Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Truyện’ Category

Bìa sách “Le Ballon Rouge” của Albert Lamorisse (NXB Hachette, Paris, 1956)

Bìa sách “Le Ballon Rouge” của Albert Lamorisse (NXB Hachette, Paris, 1956)

Trên đường về, Pascal dừng chân trước một bức tranh trưng bày ở hội chợ Ferraille. Một cô bé với một chiếc vòng. Pascal ước ao có một nhỏ bạn như vậy.

Đi một quãng, trông kìa, chú gặp một cô bé thực sự bằng xương bằng thịt và giống y hệt trong tranh. Cô ta mặc váy trắng, cầm một quả bóng bay màu xanh.

Pascal muốn chứng tỏ cho cô bé biết rằng quả bóng của mình kỳ diệu biết chừng nào. Ấy thế mà quả bóng đỏ không thích bị tóm. Cô bé phá lên cười.

Pascal phát cáu: “Ứ thèm hoài công dạy dỗ quân bướng bỉnh!”, chú tự nhủ.

Đúng lúc ấy, một băng bụi đời muốn chiếm đoạt quả bóng đỏ. Thấy nguy biến, quả bóng vội bay đến với Pascal. Chú bé chụp lấy quả bóng và ù té chạy.

Nhưng những tên bụi đời khác lại xuất hiện án ngữ. Pascal buông thả để quả bóng bay bổng lên không trung. Rồi chú chạy lẩn vào đám bụi đời đang nhìn quả bóng cao bay.

Lên tít lầu cao, Pascal cất tiếng gọi. Quả bóng sà đến bên chú trước sự ngạc nhiên sửng sốt của đám bụi đời. Bấy giờ, cả hai có thể ung dung về nhà.

Hôm sau là ngày chủ nhật. Trước khi đi lễ, Pascal dặn dò quả bóng hãy ở nhà ngoan ngoãn, chớ làm đổ vỡ các đồ vật và nhất là đừng ra khỏi nhà.

Nhưng quả bóng cứ thích làm những gì mà nó muốn cơ. Khi Pascal cùng mẹ vào giáo đường, vừa ngồi xuống thì quả bóng xuất hiện và đến bên cạnh. Sự hiện diện này chả đúng nơi đúng lúc chút nào. Ai nấy đều dõi mắt theo quả bóng, chẳng còn người nào thiết đọc kinh nghe giảng nữa. Nhân viên bảo vệ đuổi cổ chú bé ra khỏi nhà thờ. Khổ thật, quả bóng không biết điều gì cả! Pascal lo ơi là lo.

Lo quá hoá… đói bụng. Nhờ còn ít tiền mẹ cho, Pascal vào cửa hàng mua chiếc bánh ngọt. Chú dặn dò:

– Bóng này! Ngoan nhé. Chờ tớ ở đây, chớ đi đâu một bước đấy.

Quả bóng chỉ bay đến một góc phố để sưởi nắng thôi mà. Nhưng thế cũng đủ xa lắm, nguy lắm rồi, vì băng bụi đời hôm qua đã phát hiện ra nó. Bọn chúng biết ngay rằng đây là thời cơ thuận tiện nhất để chiếm đoạt quả bóng. Chúng kín đáo tìm cách áp sát rồi vụt nhảy lên vồ lấy quả bóng và tẩu thoát ngay.

Rời cửa hàng, Pascal chẳng còn trông thấy quả bóng đâu nữa. Chú chạy đôn chạy đáo khắp nơi tìm kiếm. Khỉ thật, bóng lại chẳng chịu vâng lời rồi! Ắt bóng đang lang thang dạo phố. Pascal gào khản cổ, song bóng vẫn biệt tăm.

Đám bụi đời buộc quả bóng vào sợi dây thừng to, đoạn thử huấn luyện.

– Bọn ta sẽ đem quả bóng thần này đến biểu diễn ở các chợ phiên.

Tay đại ca nói thế. Rồi y xách gậy hù quả bóng:

– Đến đây lẹ lên, kẻo tao nện toác mày ra giờ!

May thay, Pascal đã trông thấy quả bóng đang tuyệt vọng kéo sợi dây thừng sau một bờ tường. Pascal cất tiếng gọi. Nghe thấy tiếng chú, quả bóng liền bay ngay về phía chủ. Pascal gỡ bóng ra khỏi dây thừng, và cùng nó chạy trốn.

Đám bụi đời tức tốc rượt theo. Chúng hò hét vang động cả khu phố, cứ như Pascal cướp bóng của chúng không bằng.

Pascal ba chân bốn cẳng chạy. Chú thầm nhủ: “Lẩn vào đám đông ắt sẽ thoát!”. Khốn thay, quả bóng đỏ rực rỡ quá, thậm chí từ xa cũng thấy rõ nữa là. Nhằm phân tán đám bụi đời, Pascal lách vào nhiều ngõ hẻm mà chú rành đường thuộc lối.

Phút sau, băng bụi đời bị sểnh con mồi. Không tài nào biết Pascal rẽ sang phải hay quẹo qua trái, chúng bèn bàn nhau chia thành từng tốp nhỏ nhằm lùng sục.

Trong giây lát, ngỡ mình cùng quả bóng đã tai qua nạn khỏi, Pascal bèn tìm một chỗ khuất để nghỉ mệt. Thình lình, ở một góc đường, chú chạm trán một tên bụi đời. Pascal quay ngoắt lại. Từ đầu đường, những tên vô lại khác ào ạt kéo đến.

Chú phóng vào con hẻm trước mặt và dông tuốt ra một khoảnh đất hoang. Đến đây, chú tin rằng mình thực sự thoát nạn.

Chưa đâu! Đám bụi đời đột ngột hiện ra tứ phía.

Pascal lại bị bao vây.

Chú liền thả quả bóng. Tuy nhiên lần này thay vì rượt theo quả bóng, bọn vô lại lại tấn công Pascal. Quả bóng đã bay khá xa, nhưng khi thấy bạn mình đang đánh nhau, nó bèn bay trở lại nơi xô xát. Băng bụi đời chuyển sang ném đá vào quả bóng.

Pascal thét tướng:

– Bay đi, bóng! Bay đi!

Nhưng quả bóng không thể đành lòng bỏ rơi bè bạn đang bị kẻ khác hành hung. Thế là một hòn đá tương vỡ quả bóng.

Trong khi Pascal khóc lóc thảm thiết trước cái chết của quả bóng thân yêu, một sự kiện vô tiền khoáng hậu diễn ra.

Từ mọi chốn, người ta thấy không biết cơ man nào là bóng với bóng bay đến rồi nối nhau thành hàng hàng lớp lớp trên không trung.

Ấy là cuộc nổi loạn vĩ đại của những quả bóng bay.

Tất cả quả bóng thảy đều đáp xuống chỗ Pascal, nhảy múa quanh Pascal, giây nhợ quấn bện vào nhau rồi kéo chú bé lên trời.

Và cuộc du hành vĩ đại vòng quanh trái đất của Pascal bắt đầu. ♥

Cảnh cuối trong bộ phim Le Ballon Rouge / Quả bóng đỏ. Thủ vai Pascal bởi Pascal Lamorisse – con trai của Albert Lamorisse

Cảnh cuối trong bộ phim Le Ballon Rouge / Quả bóng đỏ. Thủ vai Pascal bởi Pascal Lamorisse – con trai của Albert Lamorisse

● Bản Việt dịch cùng tranh minh hoạ của Phanxipăng

đã đăng tạp chí Sông Hương 2 (3 & 4-1992)

● Quý bà con có thể xem phim Quả bóng đỏ dài 34 phút do Albert Lamorisse đạo diễn:

Read Full Post »

Albert Lamorisse chào đời ngày 13-1-1922 tại Paris (Pháp), và từ trần ngày 2-6-1970 tại Teheran (Iran). Đó là một nghệ sĩ Pháp đa tài. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện Le Ballon Rouge / The Red Ballon / Quả bóng đỏ do Albert Lamorisse sáng tác rồi dựng thành phim màu màn ảnh rộng năm 1956, liên tục đoạt nhiều phần thưởng lớn vào niên điểm nọ: Huy chương vàng Điện ảnh Pháp, Cành cọ vàng Festival de Cannes, Giải Oscar dành cho kịch bản xuất sắc. Phanxipăng chuyển thiên truyện đẹp-như-cổ-tích này từ nguyên tác tiếng Pháp sang Việt ngữ.

Tranh mực xạ: Phanxipăng

Tranh mực xạ: Phanxipăng

T

huở ấy có một chú bé tên Pascal. Chả có anh chị em gì cả, nên chú sống thui thủi cô độc trong nhà rất chi là rầu ri rầu rỉ.

Một hôm, chú đưa về một con mèo hoang, và ít lâu sau, một con chó hoang nhỏ xíu. Nhưng mẹ chú bảo rằng mấy giống vật này quá ư dơ bẩn. Thế là Pascal lại phải lúc thúc một mình một bóng trên sàn nhà loáng bóng.

Rồi sớm mai kia, trên đường đi học, chú trông thấy một quả bóng bay màu đỏ rất xinh bị vướng trên cột đèn. Pascal bèn đặt cặp xuống đất,  leo lên gỡ lấy quả bóng, đoạn chạy ào ra bến xe buýt.

Nhân viên bán vé am tường luật lệ lắm:

“Không cho lên xe buýt: hoặc chó, hoặc hành lý cồng kềnh, hoặc những quả bóng bay.”

Ai có chó thì đi bộ.

Ai có hành lý cồng kềnh thì đi tắc xi.

Ai có bóng phải buông thả.

Pascal không muốn thả quả bóng. Bởi vậy, nhân viên rung chuông và xe buýt lăn bánh mà không chở chú bé.

Trường ở xa. Khi Pascal đến nơi, cổng trường đã đóng. Đi học muộn mà đèo bòng thêm quả bóng nữa: quả là chuyện chưa ai từng thấy! Pascal cũng lấy làm áy náy vô cùng.

Chú bé nẩy ý định gửi quả bóng cho bác gác dan lúc ấy đang quét sân. Vì đây là lần đầu Pascal đến lớp muộn nên chú bé không bị phạt. Bãi học, bác gác dan lấy quả bóng cất hộ trong lều trả lại chú bé.

Trời đổ mưa. Pascal phải cuốc bộ về nhà bởi cái luật lệ khó chịu kia của xe buýt. Chú lại không muốn để quả bóng bị ướt nên xin núp nhờ dưới ô dù của một cụ già, và cứ thế, “quá giang” hết ô này đến ô khác, chú cùng quả bóng cũng về được đến nhà.

Mẹ của Pascal lo âu lắm lắm. Rốt cục, bà cũng an lòng khi thấy chú bé trở về. Đến lúc biết ra rằng chính quả bóng làm con mình trễ nãi, bà đùng đùng nổi giận giật phắt quả bóng, mở cửa sổ và ném ra ngoài.

Bình thường, ta thả quả bóng thì nó bay biến. Song quả bóng của Pascal vẫn lởn vởn bên ngoài cửa sổ. Qua khung cửa kính, Pascal và quả bóng nhìn nhau.

Chú bé ngạc nhiên thấy quả bóng ở lại. Nhưng chả ngạc nhiên lắm đâu. Người bạn thân có thể làm bất kỳ điều gì cho ta, còn nếu đấy là quả bóng thì tất nhiên đời nào nó bay đi. Pascal sè sẽ mở cửa sổ, đón lấy quả bóng và đem giấu nó trong phòng mình.

Mai lại, trước khi đi học, Pascal cẩn thận mở cửa sổ cho bóng ra. Chú dặn dò quả bóng đến với chú khi chú gọi.

Pascal xách cặp, hôn mẹ, rồi xuống cầu thang.

Ra ngoài phố, chú kêu lên:

– Bóng ơi! Bóng à!

Ngay tức khắc, quả bóng bay về phía chú.

Và quả bóng bắt đầu theo Pascal, không bị ràng buộc gì cả nhé, cứ như một con chó lẽo đẽo chạy theo chủ vậy. Nhưng, cũng như chó, quả bóng chả chịu vâng lời lắm đâu. Khi Pascal muốn nắm quả bóng để qua đường, bóng lại vụt bay lên.

Vờ không thèm quan tâm đến quả bóng nữa, Pascal qua đường như chẳng có bóng, rồi chú núp vào một góc phố. Quả bóng lo lắng, vội vội vàng vàng tìm cho ra Pascal.

Đến trạm xe buýt, Pascal căn dặn:

– Bóng này! Theo tớ cho khéo nhé, coi chừng lạc xe đấy!

Thế là thiên hạ mục kích một hiện tượng vô cùng kỳ lạ diễn ra trên đường phố Paris: có một quả bóng bay chập chờn theo sau một chiếc xe buýt.

Đến trường, ô kìa, quả bóng lại không muốn bị chụp bắt. Vì chuông đã reo và cổng sắp đóng, Pascal buộc phải vào, trong dạ băn khoăn quá đỗi.

Quả bóng bay vượt qua tường và… đến xếp hàng sau lũ trẻ.

