Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Nhạc – Múa – Kịch – Phim’ Category

Hữu Loan. Tranh: Lê Quân

Hữu Loan. Tranh: Lê Quân

Loạt chuyện ly kỳ

Năm 1953, tại Thanh Hoá, Hữu Loan kết hôn lần thứ hai với Phạm Thị Nhu. Qua thơ Hữu Loan, mỗi phu nhân đều gắn bó một loài hoa. Bài thơ Hoa lúa do Hữu Loan sáng tác năm 1955 “nịnh” người vợ sau, từng được nhạc sĩ Trần Chung chuyển soạn thành ca khúc Cô gái hội Lim. Trích đoạn đầu bài thơ ấy:

Em là em gái đồng xanh

                              tóc dài

                                   vương hoa lúa

Đôi mắt em mang

                  chân trời quê cũ

                                    giếng ngọt

                                            cây đa

Anh khát tình quê ta

                          trong mắt em

                                        thăm thẳm

Nhạc quê hương

                  say đắm

                       trong lời em

                                   từng lời

Tiếng quê hương

                  muôn đời

                           và tiếng em

                                         là một

Trong giai đoạn chiến tranh ác liệt, trải hoàn cảnh quá ư khó khổ lại rối rắm muôn đa đoan trắc trở, đôi vợ chồng vẫn sinh và nuôi được 10 con trưởng thành, trong đó có những người làm việc Nhà nước. Xin nêu phương danh cùng nghề nghiệp:

1. Nguyễn Hữu Cương (sửa xe máy);

2. Nguyễn Thị Hương (giáo viên THCS);

3. Nguyễn Thị Hà (buôn bán);

4. Nguyễn Hữu Vũ (thợ cơ khí);

5. Nguyễn Hữu Lập (tài xế);

6. Nguyễn Thị Chung (làm ruộng);

7. Nguyễn Thị Dinh (hoạ sĩ);

8. Nguyễn Hữu Đán (kiến trúc sư);

9. Nguyễn Thị Ứng (thợ may);

10. Nguyễn Thị Triêu (thợ cơ khí).

Có những đứa con tạo cảm hứng cho bố sáng tác, chẳng hạn trưởng nam là động lực khiến Hữu Loan viết áng thơ Tò he vào năm 1957. Hiện 10 con ấy đã sinh 37 cháu nội ngoại cho ông bà Hữu Loan.

Sau khi bị chỉnh huấn phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm, Hữu Loan thôi làm báo Văn Nghệ và rời Hà Nội, về quê nhà, kiếm sống bằng những công việc tay chân cực nhọc là cày bừa, đánh cá, đốn củi, thồ đá, v.v., từ năm 1958 đến cuối đời. Tuy nhiên, sau mấy thập niên vùi mình nơi làng quê, Hữu Loan đã có dịp ra Bắc vào Nam.

Hữu Loan đến Đà Lạt, tỉnh lị Lâm Đồng, năm 1988

Hữu Loan đến Đà Lạt, tỉnh lị Lâm Đồng, năm 1988

Năm 1987, Hữu Loan tái ngộ Hà Nội. Năm 1988, ghé Lâm Đồng, Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang, TP.HCM, Bà Rịa, Phan Thiết, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Pleiku, Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Quảng Nam – Đà Nẵng, Huế, Đồng Hới, Hà Tĩnh. Năm 1990, quay lại Đồng Nai và Sài thành. Năm 1995, tiếp tục thăm mảnh đất Thăng Long.

Hữu Loan tại Hà Nội ngày 13-3-1995. Ảnh: Đinh Quang Toán

Hữu Loan tại Hà Nội ngày 13-3-1995. Ảnh: Đinh Quang Toán

Năm 2007, nguyệt san Khởi Hành (do nhà thơ Viên Linh chủ nhiệm kiêm chủ bút, trụ sở chính hiện đặt tại Litle Saigon, quận Cam, California, USA) trao giải “Văn chương toàn sự nghiệp” đến nhà thơ Hữu Loan. Giải thưởng trị giá 5.000 USD, gồm 3.000 USD hiện kim và 2.000 USD nhằm ấn hành tập thơ. Qua điện thoại, bà Phạm Thị Nhu báo tôi hay:

– Nguyệt san Khởi Hành đã gửi 3.000 USD bằng đường bưu điện. Nhà tôi mới nhận được vào ngày 30-9-2007 đấy.

