo nên sông Hương. Ảnh: Đình Hải

Một tài liệu địa phương chí thuộc loại sớm nhất nước ta là tập 烏州近錄 /  Ô châu cận lục do Dương Văn An biên soạn năm Quý Sửu 1553, dưới triều Lê – Mạc, đã ghi tên dòng sông: 靈江 / Linh giang. Lưu ý rằng sông Gianh ở tỉnh Quảng Bình cũng mang tên Linh giang, nên nếu cần phân biệt thì người xưa gọi sông Gianh là Đại Linh giang. Tuy nhiên, sự trùng tên ấy khiến người đời sau lắm phen phân vân lúc tham khảo cổ thư như trường hợp sau.

Hãy đọc đoạn ghi chép vắn gọn về vùng Thuận Hoá trong tác phẩm An Nam vũ cống tức Dư địa chí của Nguyễn Trãi (1380 – 1442): “Biển là Nam Hải. Vân là núi ở cửa ải. Linh là tên sông”.

Nam Hải tức biển Đông. Núi Vân tức Hải Vân. Nhưng sông Linh thì hậu thế hiểu không thống nhất: kẻ bảo sông Hương, kẻ cho rằng sông Gianh. Vả lại, Dư địa chí nguyên là quyển thứ 6 trong bộ Ức Trai di tập, tuy được Nguyễn Trãi soạn thảo năm Mậu Ngọ 1438, song đã có thêm bớt, sửa chữa bởi nhiều lớp nho gia vào các thế kỷ XVI – XVIII. Đến năm 1976, ấn hành Nguyễn Trãi toàn tập, Viện Sử học Việt Nam phải cẩn thận chú dẫn: “Khi nghiên cứu và sử dụng địa chí, vì vậy, phải thận trọng”.

Sông Hương nhìn từ núi Ngọc Trản, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương nhìn từ núi Ngọc Trản, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà. Ảnh: Phanxipăng

Cần thêm rằng trong Plan d’ une partie des côtes de la Cochinchine (Bản đồ một phần duyên hải xứ Đàng Trong) do Le Floch de la Carrière – đại uý hải quân Pháp – quan trắc thực địa năm Ất Hợi 1755 rồi về Lorient in ấn năm Đinh Mùi 1787, tên sông Hương được ghi nguyên ngữ sông Huế và chua thêm tiếng Pháp: “Rivière du Roi” (sông Vua). Nhiều tài liệu khác còn cho biết dòng Hương từng mang các tên gọi: sông Lô Dung, sông Yên Lục, sông Bồ Đài, sông Tam Kỳ, sông Trong, sông Cái, sông Dinh.

Sông Hương nhìn từ tầng cao nhất của tháp Phước Duyên, chùa Thiên Mụ / Linh Mụ, phường Hương Long, TP Huế. Ảnh: Phanxipăng

Sông Hương nhìn từ tầng cao nhất của tháp Phước Duyên, chùa Thiên Mụ / Linh Mụ, phường Hương Long, TP Huế. Ảnh: Phanxipăng

Trở lại với Linh giang, thuỷ danh được xác định chắc chắn là sông Hương trong pho Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (1726 – 1884). Dưới triều vua Lê Hiển Tông, năm Bính Thân 1776, Lê Quý Đôn được cử vào Thuận Hoá giữ chức Hiệp trấn tham tán quân cơ. Nhân đó, nhà bác học họ Lê tranh thủ biên soạn Phủ biên tạp lục và đã cẩn thận ghi chép các tên gọi sông Hương thuở nọ: Linh giang, sông Phú Xuân, sông Kim Trà.

Mà Kim Trà là gì? Vốn là một huyện thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hoá, địa danh Kim Trà xuất hiện chậm nhất cũng từ thời Lê sơ. Trong công trình nghiên cứu Đất nước Việt Nam qua các đời (NXB Thuận Hoá, Huế, 1996; trang 198), học giả Đào Duy Anh khẳng định: “Thời Lê sơ là Kim Trà; chúa Nguyễn đổi làm Hương Trà. Huyện Hương Trà bấy giờ tương đương với đất huyện Hương Trà và một phần huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên hiện nay”.

Lấy tên làng, xã, huyện, tỉnh, v.v., để đặt tên con sông ở địa phương là chuyện phổ biến. Một dòng sông chảy qua nhiều địa phương, lắm đoạn mang tên khác nhau tuỳ thuộc vào tên vùng đất. Ví như tại miền Bắc, sông Hồng có những khúc mang tên Mê Linh, Bạch Hạc, Việt Trì là vì vậy. Và khi tên địa phương thay đổi, tên sông ngòi thường theo đó mà đổi thay. Bởi thế, tới đời chúa Nguyễn, sông Kim Trà được gọi lại là sông Hương Trà.

Cựu học sinh Kiểu Mẫu – Huế ngoạn cảnh chùa Thiên Mụ / Linh Mụ, phía sau là sông Hương. Ảnh: Liêm Hoa

Cựu học sinh Kiểu Mẫu – Huế ngoạn cảnh chùa Thiên Mụ / Linh Mụ, phía sau là sông Hương. Ảnh: Liêm Hoa

Thuỷ danh nói riêng, địa danh nói chung, trải quá trình lịch sử thường biến đổi theo quy luật: rút gọn nhằm dễ đọc, dễ nhớ, và viết lách lại giản tiện. Hải Phòng là sự rút gọn nhóm từ “Hải tần phòng thủ / Hải dương thương chính quan phòng”, về sau còn được rút gọn triệt để trong khẩu ngữ “Phòng”. Sông Bằng chính là rút gọn tên địa phương mà dòng nước chảy qua: Cao Bằng. Sông Bôi cũng thế, là tên huyện Kim Bôi (thuộc tỉnh Hoà Bình) đã tắt hoá. Như vậy, sông Hương Trà được rút gọn thành sông Hương là điều hoàn toàn có thể chấp nhận.

Quốc sử quán triều Nguyễn thực hiện công trình Đại Nam thực lục chính biên (Tập I – Bản dịch của Viện Sử học Việt Nam, Hà Nội, 1963; trang 428) từng ghi rõ: “Sông Hương tức là sông Hương Trà”.

 

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »