Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Tạp ghi’ Category

Ai về cầu ngói Thanh Toàn (III)

Cầu ngói Thanh Toàn / Thanh Thuỷ / Dạ Lê qua nét vẽ của E. Gras. Tranh đăng BAVH №3-1917

Cầu ngói Thanh Toàn / Thanh Thuỷ / Dạ Lê qua nét vẽ của E. Gras. Tranh đăng BAVH №3-1917

Kiệt cấu thiên thu…

Từ ra đời đến nay, cầu ngói Thanh Toàn trải qua lắm phen tu sửa, phục chế. Phần kiến trúc, do đó cũng thay đổi ít nhiều so với nguyên trạng.

Trận bão “kinh hồn táng đởm” năm Giáp Thìn 1904 đã phá sập chiếc cầu lịch sử. Dân làng Thanh Thủy quyết định tái tạo di tích theo mẫu cũ, song thu hẹp bớt kích thước. Theo Công sứ Richard Orban (tlđd), cầu cũ dài 18,75m, rộng 5,82m. Còn cầu mới tương đương kích cỡ cầu hiện nay. Cũng theo R. Orban, lần ấy dân làng tự nguyện đóng góp được 700 đồng, chính phủ bảo hộ tài trợ thêm 250 đồng. Việc tái tạo đến năm Bính Ngọ 1906 thì hoàn tất.

Sơ đồ cầu ngói Thanh Toàn của ông Trần Đình Nghi đăng trong BAVH №3-1917

Sơ đồ cầu ngói Thanh Toàn của ông Trần Đình Nghi đăng trong BAVH №3-1917

Xem bức tranh của ông E. Gras và sơ đồ của ông Trần Đình Nghi (cháu bà Trần Thị Đạo) đăng trong BAVH 1917, chúng tôi đoán định rằng giai đoạn đó người ta chưa đưa vật liệu xi măng cốt thép làm cổng hai đầu cầu. Hạng mục này có lẽ xuất hiện vào lần tu sửa cầu năm 1956 và để “cổ kính hóa” phần nào, cánh “thợ kép” phải dụng công tô đắp lẫn khảm sành sứ các họa tiết hoa lá, mây trời, rồng, phụng, dơi, cùng hoành phi và đối liễn chữ Hán, nhại mấy motif trang trí truyền thống.

Năm 1990, cầu lại được chính quyền và nhân dân địa phương trùng tu. Ngày 23-9-1991, lễ hoàn công diễn ra đồng thời với lễ đón bằng công nhận cầu ngói Thanh Toàn là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia do Bộ Văn hóa trao tặng.

Thượng tuần tháng 11-1999, ngay sau “cơn lũ thế kỷ XX” ào ạt tàn phá cố đô, tôi kịp thời về Huế. Mấy người bạn từ phương xa điện nhắn:

– Cố gắng ghé coi cầu ngói Thanh Toàn có bị hề hần chi không.

May thay! Dù mấy ngày ngập chìm dưới làn nước bạc, cầu vẫn trụ vững qua đợt thủy tai khủng khiếp.

Cầu ngói Thanh Toàn – quà lưu niệm bằng gỗ. Ảnh: Phanxipăng

Cầu ngói Thanh Toàn – quà lưu niệm bằng gỗ. Ảnh: Phanxipăng

Phục vụ Festival Huế 2002, cầu ngói Thanh Toàn và khu vực xung quanh lần nữa được đầu tư chỉnh trang, gia cố, nhằm dàn dựng chương trình Chợ quê ngày hội. Hy vọng khách thập phương thời nay sẽ dậy lên trong lòng mối xúc cảm tương tự câu thơ người xưa từng khắc trên cầu:

Kiệt cấu thiên thu truyền thắng tích…

Vâng. Kiệt tác kiến trúc tuy quy mô khiêm tốn nhưng đậm đà phong cách bản địa chính là thắng tích quý hiếm mà tiền nhân muốn lưu truyền mãi nghìn năm. ♥