Cũng ngày chủ nhật 30-9-2007, Người Việt Online http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=66800&print=yes loan tin: “Cho tới nay sau hai phần ba thế kỷ làm thơ, Hữu Loan vẫn chưa in được một tập thơ nào cả, nên nguyệt san Khởi Hành sẽ in một tác phẩm… đầu tay cho nhà thơ Hữu Loan, và tác giả còn nhận được một phần bản quyền tác giả trên tập thơ được in ra nữa”.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%AFu_Loan cũng ghi: “Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào”.

Thứ sáu 19-3-2010, báo Sài Gòn Giải Phóng Online truyền bài Tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim” qua đời http://sggp.org.vn/vanhoavannghe/2010/3/221249/ và tạp chí Nhà Văn truyền bài Tác giả “Màu tím hoa sim” đã ra đi http://tapchinhavan.vn/News.Asp?Cat=53&SCat=&Id=1764 vẫn lặp lại: “Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào”. Thứ bảy 20-3-2010, báo Đất Việt Online truyền bài Nhà thơ Hữu Loan trong mắt bạn bè http://www.baodatviet.vn/Home/vanhoa/Nha-tho-Huu-Loan-trong-mat-ban-be/20103/84970.datviet còn nhấn: “Trên thực tế, Hữu Loan là nhà thơ nổi tiếng duy nhất cả đời không in một tập thơ nào”. Cùng ngày, báo Công An Nhân Dân Online truyền bài Tác giả “Màu tím hoa sim” đã về miền cực lạc http://www.cand.com.vn/vi-VN/vanhoa/2010/3/127793.cand vẫn không tránh khỏi ngộ nhận: “Mặc dù chưa xuất bản tập thơ nào, nhưng ông lại khá nổi tiếng trên văn đàn”. Chủ nhật 21-3-2010, báo Tuần Việt Nam truyền bài Người nhuộm tím thi đàn bằng màu hoa sim http://www.tuanvietnam.net/2010-03-20-nguoi-nhuom-tim-thi-dan-bang-mau-hoa-sim cũng trượt theo tuyến nhầm lẫn: “Cả cuộc đời dài gần trăm năm của mình, Hữu Loan làm thơ không nhiều, không in tập lớn, tập bé; nhưng chỉ cần với một Màu tím hoa sim, ông đã nhuộm tím thi đàn Việt Nam”.

Hỡi ôi! Thông tin vậy hoàn toàn thiếu chính xác! Vì từ năm 1990, tại Việt Nam, tập thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan được ấn hành bởi NXB Hội Nhà Văn. Tập thơ dày 92 trang, khổ 13 x 19cm, chỉ 10 bài thơ của Hữu Loan; phần còn lại là những ghi chép bởi Vũ Cao, Nguyễn Sĩ Đạt, Ngô Văn Phú, Đào Bích Nguyên. Đó là 10 bài thơ: Ngày mai, Màu tím hoa sim, Những làng đi qua, Hoa lúa, Phương gió, Tò he, Nếu anh không đi, Đèo Cả, Quách Xuân Kỳ, Yên Mô.

Tập thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1990). Ảnh: Phanxipăng

Tập thơ “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1990). Ảnh: Phanxipăng

Bây giờ, Hữu Loan vĩnh viễn khuất bóng. Nhưng tác phẩm và cuộc đời ông vẫn triển chuyển mãi trong tâm trí bao người. Chắc chắn rằng thơ văn của Hữu Loan cùng những trang viết của tha nhân về ông sẽ được ấn hành rộng khắp. ♥

 

 

Phanxipăng

Đã đăng các tạp chí:

  • Kiến Thức Ngày Nay 621 (10-11-2007)
  • Thế Giới Mới 877 (29-3-2010)

Read Full Post »

 

Hữu Loan. Tranh: Đinh Quang Tính

Hữu Loan. Tranh: Đinh Quang Tính

Hữu Loan chào đời ngày chủ nhật 2-4-1916 nhằm 30 tháng 2 Bính Thìn tại thôn Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Cũng tại đấy, Hữu Loan từ trần tối thứ sáu 18-3-2010 nhằm mùng 3 tháng 2 Canh Dần, hưởng thọ 95 tuổi. Bài viết này thay tràng hoa vĩnh biệt một thi sĩ – chiến sĩ tài năng.