Thầy giáo hết sức kinh ngạc khi thấy bỗng dưng xuất hiện tên học trò mới kỳ quái này. Nó cứ khăng khăng không muốn vào lớp làm lũ trẻ la ó ầm ĩ khiến ông hiệu trưởng phải đến kiểm tra xem vụ việc gì xảy ra.

Ông hiệu trưởng thử chụp bắt quả bóng để ném ra cửa. Không được. Ông chụp tay Pascal và lôi chú bé đi. Quả bóng rời khỏi lớp, bay theo.

Không biết xử lý Pascal sao cả, trong khi đang bận công chuyện phải đến toà đô chính nên ông hiệu trưởng tạm giam chú bé trong văn phòng.

“Quả bóng chết tiệt – ông hiệu trưởng tự nhủ – sẽ ở lại trước cửa với thằng nhóc.”

Nhưng ông nhầm, quả bóng quyết định khác hẳn. Vừa thấy ông hiệu trưởng đút chìa khoá vào túi áo, nó liền bám theo ông ra đường. Dân trong khu phố vốn quen biết ông hiệu trưởng, thấy ông đi qua với quả bóng kè kè bên người, họ đàm tiếu:

– Hiệu trưởng hiệu triếc gì mà nghịch ngợm quá, chả nghiêm túc chút nào. Một nhà mô phạm, ai đời lại nô đùa như trẻ nít!

Ông hiệu trưởng đáng thương gắng sức chụp bắt quả bóng nhưng toi công, ông đành cam chịu như thế mà đến toà đô chính. Rồi ông trở về, quả bóng vẫn lì lợm đeo theo. Để tống khứ vật chướng ngại này, ông hiệu trưởng buộc lòng phóng thích Pascal và thở phào nhẹ nhõm khi thấy hai của nợ cùng ra đi.

(Còn nữa)

Read Full Post »

U hóa

           

Tranh mực xạ: Phanxipăng

Tranh mực xạ: Phanxipăng

            Đầu xuân Ất Hợi 1995, nhiều bạn bè Việt kiều về nước ăn Tết đã ghé thăm tôi. Trong số này, Lợi là người khiến tôi băn khoăn suy nghĩ mãi.

            Thuở trước, thời trung học, tôi và Lợi cùng trường chung lớp. Sau, Lợi qua Liên Xô, theo học khoa Chế tạo máy nông nghiệp tại Đại học Bách khoa Kirovograd thuộc nước Cộng hoà Ukraina. Tốt nghiệp, Lợi lưu lại Ukraina nhận công tác và vui vẻ “kết tóc se tơ” với một nàng bản xứ. Đến nay, đã hai mặt con, gia đình Lợi mới đề huề về thăm quê nội.

            Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình… Bạn cũ, lâu năm gặp lại, mừng quá là mừng. Song, chẳng thể nào san sẻ niềm hoan hỷ một cách trọn vẹn với vợ con bạn được. Lý do: họ hoàn toàn không hiểu tiếng Việt! Tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, họ cũng chẳng tường!

            Lợi nói:

            – Bà xã và hai nhóc chỉ xài tiếng U thôi!

             Tôi thắc mắc:

            – Sao bạn không dạy tiếng Việt?

            Lợi nhún vai:

            – Ối trời! Thời gian đâu? Suốt ngày, mình đến xí nghiệp làm. Rồi còn chạy vạy “mánh mung” thêm để đảm bảo kinh tế gia đình, chứ lương tiền bên đó mạt lắm!

            – Bạn có thường xuyên theo dõi tin tức quê nhà?

            – Có. Không kể thư từ bên này gửi sang, chủ yếu nhờ báo tiếng Nga hoặc tiếng U, mình vẫn quan tâm đến sự thay đổi của quê hương. Cả thành phố Kirovograd chỉ có bốn người Việt, hỏi ai hơi đâu phát hành báo chí Việt ngữ để mình mua đọc?

            Tôi mời gia đình Lợi dự bữa cơm thân mật tại một phạn điếm nho nhỏ ở ngoại thành. Nơi đây, bảng hiệu lẫn thực đơn đều được ghi song ngữ: Việt và Hán. Trao đổi với khách, người nhà hàng dùng tiếng Việt. Trò chuyện cùng nhau, họ sử dụng tiếng Quảng Đông.