Phanxipăng bên cầu ngói Thanh Toàn dịp Festival Huế 2010. Ảnh: Tôn Nữ Cẩm Nhung

Phanxipăng bên cầu ngói Thanh Toàn dịp Festival Huế 2010. Ảnh: Tôn Nữ Cẩm Nhung

  • Phanxipăng    

Đã đăng Kiến Thức Ngày Nay số 423 (10-5-2002)

Read Full Post »

Cầu ngói Thanh Toàn năm 2006. Ảnh: Phanxipăng

Cầu ngói Thanh Toàn năm 2006. Ảnh: Phanxipăng

Tuy 3 mà 1         

Ngoài câu ca dao quen thuộc mà tôi dùng làm tiểu dẫn đầu bài viết, xứ Huế còn truyền tụng khúc hát dân gian:

                        Ai về cầu ngói Dạ Lê,

               Cho em về với thăm quê bên chồng.

Vậy phải chăng ở miền Hương Ngự, cùng với cầu ngói Thanh Toàn còn có cầu ngói Dạ Lê?

Cầu ngói Thanh Toàn năm 2010. Ảnh: Phanxipăng

Cầu ngói Thanh Toàn năm 2010. Ảnh: Phanxipăng

Đúng năm Bính Thân 1776, lúc cầu ngói Thanh Toàn được thi công, cũng là thời điểm Lê Quý Đôn (1726 – 1784) từ miền Bắc vào Thuận Hóa nhậm chức Hiệp trấn tham tán quân cơ và tranh thủ soạn thảo bộ Phủ biên tạp lục. Thử tra mục “Danh số phủ, huyện, tổng, xã, thôn, trang trại của hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam” trong bộ sách ấy (NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1977), ta biết huyện Phú Vang thuở đó gồm 6 tổng mà một tổng mang tên Dạ Lệ / Dã Lê. Tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn do Nguyễn Đình Đầu thực hiện, tập Thừa Thiên (NXB TPHCM, 1997), sẽ hay rằng tổng Dạ Lê về sau thuộc huyện Hương Thủy có làng Thanh Thủy Chánh, và tổng An Cựu cùng huyện có làng Thanh Thủy Thượng. Thực tế, đó là hai xóm Chánh Giáp và Thượng Giáp tạo nên làng Thanh Thủy, tên cũ là Thanh Toàn.

Như thế, cầu ngói Dạ Lê là gọi theo tên tổng, cầu ngói Thanh Toàn là gọi theo tên làng, đều chỉ một cây cầu duy nhất. Khi cải tên làng, tên cầu cũng biến đổi theo như công sứ Richard Orban từng ghi nhận trong BAVH 1917: le pont couvert de Thanh Thuy – cầu ngói Thanh Thủy.

Cầu ngói Thanh Toàn. Tranh lụa: Trần Duy

Cầu ngói Thanh Toàn. Tranh lụa: Trần Duy

Cớ sao Thanh Toàn chuyển thành Thanh Thủy? Số là vua Thiệu Trị húy Nguyễn Phúc Tuyền. Do đó, ngay sau khi lên ngôi vào năm Tân Sửu 1841, ngài xuống dụ ban bố kiêng dùng chữ Tuyền / Toàn. Công trình Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại của Ngô Đức Thọ (NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1997) đã chỉ rõ điều này. Địa danh Thanh Toàn phải chữa ra Thanh Thủy vì thế.

Như vậy, cả 3 tên cầu ngói Thanh Toàn, cầu ngói Thanh Thuỷ, cầu ngói Dạ Lê đều trỏ chung 1 công trình.

Năm Giáp Thìn 1844, niên hiệu Thiệu Trị thứ IV, một trận lụt lớn khiến cầu bị hư hỏng nặng. Mãi 3 năm sau, tháng 3-1847, cầu được sửa chữa. Sự việc nọ cũng được dân làng khắc vào cột cầu để ghi nhớ.