H

ữu Loan có họ tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan. Đỗ tú tài Tây năm 1938 nên thường được gọi Tú Loan. Theo bài Tự phỏng vấn do Hữu Loan viết năm 1988, ông “cũng có tên đời Nguyễn Văn Dao, Sắt Đỏ, Tốt Đỏ, Binh Nhì”, lại thêm “tên chợ là Ông già vườn Lỗi (Phù Viên Lỗi)”. Nhắc Hữu Loan, đông đảo bạn đọc gần xa nghĩ ngay đến bài thơ Màu tím hoa sim được ông sáng tác với đề từ: Khóc Lê Đỗ Thị Ninh.

Hữu Loan. Ảnh: Duy Anh

Hữu Loan. Ảnh: Duy Anh

Độc đáo Màu tím hoa sim

 Lê Đỗ Thị Ninh là ai? Là ái nữ của ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng thanh tra Nông lâm Đông Dương thời ấy. Biết Hữu Loan học giỏi và hay thơ, phu nhân ông Kỳ là bà Đái Thị Ngọc Chất mời Hữu Loan về nhà dạy kèm các con. Bấy giờ, Hữu Loan 24 tuổi, Ninh vừa lên 8. Điều khó ngờ là tình yêu giữa Hữu Loan với Ninh nẩy nở. Mãi 9 năm sau, ngày 6-2-1948, hai người thành hôn tại ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Ngày 29-5-1948, Ninh đột tử. Không phải vì giặc giết em rồi, dưới gốc thông như Vũ Cao thể hiện qua bài thơ Núi Đôi (1956). Không phải vì giặc bắn em rồi quăng mất xác như Giang Nam diễn tả qua bài thơ Quê hương (1960). Lý do khiến Ninh từ trần rất bất ngờ mà quá đỗi bình thường: chết đuối. Nàng xuống sông Chuồng giặt giũ và chẳng may trượt chân vào luồng nước dữ dưới chân núi Nưa. Thương vợ, xót chồng, Hữu Loan viết Màu tím hoa sim vào năm 1949 với những con chữ rơi rơi y hệt dòng lệ thảm.

Ngày 5-10-2007, ngay sau khi bão Lekima vừa tan, nhà thơ Hữu Loan nói với tôi:

– Khi Lê Đỗ Thị Ninh mất, tôi làm Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn 304 đóng ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ai đấy cứ bảo rằng tôi sáng tác Màu tím hoa sim khi đi công tác Nghệ An. Không phải đâu ạ. Tôi làm bài đó ngay tại Thanh Hoá.

Mặc dù ở Thanh Hoá, Hữu Loan lại gọi nhạc mẫu bằng , chứ không gọi mẹ. Vì sao? Vì theo thói quen của vợ. Lê Đỗ Thị Ninh chào đời tại Sài Gòn, ấu thời quen gọi mẫu thân kiểu miền Nam. Thuở nọ, Ninh có em chưa biết nói là ai? Là Lê Thị Như Ý. Ba người anh của Ninh là Lê Đỗ Khôi (chính trị viên tiểu đoàn 315, trung đoàn 165, đại đoàn 312, đã hy sinh nơi đồi Him Lam trong chiến dịch Điện Biên Phủ sáng 7-5-1954), Lê Đỗ Nguyên (nay là trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam) và Lê Đỗ An (tức Nguyễn Tiên Phong, nguyên Bí thư trung ương Đoàn khoá III và IV, nguyên Phó ban Dân vận trung ương). Kỳ thực, lúc bấy giờ, trên chiến trường đông bắc chỉ có hai anh Khôi với Nguyên được tin em gái mất trước tin em lấy chồng.

Hữu Loan giữ riêng bài thơ Màu tím hoa sim như một kỷ niệm sâu sắc riêng tư. Vũ Tiến Đức – biên tập viên báo Chiến Sĩ – là người chuyền tay bài thơ này đến bà Ngọc Chất cùng một số kẻ quen biết. Trao đổi cùng tôi, nhà thơ Hữu Loan khẳng định:

Màu tím hoa sim được in lần đầu trên tờ Trăm Hoa do Nguyễn Bính thực hiện tại Hà Nội năm 1956.

Bài thơ ấy đã được được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc. Thập niên 1960, Dzũng Chinh soạn Những đồi hoa sim bằng điệu slow rumba theo âm giai chủ rê thứ; được các ca sĩ Phương Dung, Sơn Tuyền, Hương Lan, Duy Quang, Trường Vũ, Tuấn Vũ, Hạ Vy, Mạnh Quỳnh, Như Quỳnh, v.v., thể hiện.