            Tôi bảo:

            – Khu vực Chợ Lớn đông đảo người Việt gốc Hoa, thôi chả bàn. Còn địa phương này, theo tớ biết thì hiếm người Tàu sinh sống. Ông chủ nhà hàng đây là người Hoa nhưng lấy vợ Việt. Vậy mà truyền thống văn hoá gốc, thể hiện rõ nhất bằng ngôn ngữ, như chúng ta nghe thấy đó, ông vẫn cố giữ. Cũng cần thêm: những đứa con của ông chủ đây đều học trường Việt, nhưng chắc chắc chúng không mù chữ Hán đâu à.

            Tôi lại đưa cho Lợi xem tấm thiệp xuân với dòng chữ: “Nhân dịp Tết dân tộc cổ truyền, chúng cháu kính chúc bác cùng quý quyến một năm mới hạnh phúc, an khang và thịnh đạt”. Thiệp vừa được gửi từ Lille, thành phố thuộc miền bắc nước Pháp.

            Tôi thêm:

            – Chắc Lợi còn nhớ Công? Thằng Công “ngáo” í. Hiện giờ, nó ở Tây, lấy vợ đầm, cũng được hai nhóc rồi. Nét chữ trong thiệp do chính tay đứa con của Công viết để gửi tớ.

            Lợi cầm tấm thiệp, nhíu trán hồi lâu. Bỗng dưng, Lợi bật ra một tràng tiếng U, đoạn oà khóc.

Phanxipăng

          Đã đăng:

  • Giáo Dục & Thời Đại chủ nhật 10 (5-3-1995)
  • Áo Trắng 18 bộ mới (15-2-2008)

Read Full Post »

Cô giáo đầu đời

Tranh bút sắt: Bửu Chỉ

C

 ô giáo đầu tiên trong đời tôi chính là cô Tấm. Không phải cô Tấm cổ tích tịch tình tang đâu. Mà là một cô Tấm bằng xương bằng thịt ở vùng đất Nhắc Kà Kò ngày xửa ngày xưa, nơi tôi từng sống suốt một thời học trò dạt dào kỷ niệm.

Địa danh Nhắc Kà Kò chắc khó tìm thấy trên bản đồ, vì đó là một buôn bản quá ư nhỏ bé nằm sâu tuốt luốt trong khu vực rừng núi K’ru. Nơi ấy, dân cư rất thưa thớt, chủ yếu là người thuộc các sắc tộc Xa-o và Fi-a.

Cô Tấm, gọi cho đầy đủ cả họ lẫn tên là Dương Thị Hồng Tấm. Sau này tôi mới biết từ thuở vừa lọt lòng, cô được cha mẹ “xem mặt đặt tên” Hồng Tâm. Khốn nỗi, tay nhân viên đánh máy tại địa phương chớp chớp loà loà chọt thêm dấu sắc nên Tâm hoá ra Tấm. Thì cũng hay hay. Nghe đượm phong vị dân gian làm sao!

Cô Tấm vốn dân thành phố chính hiệu đồng bằng. Song, cô chịu khó lội suối trèo đèo lên xứ Nhắc Kà Kò xa tít mù tắp này nhằm phục vụ một sự nghiệp vô cùng cao cả: sự nghiệp “xoá nạn mù chữ” lúc bấy giờ được phát động mạnh mẽ trên toàn quốc.

Lần đầu gặp tôi bên con suối T’lao nước chảy ào ào, bằng cái giọng thanh như chim cà lơ, cô Tấm hỏi:

– Anh là người Xa-o hay Fi-a?

Yàng ơi! Cô ngỡ tôi là đồng bào dân tộc thiểu số ư? Ừ, cũng phải thôi. Da tôi đen thủi đen thui như cục than hầm. Tóc tai rối bù khét nắng. Môi má thâm sì vì sốt ngã nước. Mình mẩy thì trần trùi trụi, chỉ “diện” mỗi một cái khố đóng bằng vải bao cát. Chân đất. Còn tay thì cứ lăm lăm món vũ khí sở trường: cây nỏ lên nước láng boong.

Thấy tôi đứng ngẩn tò te, đực mặt ra và giương cặp mắt cua đá nhìn sững mà chẳng nói năng chi, cô Tấm lại hỏi:

– Anh biết tiếng Kinh chứ?

Tôi gật.

– Sao anh không trả lời?

Tôi lắc.

– Tại sao vậy?

Tôi nhe hàm răng cải mả cười hề hề rồi bất ngờ hú vang một tiếng làm cô Tấm giật bắn người. Nhoáng phát, tôi lao ùm xuống suối T’lao và lặn mất tăm.