Chợ quê ngày hội. Ảnh: Phanxipăng

Chợ quê ngày hội. Ảnh: Phanxipăng

Đoạn trên, chúng tôi có trưng dẫn một tài liệu nhắc chuyện năm Ất Sửu 1925, vua Khải Định hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ bà Trần Thị Đạo ngay trên cầu. Tìm hiểu mới rõ: trước thời điểm đó khá lâu, quần chúng ở địa phương từng thiết miếu thờ bà chính giữa cầu để bày tỏ lòng tri ân vào năm Canh Thân 1860, đời vua Tự Đức. Khi hương án lập xong, Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819 – 1870) ghé viếng và đề thơ Ngõa kiều (Cầu ngói):

                        Ngõa kiều, kiều hạ thủy sàn sàn,

                        Ỷ hạm nga thi nhĩ tự nhàn.

                        Lão cảnh nan vong duy hãn mặc,

                        Thế duyên bất yếm thị khê san.

                        Thanh phong tiêu sái giang thuyên chuyển,

                        Quả phụ chưng thường miếu bán gian.

                        Hà ý tế nhân tâm nhược bối,

                        Lâm lưu vô hạn thảng suy nhan.

            Trong nội san Hương Thủy – đất nước, con người số 1-1992, Nguyễn Thanh Thọ chuyển ngữ bài thơ sang thể lục bát:

                           Dưới cầu nước chảy lững lờ,

                        Tựa cầu thi khách ngâm thơ thư nhàn.

                           Bút nghiên đeo đẳng thân mòn,

                        Duyên đời chưa chán bởi còn nước non.

                           Hây hây gió thổi sông vờn,

                        Miếu thờ quả phụ chập chờn khói hương.

                           Sống riêng ta nghĩ thẹn thuồng,

                        Mặt soi dòng nước, buồn tuôn theo dòng.

(Còn nữa)

Read Full Post »

Ai về cầu ngói Thanh Toàn (I)

Ai về cầu ngói Thanh Toàn,

Cho em về với một đoàn cho vui.

CA DAO XỨ HUẾ

Bộ tem bưu chính “Cầu mái ngói” phát hành dịp Festival Huế 2012 gồm 3 con: cầu ngói Thanh Toàn (Đỗ Lệnh Tuấn vẽ), cầu ngói Kim Sơn (Nguyễn Du vẽ), cầu ngói Hải Hậu (Nguyễn Du vẽ)

Bộ tem bưu chính “Cầu mái ngói” phát hành dịp Festival Huế 2012 gồm 3 con: cầu ngói Thanh Toàn (Đỗ Lệnh Tuấn vẽ), cầu ngói Kim Sơn (Nguyễn Du vẽ), cầu ngói Hải Hậu (Nguyễn Du vẽ)

Cầu có mái che mưa nắng là một kiểu thức độc đáo trong nền kiến trúc truyền thống của Việt Nam nói riêng, của phương Đông nói chung. Qua chuyên luận L’Art vietnamien (Nghệ thuật Việt Nam) xuất bản tại Paris năm 1955, nhà nghiên cứu Louis Bezacier đánh giá kiểu “thượng gia, hạ trì” (nhà phía trên, sông hồ bên dưới) đạt giá trị mỹ thuật cao nhất so với tất cả loại cầu cổ Việt Nam mặc dù số lượng cầu kiểu ấy khá hiếm hoi.