Nhung doi hoa sim

Tương tự Dzũng Chinh, Anh Bằng phỏng ý thơ Hữu Loan để soạn ca khúc Chuyện hoa sim. Sau, cũng nhạc sĩ Anh Bằng soạn ca khúc Tím cả chiều hoang thì bám kỹ vào nội dung bài thơ. Duy Khánh cùng Trọng Khương hợp soạn Màu tím hoa sim với phần ca từ cũng theo sát nguyên bản bài thơ. Phạm Duy soạn Áo anh sứt chỉ đường tà – khởi sự từ năm 1949, đến năm 1971 mới hoàn tất – gồm cả loạt trường đoạn phối hợp, nhằm diễn đạt nhiều cung bậc và sắc thái tình cảm, từ nhịp 4/4 với âm giai chủ đô thứ, sang nhịp 2/4 đô trưởng, qua nhịp 4/4 la thứ, chuyển nhịp 3/4 đô trưởng, rồi kết bằng nhịp 4/4 đô trưởng. Áo anh sứt chỉ đường tà đã được thể hiện bởi những giọng khác nhau như Thái Thanh, Elvis Phương, Trần Thái Hoà, Duy Quang, Bích Liên, Ý Lan, Mai Hương, Xuân Phú, Hiền Thục, Khắc Dũng, Đức Minh, Đức Tuấn, v.v.

Nhạc sĩ Phạm Duy cho biết:

– Phổ bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, các nhạc sĩ khác đã dùng hình thức “tiểu khúc” bình dân, ngắn ngủi, chỉ một đoản khúc pop boléro hoặc slow rock giản dị, dễ nghe, dễ hiểu; còn tôi lại soạn “đại khúc” bi hùng dài tới 5-7 đoạn, với mong ước tạo được một  “ái quốc ca” (chant patriotique).

Màu tím hoa sim - thủ bản của Hữu Loan

Màu tím hoa sim – thủ bản của Hữu Loan

Dư luận lắm phen chuyển từ cực đoan nọ sang cực đoan kia đến khó lường. Từng có nơi, có lúc, có người vênh giọng phê phán rằng Màu tím hoa sim là bài thơ “uỷ mị” và “nhuốm mùi tiểu tư sản”, song tác phẩm ấy vẫn sống trong lòng muôn kẻ yêu văn nghệ. Ngày nay, lại vần vũ lời tung hô: Màu tím hoa sim là “một trong những bài thơ tình hay nhất thế kỷ XX”. Một sự kiện khiến dư luận chú ý đặc biệt: Màu tím hoa sim vụt trở thành bài thơ được trả tiền tác quyền cao nhất Việt Nam – và cả châu Á, cũng như toàn thế giới – vào năm 2004 với mức 100 triệu đồng. Hữu Loan bằng lòng chuyển giao bản quyền tác giả đối với bài thơ Màu tím hoa sim cho Công ty cổ phần công nghệ Việt (Vitek VTB) và đã hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết.

Tại sân nhà ngày 7-11-2004, thi sĩ Hữu Loan khề khà bia bọt với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng & giám đốc công ty Vitek VTB Lê Văn Chính. Ảnh: Văn Khoa

Tại sân nhà ngày 7-11-2004, thi sĩ Hữu Loan khề khà bia bọt với điêu khắc gia Phạm Văn Hạng & giám đốc công ty Vitek VTB Lê Văn Chính. Ảnh: Văn Khoa

Điều buồn cười: bài thơ Màu tím hoa sim bấy lâu nay lưu truyền nhiều dị bản. Ngạc nhiên xiết bao khi so sánh một số thủ bản do Hữu Loan đích thân thực hiện, tôi vẫn thấy những chi tiết khác nhau về từ ngữ, về kiểu xuống dòng, về quy cách viết hoa và viết thường!

(Còn nữa)

Read Full Post »

Sinh năm Quý Tị 1953 tại Đà Lạt, hiện sống tại Sài Gòn, Đức Huy đã có hơn 30 năm cầm máy ảnh. Dù chụp nhiều thể loại, song nét tài hoa của nghệ sĩ nhiếp ảnh Đức Huy bộc lộ rõ nhất ở mảng ảnh hóa trang mặt trong nghệ thuật tuồng cổ (1).