“Tại sao vậy?”. Yàng ơi! Trả lời thế nào được? Tại… Bởi… Do… Vì… Hì hì…

                        ●

Sau một thời gian vận động tích cực, lớp xoá nạn mù chữ đầu tiên của xứ Nhắc Kà Kò được khai giảng. Gọi lớp cho oai, chứ học sinh chỉ lơ thơ dăm mống. Và mống nào mống nấy đều lớn sầm sầm: nếu tính theo mùa trỉa bắp thì tuổi cô giáo ít hơn là cái chắc.

Cô Tấm hỏi:

– Anh tên gì?

Tôi đáp:

– Văn.

Cô Tấm cười, chao ôi, nụ cười đẹp như hoa pì-u:

– Zăng à? Gọi anh là Tác-zăng nhé. Trông anh rất giống Tarzan trong phim xi nê lắm cơ!

Thuở ấy, tôi nào biết Tác-zăng Tác-ziếc là cái mốc xì gì. Nhưng nghe gọi ngồ ngộ, tôi cũng thấy khoái, gật luôn. Và bắt đầu học chữ.

– Tròn vo như quả trứng gà là gì?

– Là… quả trứng vịt.

– Lại quên rồi! Là chữ o. Chữ o. Nhớ nhé, anh Tác-zăng! Ô thì đội nón, ơ thêm gì nào?

– Thêm… ơ… thêm ớt… muối ớt…

– Trời hỡi! Thêm râu. Ơ thì thêm râu. Sao anh chóng quên thế?

Giá cô Tấm bảo tôi cắp nỏ vào rừng, cam đoan chỉ chốc lát thôi, tôi sẽ gùi về cả chục chú sóc. Hoặc cô trỏ cho tôi bầy chim hak’nay đang bay cao tít, tôi sẽ bật nỏ hạ rụng ngay một con cho xem. Dễ như uống rượu cần. Còn học chữ, ôi chao, sao khó khủng khiếp! Suốt tuần liền, đến mướt mồ hôi, tôi vẫn chưa phân biệt nổi o, ô, ơ. Ơ thì thêm râu! Quái, râu gì mọc trên thái dương nhỉ?

Song, tôi vẫn cố kiên trì, dù học sinh cứ “đào tẩu” dần gần sạch. Cuối cùng, lớp chỉ còn hai đệ tử người Kinh là tôi và thằng Giăng. Thằng này được cô Tấm gọi là Giăng Vanh-zăng để tránh nhầm với Tác-zăng tôi. Còn bọn Fia-a và Xa-o dẫu cho… muối cũng nhất định kiếu: “Học nhức cái đầu lắm a! Thêm đói cái bụng nữa a!”.

Rốt cuộc, tôi cũng thuộc được bảng chữ cái. Mỗi tội, mấy mẫu tự n và m, tôi cứ lộn tùng phèo:

– Anh rờ. Em sờ.

– Tầm bậy! Anh nờ. Em mờ.

Mặt cô Tấm đỏ phừng. Có lẽ cô bực mình lắm vì dạy mãi mà cái đầu đá ong của tôi vẫn cứ đá ong. Tai tôi cũng nóng bừng. Tôi thầm rủa mình ngu như lợn lòi, chỉ bấy nhiêu mà cứ lộn lên lộn xuống hoài. Này! Móc đôi là anh nờ. Móc ba là em mờ. Còn móc tư là gì hỉ?

– Anh có hai con gà. Anh ăn thịt mất một con. Hỏi anh còn mấy con gà?

– Còn cả bầy.

– Sao lại còn cả bầy?

– Tui ăn con gà trống, để con gà mái lại. Hắn đẻ ra cả bầy mấy hồi.

– Trời ơi là trời!

Khổ thân cô Tấm! Tuy nhiên, dù cả lớp chỉ còn hai học trò, cô vẫn hết lòng dạy dỗ. Đúng là dạy và dỗ. Bởi tôi từng lắm phen nổi máu “du canh du cư” bất tử. Nói theo ngôn ngữ của các bạn học sinh sinh viên thành thị là “cúp cua” í mờ! Như có hôm bỗng dưng nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già quá thể, tôi bèn cắp nỏ vô rừng. Chạy, nhảy, bơi, leo một ngày: thật phỉ! Tới hồi đang lúi húi nướng cặp thỏ vừa bắn được, chợt tôi nghe tiếng gọi rân:

– Táác… zăăăng… ơơơơi!!!