Ngày nay, ghé phố cổ Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam, du khách thường được hướng dẫn dạo thăm Lai Viễn kiều, tức chùa Cầu – một công trình xây dựng “thượng gia, hạ trì”. Cùng kiểu là cầu ngói Thanh Toàn ở ngoại thành Huế, một di tích văn hóa – lịch sử đặc trưng của cố đô và đã được Nhà nước xếp hạng. Kể từ Festival Huế 2002, cầu ngói Thanh Toàn gắn với chương trình Chợ quê ngày hội tạo nên điểm tham quan lý thú. Dựa vào nguồn thư tịch xưa nay, kết hợp khảo sát thực địa, chúng tôi xin điểm sơ đôi nét về di tích này nhằm góp phần thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu của đông đảo bạn đọc.ầu có mái che mưa nắng là một kiểu thức độc đáo trong nền kiến trúc truyền thống của Việt Nam nói riêng, của phương Đông nói chung. Qua chuyên luận L’Art vietnamien (Nghệ thuật Việt Nam) xuất bản tại Paris năm 1955, nhà nghiên cứu Louis Bezacier đánh giá kiểu “thượng gia, hạ kiều” (nhà phía trên, cầu bên dưới) đạt giá trị mỹ thuật cao nhất so với tất cả loại cầu cổ Việt Nam mặc dù số lượng cầu kiểu ấy khá hiếm hoi.

Cầu ngói Thanh Toàn qua bưu ảnh Pháp

Cầu ngói Thanh Toàn qua bưu ảnh Pháp

Món quà hơn 2 thế kỷ

Nằm cách trung tâm thành phố Huế chừng 8km về hướng đông, cầu ngói Thanh Toàn là một tác phẩm kiến trúc nhỏ nhắn xinh xinh từng xuất hiện hơn 2 thế kỷ trước. Đó là cây cầu gỗ dài 16,85m, rộng 4,63m, chia làm 7 gian, sàn lát ván, mái lợp ngói ống tráng men xanh lục. Trong lòng cầu, đôi bên có hai dãy bục gỗ dành cho khách bộ hành tạm nghỉ chân hoặc dân sở tại ra ngồi hóng mát. Phần lớn cấu kiện đều dùng các loại danh mộc, với nhiều chi tiết được chạm trổ rồi sơn son. Cầu còn lưu lại bao thơ phú, câu đối chữ Hán do các bậc tao nhân mặc khách “vang bóng một thời” cảm tác. Chẳng hạn:

Tế xuyên mâu bửu phiệt,

Thanh thủy thắng hồng lâu.

Tạm dịch:

Qua sông là bè quý,

Nghỉ mát ấy gác son.

Cầu ngói Thanh Toàn / Thanh Thuỷ / Dạ Lê. Ảnh: Phanxipăng

Cầu ngói Thanh Toàn / Thanh Thuỷ / Dạ Lê. Ảnh: Phanxipăng

Uốn mình cong cong, cầu nối liền đôi bờ con hói chảy ngang làng Thanh Thủy, xã Thủy Thanh, huyện Hương Thủy (1),  tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nguyên xưa, làng mang tên Thanh Toàn, thuộc địa bàn huyện Phú Vang (tên cũ là Tư Vang), đến niên hiệu Minh Mạng XV (Giáp Ngọ 1834) mới chia tách qua huyện Hương Thủy. Làng được khai canh bởi 12 vị tộc trưởng gốc Thanh Hóa vào Thuận Hóa theo chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) hồi thế kỷ XVI. Một trong những tộc ấy có người cháu gái đời thứ 6 là Trần Thị Đạo kết hôn với Cần Chánh điện Đại học sĩ – bậc quan đầu triều dưới thời vua Lê Hiển Tông (trị vì từ năm 1740 đến năm 1786, lấy niên hiệu Cảnh Hưng). Thời ấy, việc giao thông trong làng bị cách trở vì con hói. Mỗi khi cần qua lại, dân chúng phải “lụy” đò ngang, khá phiền phức. Thấy vậy, bà Trần Thị Đạo tự bỏ tiền riêng, thuê mướn thợ lành nghề về tạo dựng cây cầu này để dâng tặng quê hương. Việc thi công diễn ra vào năm Bính Thân 1776, niên hiệu Cảnh Hưng XXXVII. Cuối năm đó, biết được nghĩa cử cao đẹp kia, nhà vua ban sắc khen. Làng Thanh Thủy trân trọng giữ gìn văn bản này. Năm 1917, công sứ Pháp Richard Orban đã giới thiệu nội dung sắc chỉ của hoàng đế Cảnh Hưng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH: tập san Đô Thành Hiếu Cổ). Đây là bản dịch của Đặng Như Tùng, trích từ tập IV bộ sách Những người bạn cố đô Huế do NXB Thuận Hóa ấn hành năm 1998:

Chiếu chỉ:

            Bà Trần Thị Đạo, chánh quán làng Thanh Toàn, huyện Phú Vang, phủ Triệu Phong, là vợ của Khâm sai chủ sự Hoàng cung, tổng chỉ huy bộ binh và thủy binh, tổng đốc của ba huyện Hương Trà, Phú Vang và Quảng Điền, nhất trụ triều đình và tước Hầu.

            Bà này làm phước đức còn hơn các bà trong Đại Nội. Đời bà được mọi người khen. Danh tiếng của bà không lời ca tụng nào xứng. Bà không ngần ngại vượt qua bao mệt nhọc để theo đuổi cuộc hành trình cùng với đoàn của vua. Bà đã dũng cảm làm trọn ba nhiệm vụ của phái nữ. Bà còn để lại cho làng bà nhiều ơn huệ mà người ta cần lưu niệm.

            Dân làng được miễn các dịch vụ như sau: miễn cung cấp nhân công để bảo tồn lăng tẩm vua chúa và đền miếu; miễn động viên lính thủy, lính bộ; miễn trưng dụng thuyền bè, tuyển nài cắt cỏ cho voi ngựa ăn, tiều phu, thợ mộc đóng thuyền. Nói tóm lại, họ không phải đóng góp gì về các dịch vụ bắt buộc náo cả. Họ chỉ lo chăm sóc cầu, con suối (hói?) chảy qua và các con đường dẫn đến.

            Chiếu sắc này nhằm mục đích nêu lên khen ngợi của triều đình đối với người đã xây dựng nên cầu này và để khuyến khích người khác nên tỏ lòng rộng lượng như bà.

            Làng này sẽ biết bao sung sướng và tự hào là xứ sở của người đàn bà đáng kính trọng cao cả!

            Vậy có thể nói rằng cầu ngói Thanh Toàn là món quà đầy ý nghĩa của một nữ lưu đã cống hiến cho quốc dân đồng bào từ hơn 2 thế kỷ trước. Sách Cố đô Huế đẹp và thơ của nhiều soạn giả (NXB Thuận Hóa, Huế, 1995) cho rằng năm Ất Sửu 1925, vua Khải Định lại truy tặng bà Trần Thị Đạo danh hiệu “Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò” và hạ lệnh cho dân làng lập bàn thờ bà ngay trên cầu.

Bàn thờ bà Trần Thị Đạo trên cầu ngói Thanh Toàn. Ảnh: Phanxipăng

Bàn thờ bà Trần Thị Đạo trên cầu ngói Thanh Toàn. Ảnh: Phanxipăng

Cùng với bàn thờ ở gian giữa cầu ngói Thanh Toàn, bà Trần Thị Đạo còn có am riêng trong khuôn viên nhà thờ họ Trần cũng tại làng này.

_________________

(1) Huyện Hương Thủy được nâng cấp lên thị xã Hương Thủy ngày 9-2-2010 theo Nghị quyết 08/NQ-CP của Chính phủ.