Đức Huy với trẻ em trên đường săn ảnh

Đức Huy với trẻ em trên đường săn ảnh

K

ể từ năm 1991, qua cuộc triển lãm ảnh cá nhân của Đức Huy được tổ chức tại Hội Nhà báo TP.HCM với đề tài Hóa trang mặt trong tuồng cổ, công chúng bắt đầu biết đến một tay máy tài hoa, sung sức. GS.TS. Lê Ngọc Trà nhận xét: “Những bức ảnh về hóa trang mặt trong hát bội của Đức Huy đã tạo ra một kiểu ảnh chân dung mới, độc đáo. Nó thể hiện một cái nhìn trí thức, một nhãn quan có văn hóa và trên hết là tình yêu và lòng say mê của tác giả đối với nghệ thuật sân khấu dân tộc.”

Bộ ảnh chụp chân dung đào, kép hát bội đã thực sự gây bất ngờ cho người thưởng ngoạn. Đường nét, màu sắc trên từng khuôn diện, cộng với lắm kiểu mão (mão cửu long, mão cửu phụng, mão bình thiên, mão kim khôi, v.v.) và lắm kiểu râu ria (râu quắn, râu đen dài, râu đen ba chòm, râu rìa đỏ, râu rìa bạc, v.v.) đủ để tạo nên một ngôn ngữ sống động, đặc trưng, chẳng lẫn vào đâu được.

Điều đặc sắc dễ thấy là so với sân khấu kịch truyền thống của một số quốc gia khác, như kịch Nō của Nhật Bản và vũ kịch Khon của Thái Lan chẳng hạn, thì tuồng Việt Nam đòi hỏi hóa trang mặt một cách trực tiếp. Nghĩa là diễn viên tuồng không đeo mặt nạ, mà dùng màu vẽ thẳng lên da mặt mình. Điều này tương tự kinh kịch (2) của Trung Hoa.

Với tuồng / hát bội / hát bộ, địa vị cùng tính cách nhân vật sẽ quy định từng kiểu hóa trang mặt khác nhau. Mặt trắng hồng là kép văn chính diện. Mặt đỏ là kép văn pha võ. Mặt mốc là kép nịnh. Mặt rằn ri là phường hung bạo. Mặt có nhiều đường cong quẹo là quân gian trá. Chỉ vai kép mới vẽ mặt, còn vai đào thì chỉ tô điểm bình thường – ngoại trừ Đào Tam Xuân và Chung Vô Diệm.

Hoá trang mặt tuồng. Ảnh: Đức Huy

Hoá trang mặt tuồng. Ảnh: Đức Huy

Nhiếp ảnh gia Đức Huy cười :

– Tuồng từng được xem là “quốc kịch” của Việt Nam ta, ấy thế mà khi tôi triển lãm ảnh hóa trang mặt tuồng, nhiều người – nhất là thế hệ trẻ – giật mình : “Ô hay ! Hóa ra lâu nay chúng ta chả biết gì về một bộ môn sân khấu truyền thống của dân tộc!”.

NSƯT Đinh Bằng Phi khen: “Công trình chụp ảnh nghệ thuật hát bội qua các mặt nhân vật, với những trình thức trong biểu diễn, của Đức Huy đã đóng góp rất lớn cho việc phổ biến, duy trì và phát huy bộ môn sân khấu truyền thống Việt Nam.”

Hữu Hoà vai Đơn Hùng Tín. Ảnh: Đức Huy

Hữu Hoà vai Đơn Hùng Tín. Ảnh: Đức Huy

Hữu Hoà vai Tào Tháo. Ảnh: Đức Huy

Hữu Hoà vai Tào Tháo. Ảnh: Đức Huy

Đức Huy tiếp tục chụp ảnh mặt tuồng và liên tục triển lãm tại nhiều địa phương như Bến Tre (1992), Long An (1993), Vũng Tàu (1994). Một số bức đã đem lại cho anh các giải thưởng trong và ngoài nước, như giải ACCU (3) năm 1998, giải “Di sản văn hóa thế giới Hemeiji” của Nhật năm 1999. Nhân dịp Festival Huế 2000, Đức Huy mở triển lãm ảnh mặt tuồng tại trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế. Đến dự triển lãm, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm  – lúc bấy giờ là Bộ trưởng Bộ Văn hóa & Thông tin  – ghi vào sổ cảm tưởng: “Một triển lãm rất đáng ngạc nhiên và thú vị.”