Té ra trọn ngày cô Tấm nhờ thằng Giăng Vanh-zăng dẫn lối băng ngàn xục xạo kiếm tìm. Mãi xế chiều, gặp được tôi, phần vì mệt, phần vì giận, cô nghẹn ngào trào lệ. Tôi thấy thương cô quá, nhất là khi nhìn tay chân cô xây xước vì vướng gai góc. Không biết làm sao cả, tôi bèn… xé đùi thịt thỏ thơm phưng phức mà đưa:

– Ăn cho đỡ nhọc, cô.

– Tôi không cần… – cô Tấm vừa nói vừa gạt nước mắt – tôi chỉ cần anh… hic… cần anh chăm học… hic… hic… hic… chăm học… hic… hic… mà thôi!

Sẵn con dao quắm đang đeo bên hông, tôi rút ra và bập một phát vào bắp chân mình xịt máu:

– Kể từ nay, tui không trốn học nữa. Tui thề!

                        ●

Tôi học tiến bộ trông thấy. Ngày cầm tờ báo đọc được ro ro, Yàng ơi, tôi mừng khôn xiết! Nhưng có một người tỏ ra mừng hơn cả tôi nữa: cô Tấm.

Cô Tấm may một chiếc sơ mi trắng lốp làm phần thưởng cho tôi – học sinh tốt nghiệp thủ khoa. (Tôi thủ khoa là lẽ đương nhiên, là kết quả vô cùng dễ hiểu, bởi thằng Giăng Vanh-zăng chưa thạo tính cộng đã phải đứt gánh học hành vì phải… lấy vợ!). Nên nhớ rằng ở vùng đất Nhắc Kà Kò thì đào đâu ra máy may, do đó cô phải thức non tuần liền để khâu tay đó nhá!

– Tôi sẽ may thêm vài cái nữa biếu anh.

Nghe cô Tấm bảo thế, tôi ngạc nhiên:

– Làm chi nhiều vậy, cô?

– Để sang năm, tôi giới thiệu anh về học tiếp ở trường bổ túc văn hoá.

– Thôi. Biết đọc, biết viết, đủ rồi. Học nhiều, nhọc!

– Học chừng ấy đã đủ đâu. Cần học nữa, anh Tác-zăng ạ. Anh rất thông minh, tôi tin anh sẽ tiến xa.

Tháng ngày tiếp đó, cô Tấm kèm cặp tôi nhiều môn. Những lần về đồng bằng thăm nhà lên, cô mua cho tôi hàng lố sách báo. Tôi đọc say sưa, có khi quên ăn ngủ. “Càng học càng thấy dốt!”. A, cuộc sống có biết bao điều mà bấy lâu tôi mù tịt – ngay lắm vấn đề thuộc bản thân mình nữa kìa!

Một sớm nọ, cô Tấm vào rừng hái nấm, có tôi cùng đi. Khi ngồi nghỉ dưới gốc cây b’rop đầy xác hoa vàng rực, tôi chất vấn:

– Dạy học cực lắm phải không cô? Nhất là lên tận mạn ngược vầy.

– Vất vả. Nhưng tôi thích, vì thấy hạnh phúc.

– Thế nào là hạnh phúc?

Im lặng giây lâu, cô Tấm đáp:

– Biết giải thích sao nhỉ? Có thể quan niệm đơn giản thế này: làm được nghề nghiệp hợp với mình và yêu được người hợp với mình thì đấy là hạnh phúc.

– Cô đã yêu được người hợp với mình chứ?

Cô Tấm khẽ lắc đầu, thở dài. Tôi hiểu ra:

– Như vậy cô chỉ đạt một nửa hạnh phúc?  

Cô Tấm cười buồn:

– Hạnh phúc làm gì có phân số, anh Tác-zăng?

Tôi vốc nắm hoa b’rop mà vò nát và suy nghĩ… suy nghĩ…

– Sách, anh đọc hết rồi à? – cô Tấm chợt hỏi.

– Hết trơn. Có cuốn, tui đọc tới đọc lui đến thuộc lòng từng đoạn.

– Mai tôi về thành phố khuân lên cho anh nhiều thật nhiều sách báo, nhé.

– Đừng về nữa, cô.

– Phải có sách báo để anh đọc chứ.

– Không. Tui không cần gì cả! Tui không ưng cô về chút nào!

– Sao cơ?

Trả lời thế nào được? Tôi muốn bày tỏ rằng tôi cần sách báo. Rất cần. Nhưng… hễ xa cô một ngày, chỉ một ngày thôi, giờ đây tôi buồn chết được. Song tôi chả biết diễn đạt điều ấy cách gì cho phù hợp. Hỡi cô Tấm, mắt cô sao nhìn tôi đăm đắm nhường kia?