(Còn nữa)

Read Full Post »

 

Ảnh: Phanxipăng

Ảnh: Phanxipăng

Năm mới Giáp Ngọ 2014,

Phanxipăng hoan hỷ chúc

quý bà con cùng bửu quyến

dồi dào sức khỏe,

luôn luôn an vui,

ngập tràn hạnh phúc,

liên tục phát đạt & thăng tiến

Read Full Post »

Tạm kết

Theo dõi các cuộc thi hoa hậu tầm cỡ được tổ chức với phạm vi toàn cầu, người ta đã sơ bộ lập danh sách 10 quốc gia giàu có nhất về nguồn nữ sắc:

1. Venezuela;

2. Ấn Độ;

3. Tây Ban Nha;

4. Colombia;

5. Nga;

6. Nam Phi;

7. Hoa Kỳ;

8. Pháp;

9. Thổ Nhĩ Kỳ;

10. Israel.

Cộng hòa Venezuela xứng đáng là “cường quốc tuyệt thế giai nhân” bởi chỉ cần thống kê số thí sinh đã đoạt vương miện hoa hậu thế giới lẫn hoa hậu hoàn vũ từ trước đến năm 2005, đất nước Nam Mỹ kia đang dẫn đầu với 9 nàng cả thảy.

Hoa hậu thế giới 1981 Pilín Leon (Venezuela)

Hoa hậu thế giới 1981 Pilín Leon (Venezuela)

Có năm, như 1981, hai cô gái Venezuela cùng quán quân ở hai giải cực lớn ấy: Pilín Leon (họ tên khai sinh Carmen Josefina León) là Miss World, và Irene Saez (họ tên đầy đủ Irene Lailin Sáez Conde) là Miss Universe.

Hoa hậu hoàn vũ 1981 Irene Saer (Venesuela) & hoa hậu Hoa Kỳ 1981 Kim Saelbrede

Hoa hậu hoàn vũ 1981 Irene Saez (Venezuela) & hoa hậu Hoa Kỳ 1981 Kim Saelbrede

Ấn Độ chiếm thứ nhì với số lượng sít nút: 8 nàng.

Hoa hậu thế giới 1994 Aishwarya Rai (Ấn Độ)

Hoa hậu thế giới 1994 Aishwarya Rai (Ấn Độ)

Cũng có năm, như 1994, hai giai nhân nước Ấn cùng đăng quang: Aishwarya Rai là hoa hậu thế giới, Sushmita Sen là hoa hậu hoàn vũ.

Hoa hậu hoàn vũ 1994 Sushmita Sen (Ấn Độ)

Hoa hậu hoàn vũ 1994 Sushmita Sen (Ấn Độ)

Vậy Việt Nam đạt vị thứ bao nhiêu trong bảng tổng sắp nọ?

Do hoàn cảnh lịch sử éo le, về việc tuyển chọn nữ sắc, nước ta chậm trễ trong hội nhập với cộng đồng nhân loại. Thí sinh giòng giống Lạc Hồng cũng mới bước đầu dự thi hoa hậu với bè bạn năm châu, nhiều trường hợp lại vướng trúc trắc, nên chưa đủ thông tin để thiên hạ đánh giá chuẩn xác.

Rất có thể danh sách top 10 nhan sắc thế giới tương lai sẽ có Việt Nam chăng? Viễn cảnh lạc quan đó tới sớm hay muộn do lắm yếu tố phối hợp.

Hoa hậu Việt Nam 2012 Đặng Thu Thảo giữa á hậu 1 Dương Tú Anh & á hậu 2 Đỗ Hoàng Anh. Ảnh: Ngô Bá Lực

Hoa hậu Việt Nam 2012 Đặng Thu Thảo giữa á hậu 1 Dương Tú Anh & á hậu 2 Đỗ Hoàng Anh. Ảnh: Ngô Bá Lực

Như kinh nghiệm từng mách bảo, các giai nhân nước nhà cần tích cực chuẩn bị kỹ lưỡng về nhiều phương diện trước khi tham gia những cuộc thi hoa hậu tầm cỡ. Đặc biệt quan trọng chính là bản lĩnh, bản sắc và nền tảng văn hóa của từng thí sinh. Bởi lẽ, giành được danh hiệu hoa hậu tuy khó nhưng chẳng gay go bằng việc giữ vững vương miện quý báu. ♥

Phanxipăng

Đã đăng tạp chí Thế Giới Mới 680 (10-4-2006) – 683 (1-5-2006)

Read Full Post »

Older Posts »