Nguyễn Hoàn vai Tử Hà Tiên. Ảnh: Đức Huy

Nguyễn Hoàn vai Tử Hà Tiên. Ảnh: Đức Huy

Gặp tôi nơi tiền sảnh khách sạn Century bên bờ sông Hương dịp ấy, Đức Huy tâm sự :

– Tôi mê tuồng từ tấm bé. Lớn lên, dù theo nghề nhiếp ảnh, nhưng tôi vẫn thường trăn trở: vì sao sân khấu tuồng bây giờ ngày càng vắng khán giả? Giới trẻ thời nay chưa hiểu biết về hát bội là một lý do. Lý do khác không kém phần quan trọng, là chúng ta chưa chỉ ra cái hay, cái đẹp của hát bội. Vì thế, bằng chút tài mọn, tôi cố gắng góp phần quảng bá cho sân khấu dân tộc thông qua các bức ảnh chụp mặt tuồng. Để sáng tác loạt ảnh này, tôi thường đến Nhà hát Nghệ thuật hát bội Sài Gòn cùng ăn, cùng ở với các diễn viên suốt thời gian dài. Thú thật, chụp ảnh mặt tuồng, càng chụp càng ham, đến nỗi nhiều đêm ngủ, tôi toàn mơ thấy nào Đào Phi Phụng, nào Lã Bố, nào Điêu Thuyền, nào Bao Công, nào Quách Hòe, nào Hồ Nguyệt Cô.

Hữu Nhi vai Võ Tam Tư. Ảnh: Đức Huy

Hữu Nhi vai Võ Tam Tư. Ảnh: Đức Huy

Nhà thơ, nghệ sĩ sáo trúc gốc Huế là Tô Kiều Ngân phát biểu :

– Thật thú vị khi suốt đêm ngày được đùa chơi với những bộ mặt đủ kích cỡ, đủ tính cách: người trung, kẻ nịnh, bậc quân tử, đứa tiểu nhân. Ngẫm kỹ, thấy gì? Thấy mặt tuồng cũng là mặt người, mặt đời.

Họa sĩ Đặng Thị Khuê (Hà Nội) nói :

– Ngoài giá trị nghệ thuật độc lập của tác phẩm, ảnh Đức Huy còn giúp cho những người làm công việc sáng tác như tôi hiểu thêm về một cội nguồn văn hóa.

Họa sĩ Lê Sỹ Hoàng, nhà thiết kế thời trang ở Sài Gòn, nhìn nhận :

– Được chiêm ngưỡng lại cách hóa trang trong tuồng cổ qua ảnh Đức Huy, tôi bỗng giật mình nhìn lại mình. Ông cha ta xưa đã đạt đến đỉnh cao của hội họa biểu hiện. Tôi tự cảm thấy mình nhỏ bé quá, và cần bắt đầu lại từ nhiều thứ.

Kim Thanh vai Hồ Nguyệt Cô hoá cáo. Ảnh: Đức Huy

Kim Thanh vai Hồ Nguyệt Cô hoá cáo. Ảnh: Đức Huy

Đến với các đợt triển lãm của Đức Huy, có rất đông khách nước ngoài thuộc nhiều quốc tịch: Pháp, Nhật, Anh, Ý, Úc, Thụy Điển, Hà Lan, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, v.v. Đây là lời của M.Bugdell, một du khách Pháp:

– Xét trên những khía cạnh nhất định, ví như tính tượng trưng, cách điệu, ước lệ, tuồng cổ Việt Nam quá hiện đại so với sân khấu thế giới. Đó là di sản cực kỳ quý báu mà hậu thế cần bảo tồn và khai thác. Tôi đọc được thông điệp ấy từ những tấm ảnh của Đức Huy.

Ra bộ bê. Ảnh: Đức Huy

Ra bộ bê. Ảnh: Đức Huy

Tết Nhâm Ngọ 2002, trong studio gần Đại học Vạn Hạnh cũ, nay là cơ sở 2 của Đại học Sư phạm TP.HCM, Đức Huy vẫn say mê ngắm nghía những bức ảnh tuồng mới chụp. Ngắm, rồi cắt cúp, rồi lồng ghép.

Mời tôi ly rượu đầu xuân, Đức Huy bày tỏ :

– Sắp tới, nếu có điều kiện, tôi sẽ đến Nhà hát tuồng Đào Tấn (Bình Định) và Đoàn Nghệ thuật truyền thống Huế để sáng tác ảnh. Không chỉ chụp ảnh hóa trang mặt, tôi còn dự tính chụp những cảnh tiêu biểu trong lẫn ngoài sân khấu tuồng, nhằm minh họa cho bộ sách giới thiệu những nét kỳ thú của nghệ thuật hát bội Việt Nam với đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế. Phanxipăng hợp tác cùng tôi nhé.