– Tôi đã sắp xếp hành lý rồi. Chuyến này tôi về hơi lâu, chừng một tháng.

– Yàng ơi! Đừng về! Tui van cô!

– Sao cơ?

– Tui… tui… nhớ cô… chịu không nổi!

Thốt xong lời ấy, tôi gục đầu vào vai cô Tấm. Và bật khóc.

 

Phanxipăng

Đã đăng:

  • Áo Trắng số 27, tháng 11-1992
  • Giáo Dục Và Thời Đại chủ nhật 23-6-1996

Rồi in trong tập truyện Bụi phấn bay bay của nhiều tác giả (NXB Trẻ, 1998)

Read Full Post »

CHƯƠNG IV

111 năm sau trận sống mái nhất sinh nhất tử ở dinh Khâm sai Bắc thành.

Nục Chuối, một làng chài tại miền Đông Nam Bộ, cách làng Ngừ ở miền Trung chừng nghìn hải lý.

Thực hiện quyết định quy hoạch lại địa bàn, Uỷ ban Nhân dân địa phương ra lệnh cải táng toàn bộ khu nghĩa trang cuối làng Nục Chuối để lấy mặt bằng nhằm xây dựng xí nghiệp nuôi trồng và chế biến hải sản xuất khẩu.

Những ngôi mộ có thân quyến lo toan thì không nói làm gì. Còn những nấm mồ vô thừa nhận, hỏi phải làm thế nào? Một toán phu mai táng chuyên nghiệp được điều đến để giải quyết.

Trong những nấm mồ vô chủ ở nghĩa trang làng Nục Chuối, có một cái mà ngư dân ở đây thường gọi “mả mệ”. Đó là nắm đất sè sè trong vòng tường thấp. Tường xây sơ sài bằng đá ong và vôi vữa, phơi mình qua bao tuế nguyệt nên đen xì rêu mốc.

Nấm mồ nhỏ bé nhường kia, sao lại gọi “mả mệ” kìa?

Chẳng rõ. Tên gọi này có tự đời nảo đời nao. Xưa bày, nay bắt chước, chứ chẳng ai chịu khó truy tìm xuất xứ.

Nằm ở vị trí khá riêng biệt, “mả mệ” luôn rợp mát dưới bóng râm của một tàng cổ thụ. Trên cây, lắm loài thực vật tầm gửi bám đầy. Nhiều nhất là lan Nghinh xuân. Giống phong lan tuyệt diệu này do người trồng hay tự mọc nơi đây?

Cũng không biết. Chỉ biết rõ rằng mỗi độ Tết Nguyên đán, cả khối hoa khổng lồ long lanh trắng tím và thơm ngát cả vùng.

Lan Ngọc điểm còn được gọi lan Nghinh xuân. Ảnh: Phanxipăng

Nắm đất sè sè này ken dày cỏ lác. Phía trước có tấm bia nho nhỏ bằng đá hoa cương. Mặt bia được chạm nguệch ngoạc ba dòng, gồm chín chữ nho vẻn vẹn:

弟七代

掌門人

玉點派

Phiên âm:

Đệ thất đại

Chưởng môn nhân

Ngọc Điểm phái

Không khắc tục danh. Không chạm sinh quán lẫn trú quán. Chẳng ghi ngày và nơi tạ thế. Cũng chẳng có lạc khoản đề người phụng lập.

Khi quật mả lên, người ta phát hiện quan tài chưa mục nát mà nguyên vẹn gần như mới. Lạ quá nhỉ? Kỳ lạ hơn là quan quách trống trơn. Xương tóc chẳng có, dẫu một mẩu bé tẹo. Đến cả chút tro tàn cũng không nốt.

Những phu mai táng kể:

– Vừa bẩy quách ra, ai nấy đều giật thót mình. Nhiều năm hành nghề nhưng chúng tôi chưa hề chứng kiến sự lạ lùng vậy bao giờ.

– Lạ lùng thế nào?

– Chả có gì trong quan tài cả. Chính xác hơn thì có một… cuộn khói.

– Ồ! Một cuộn khói ư?

– Vâng, chỉ một cuộn khói bay lên. Khói màu trắng lốm đốm tím và thoang thoảng thơm, y hệt màu với mùi lan Ngọc điểm! ♥

Phanxipăng

Đã đăng Hoa Học Trò từ số 63 (30-6-1994) đến số 67 (15-8-1994)

Read Full Post »

Older Posts »