Đức Huy trao tặng tôi cả cuốn album dày, chứa hàng trăm ảnh tuồng. Tôi xin chọn một số tấm để giới thiệu với bạn đọc gần xa. ♥

Ra bộ hổ. Ảnh: Đức Huy

Ra bộ hổ. Ảnh: Đức Huy

_________________

(1)   Mời quý độc giả tham khảo bài Đầu xuân bói tuồng của Phanxipăng đã đăng tạp chí Kiến Thức Ngày Nay 414 (10-2-2002) & 415 (20-2-2002) rồi truyền vào weblog này:

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/09/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-i/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/10/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-ii/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/11/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-iii/

https://phanxipang.wordpress.com/2012/03/12/d%e1%ba%a7u-xuan-boi-tu%e1%bb%93ng-iv/

(2)   Kinh kịch / 京劇 / 京剧.

(3)   ACCU: The Asian Cultural Centre for UNESCO / Trung tâm Văn hoá châu Á thuộc UNESCO. 

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ số 200 (27-2-2002)

Read Full Post »

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Gửi chất vấn

Tháng 10-1993, Thảo Phương viết Chân dung tự hoạ in cuối tập thơ Người đàn bà do đàn ông sinh ra, có đoạn:

 Tôi nghĩ: thơ là cái gì đó – “muốn” cũng không được, mà “không muốn” cũng không được. Tôi không biết chắc mình có còn bài thơ tiếp hay không? Và điều đó có quan trọng không? (…) Điều quan trọng là hãy trung thực và hết mình. Thà là chạm vào ba-ri-e của chính mình rồi giã biệt.

Một chiều, ngồi với thi sĩ Thảo Phương và ca sĩ Tuấn Phong nơi quán bia gần Nhà hát lớn Sài Gòn, tôi hỏi vui:

– Trong tiếng Pháp, barrière có ít nhất 2 nghĩa: rào cản và lá chắn. Chị chạm… cái gì?

Thảo Phương nâng ly bia, miệng cười mà khoé mắt rưng rưng:

– 2 nghĩa hả? Thì Thảo Phương chạm cả 2.

Thảo Phương thăm Hàn Quốc tháng 2-2008

Thảo Phương thăm Hàn Quốc tháng 2-2008

Tháng 2-2008, ngay sau Tết Nguyên đán Mậu Tý, Thảo Phương du lịch Hàn Quốc, sục sạo kiếm tìm thi tứ giữa tuyết trắng lạnh buốt. Trở về cố hương, một thời gian sau, chị phải vào Bệnh viện nhân dân Gia Định nhằm điều trị bạo bệnh: ung thư. Đội ngũ bác sĩ bó tay, gia đình bèn đưa Thảo Phương về nhà riêng tĩnh dưỡng.

Thời khắc hấp hối, Thảo Phương trào những dòng nước mắt khi chứng kiến các con và dâu của mình, cả người chồng cũ từ Hà Nội bay vội vào, cùng một số bà con, bằng hữu.

17 giờ rưỡi chiều chủ nhật 19-10-2008, nhằm 21 tháng 9 năm Mậu Tý, tại tư thất ở quận Phú Nhuận, Thảo Phương trút hơi thở cuối cùng, hưởng dương 59 tuổi. Linh cữu Thảo Phương quàng tại Nhà tang lễ 25 Lê Quý Đôn, quận 3. Sáng 22-10-2008, sau khi hoả táng tại Bình Hưng Hoà, di cốt Thảo Phương được đưa vào bảo tháp Xá Lợi cộng đồng trong khuôn viên chùa Vĩnh Nghiêm ở 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3. Ôi, chẳng rõ nữ thi sĩ quá cố từng mấy lần chạm barrière?

Xin gửi Thảo Phương chầu bia cùng câu chất vấn:

– Hỡi tài hoa khuất bóng! Sao chỉ chạm barrière, mà không vượt qua? ♥

Một số ấn phẩm của Thảo Phương. Ảnh: Phanxipăng

Một số ấn phẩm của Thảo Phương. Ảnh: Phanxipăng

Phanxipăng

Đã đăng báo Giáo Dục & Thời Đại 240 (7-10-2013)

Mời quý bà con thưởng thức ca khúc Nỗi nhớ mùa đông do Phú Quang phổ thơ Thảo Phương:

http://www.nhaccuatui.com/tim-kiem?q=N%E1%BB%97i+nh%E1%BB%9B+m%C3%B9a+%C4%91%C3%B4ng

 

Read Full Post »

Gửi mùa đông

Thảo Phương lưu lại các phẩm thơ: Thơ Thảo Phương (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1990), Bài ca buồn (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1992), Người đàn bà do đàn ông sinh ra (NXB Văn Nghệ, TP.HCM, 1994), Khúc ca thời gian / Ballads of Time (28 bài thơ song ngữ Việt – Anh (4), NXB Văn Học, Hà Nội, 1999), Ngọn lửa của người (NXB Văn Học, Hà Nội, 2001).

Ngoài ra, Thảo Phương còn có album Nỗi nhớ mùa đông gồm 7 ca khúc phổ thơ Thảo Phương (2001), tập truyện ngắn Chiếc gạt tàn vỏ ốc (1997), kịch bản phim truyện Chim phí bay về cội nguồn (2003). Với phim này, đạo diễn Đặng Lưu Việt Bảo đã đoạt Bông sen bạc, Thảo Phương lĩnh giải biên kịch xuất sắc nhất với thể loại phim video tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XIV năm 2004 tổ chức ở Đăklăk.

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Thảo Phương. Ảnh: Nguyễn Thái Sơn

Đây, bài thơ Không đề gửi mùa đông do Thảo Phương sáng tác ở Sài Gòn tháng 8-1992:

Dường như ai đi ngang cửa

Hay là ngọn gió mải chơi

Chút nắng thu vàng se nhẹ
Chiều nay –
Cũng bỏ ta rồi

Làm sao về được mùa đông
Chiều thu – cây cầu
Đã gãy…

Lá vàng chìm bến thời gian
Đàn cá – im lìm – không quẫy

Ừ, thôi…
Mình ra khép cửa –
Vờ như mùa đông đã về.
(5)

Bài thơ ấy đã được Quốc Bảo phổ thành ca khúc Làm sao về được mùa đông, còn Phú Quang phổ thành ca khúc Nỗi nhớ mùa đông. Bài hát Nỗi nhớ mùa đông khá thịnh hành, lần lượt được trình bày bởi các giọng Lê Dung, Ngọc Tân, Quang Lý, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Thu Phương, Giáng My, Phương Thanh, Ngọc Anh, Thanh Hà, Thanh Tuấn, Tấn Minh, Lệ Quyên, Đào Bích Ngân, Hoàng Nhật Minh, Nguyễn Đình Toàn, v.v.

Noi nho mua dong

Thảo Phương còn những bài thơ khác được phổ thành chùm ca khúc: Bài ca buồn (Trần Chính phổ nhạc), Trong mưa đợi mặt trời (Ngô Huỳnh phổ nhạc), Em đi tìm (Đức Trịnh phổ nhạc), Anh đi qua đời em (Đức Trịnh phổ nhạc), Lãng du (Nguyễn Cường phổ nhạc), Cho một thời cho một người (Khánh Vinh phổ nhạc), Mùa xuân (Văn Dung phổ nhạc), Trái đất đừng cô đơn (Bảo Phúc phổ nhạc), Một thế giới yêu thương (Bảo Phúc phổ nhạc), Khát khao (Bảo Phúc phổ nhạc) (6), Dòng sông không trở lại (Bảo Phúc phổ nhạc) (7), v.v.

106

Nhận tập thơ Ngọn lửa của người có kèm CD Nỗi nhớ mùa đông gồm 7 ca khúc phổ thơ Thảo Phương do tác giả biếu vào đầu năm 2003, tôi lặng nghe, lòng cứ xuyến xao

_________________

(4)   Phan Linh Đan chuyển ngữ, Saskia Halliwell hiệu đính.

(5)   Nguyên tác rút từ tập thơ Người đàn bà do đàn ông sinh ra của Thảo Phương (NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1994, trang 130).

(6)   Khát khao do Bảo Phúc phổ thơ Thảo Phương là ca khúc chính trong phim truyện Giã từ cát bụi với kịch bản của Nguyễn Trí Công chuyển thể từ truyện Xóm lò heo, Xuân Cường đạo diễn, Hãng phim truyền hình TP.HCM / Hochiminh City Television Film Studios / TFS sản xuất năm 1997.

(7)   Dòng sông không trở lại do Bảo Phúc phổ thơ Thảo Phương là ca khúc chính trong phim truyện Dòng đời gồm 52 tập, mỗi tập 30 phút, được Lê Cung Bắc viết kịch bản và đạo diễn, TFS sản xuất năm 2000.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Older Posts »